T.Vấn

& Bạn Hữu

Văn Học và Đời Sống

Trần Vấn Lệ: ĂN CỦA RỪNG RƯNG RƯNG NƯỚC MẮT (THƠ)

Share on facebook
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Xin Bấm Vào Đây:

ĂN CỦA RỪNG RƯNG RƯNG NƯỚC MẮT (THƠ)

THAY LỜI TỰA

RỪNG ƠI …

Đà Lạt, nhà và rừng …

Ngôi nhà màu hồng, trồng nhiều hoa xen giữa lối đi trải đầy sỏi trắng, nằm giữa đồi thông xanh mát nghe lá hát quanh năm. Khe suối nhỏ nước trong vắt cuối chân đồi róc rách hoài một khúc nhạc hiền hòa, những gốc sim thâm thấp nở đầy hoa tim tím, những bụi quỳ nở vàng bông vào mùa đông …

Chị em tôi được sinh ra và lớn lên ở đó, ngôi nhà có đầy đủ Ba Mẹ, có cả hàng dãy dài chuồng chim bồ câu được sơn nhiều màu đẹp mắt…

Trong tiềm thức của mình, tôi thấy lại một quãng đời bình yên của gia đình, một tuổi thơ hồn nhiên của tôi.

Bình yên với tất cả những gì thiên nhiên ban tặng cho con người và con người cũng biết ơn, giữ gìn, nâng niu, trân trọng Mẹ Thiên Nhiên.

Chị Trinh kể tôi nghe, vào mùa Thu, chị thường xách chiếc giỏ mây ra đồi hái nấm. Mùa này nấm mọc rất nhiều sau những cơn mưa dài. Nấm kaki màu tím ửng hồng, thân nấm mập mập xinh xinh. Nấm hột gà trông như cái trứng non, màu vàng tươi dễ thương … Chị bảo: không phải chỉ để ăn ngon mà chị thích cái cảm giác khi tìm thấy nấm, mắt sáng lên, tay vạch đám lá thông già rụng dày và hái chiếc nấm xinh bỏ vào chiếc giỏ cũng xinh xinh. Nấm mùa nào cũng nhiều, vì thông luôn ken dày lớn lên bên nhau. Ngoài đồi thông của nhà mình, chị và các bạn còn đi xa hơn vào các rừng thông để tận hưởng thú vui này. Ôi thật tuyệt vời!

Tôi còn nhỏ, chỉ biết loanh quanh cùng các bạn trong xóm chơi trò bán hàng ở đồi thông nhỏ sau nhà.

Lớn lên một chút, có khi thay buổi sinh hoạt đoàn Hùng Tâm Dũng Chí vào chủ nhật hàng tuần, chúng tôi được picnic ngoài Đồi Cù. Khoảng thời gian sinh hoạt tự do ngắn ngủi, “bọn nhóc” đoàn viên chúng tôi thích nằm dài bên nhau ngửi mùi thơm ngai ngái, khen khét của lá thông, nhựa thông quyện với sương trời, cây cỏ mà mơ mộng bao nhiêu chuyện thần tiên trên đời …

Những ngày dài sau tháng 4/1975, nhiều người dân Đà Lạt bỡ ngỡ với cuộc sống khác. Gia đình tôi không ngoại lệ.

 Chị Trinh tôi theo nhà chồng di tản trở về. Nhà cửa trống hoác. Cuộc sống khó khăn với bao khắc khoải. Chị và anh rể tôi, người đàn giỏi hát hay và nói tiếng Anh trôi chảy bây giờ càng không có việc gì để làm, bắt đầu lao vào tìm đủ kế mưu sinh. Tôi nhớ hình ảnh anh chị vác từng bao cát nhỏ hạt dẻ mua được từ phía rừng Cam Ly, mang về luộc hoặc rang rồi mang đi ngồi bán lẻ.

Rừng lúc này thật sự đã mang lại nguồn sống cho nhiều cư dân Đà Lạt. Sáng sớm, họ vào rừng nhặt hạt dẻ, đến chiều tối mới ra và bán cho những người đang chờ đợi ở cửa rừng. Anh chị tôi hay đứng đợi ở khúc quanh trước Lăng Nguyễn Hữu Hào. Thời gian này, tôi hay nghe chị kể chuyện ma là nhiều nhất. Hú hồn.

Có lẽ cũng khó ai quên một hình ảnh đẹp của Đà Lạt, đó là những gùi củi ngo trên lưng người bản địa đi theo hàng một trật tự từ các hướng Thái Phiên ra Hồ Xuân Hương, hướng Langbiang ra đi trên con phố xưa Phan Đình Phùng, từ Tà Nung ra thì cũng qua Lăng Nguyễn Hữu Hào, qua thác Cam Ly nhưng họ cũng chẳng có tâm trí nào mà nghe thác “khóc tình đầu dang dở”… Họ cắm cúi đi, ít khi ngẩng mặt, mong sau buổi chợ kiếm được ít tiền mua gạo, cá khô về nuôi những đứa con đang đói đợi ở nhà và mai sớm họ lại phải vào rừng. Tiếng dao lại chan chát vang lên trong rừng thông hai lá …

Mỗi ngày, lớn thêm một chút, tôi càng yêu rừng nhiều hơn. Nhất là những cánh rừng Đà Lạt chập chùng xanh ngát tuổi thơ tôi…

***

Rừng và Quê Hương thứ hai …

Một ngày Đà Lạt nhiều sương mù, tôi xếp vội sách vở quần áo, lên xe cùng gia đình buồn bã rời nơi chôn nhau cắt rốn đi về vùng Kinh Tế Mới.

Tôi, con nhỏ mười tuổi khờ khạo, yếu ớt luôn được chăm chút suốt chuyến đi.

Nơi chúng tôi đến và sẽ ở lại là những khu rừng bạt ngàn cây dầu to bằng hai vòng tay ôm của tôi, bạt ngàn hoa dại. Trong mắt con bé hay mơ mộng như tôi, rừng lúc đó quả thật tuyệt vời. Những cây hoa nắp ấm diệt côn trùng lấp lánh sương mai, những trái trâm chín mọng, trái chòi mòi chua chua chát chát, xoài rừng thơm thơm mà đầy mủ chua lè, …

Buổi sớm tinh mơ nào tôi cũng nghe tiếng chuông nhà thờ đổ và bật dậy theo thói quen. Những hồi chuông ký ức của tôi …

Tôi nhỏ quá, làm sao biết đến những hiểm nguy đang rình rập, làm sao biết đến cái đói rét sẽ đến với mọi người trong những ngày tháng tới…

Mẹ đi cắt cỏ tranh cao gấp đôi đầu người về cho anh tôi – một cựu học sinh trường Trần Hưng Đạo tập đan thành từng tấm lợp. Anh Hiển vốn khéo tay nên việc này không khó, bây giờ nhớ lại tôi hết sức khâm phục anh, vì lúc ấy anh mới tròn 15 tuổi.

Anh chị tôi bắt đầu đi vác gỗ ở cách xa khoảng mấy cây số đường rừng, dựng lều cho cả nhà cùng ở. Sáu mẹ con quây quần bên nhau trong túp lều tranh nho nhỏ, có lẽ ngay cả Mẹ cũng không dám nghĩ nhiều tới ngày mai.

Được ít lâu, khi gạo và thực phẩm khô mang theo bắt đầu cạn thì anh chị tôi cũng đã phát quang cỏ tranh, khai phá được một mảnh vườn nhỏ. Tôi không bao giờ quên được cảnh anh chị ngồi cưa hạ mấy cây dầu còn sót trong vườn và tai còn nghe rõ âm thanh kin kít phát ra từ tiếng cưa làm đau thân cây. Mẹ ngồi băm nhặt từng sợi rễ cỏ tranh bằng cái dao xắt thịt mang xuống từ Đà Lạt, lâu rồi chỉ vương mùi cỏ dại. Biết sao được, tất cả mọi người đều phải làm cái gì đó để sống, để tồn tại và không còn quyền lựa chọn. Mẹ tôi, một người thơ phú dạt dào, trước hiện tại nghiệt ngã đã khô héo hoàn toàn, lực bất tòng tâm …

Và điều xấu nhất đã xảy ra

Anh Minh Quý, người anh kế của tôi gục chết vì cơn sốt rét rừng chỉ sau hai tháng xuống nơi này. Cả nhà khăn gói đưa anh về Đà Lạt để chôn cất. Đường xa ngái, núi rừng hun hút phía sau lưng. Những con nai, con hoẵng đang chạy tung tăng chợt dừng lại giương mắt nhìn. Tôi cũng ngơ ngác như chúng, nhưng tôi thêm nỗi buồn khi tôi mất anh tôi vĩnh viễn. Một người mới hơn một năm trước được vinh dự ra rạp Hòa Bình nhận phần thưởng và được một chuyến đi chơi Nha Trang, bây giờ anh tức tưởi ra đi nơi rừng sâu núi thẳm ở tuổi mười ba.

Tôi đã khóc rất nhiều, tôi cũng nghe rừng rưng rức khóc …

***

Người ở lại vẫn phải sống.

Ngày xưa, khi còn ba, lương công chức đủ nuôi cả nhà. Mẹ tôi nhàn nhã chăm con và có nhiều thời gian đọc sách, các chị tôi được học trường tốt nhất. Từ ngày ba mất, mẹ tôi nuôi các con bằng nghề đan len như nhiều bà mẹ Đà Lạt khác. Bây giờ phải cấy lúa, trồng rau, vừa làm vừa học nên dù mẹ và anh chị có cố gắng tới đâu thì cũng không thể bằng mọi người được. Gạo cũng chỉ đủ ăn trong vài tháng, cũng như rất nhiều nhà khác, gia đình tôi vẫn cầu cứu tới rừng.

Rừng tiếp tục cung cấp những gì con người cần thiết.

Theo chân các bạn cùng lứa, tôi vào rừng bẻ măng, hái nấm. Những cái nấm mèo mọc trên thân cây mục giòn giòn, sực sực; những cái nấm mối đầu mùa mưa ngọt lịm, dai ngon như thịt gà. Mẹ chế biến khéo léo với các loại rau rừng sẵn có đã làm cạn nhanh nồi cơm độn nhiều khoai sắn mà lũ con, giờ còn bốn đứa, ăn xong rồi mà mắt vẫn còn hau háu.

Cánh đồng nho nhỏ trơ rơm rạ. Bờ ruộng mọc dày những ngọn rau tàu bay xanh mơn mởn. Chị em tôi hái về luộc chấm với nước mắm mặn chát vị muối, ăn kèm với mấy miếng khoai mì mua lại của những người đi đào ở chiến khu xưa bên kia sông của bộ đội. Bao tử được lấp đầy để đêm tròn giấc hơn và vị rau hăng hăng còn ám ảnh tôi đến bây giờ.

Có đôi lần, chị Hằng đưa tôi trở về Đà Lạt, chị thương đứa em út mồ côi cha sớm bây giờ cứ ngơ ngơ ngác ngác như nai rừng. Chị Trinh, chị cả tôi còn ở trên đó với nhà chồng. Rồi chị Hằng lại đưa tôi trở về với rừng, làm sao sống được ở Đà Lạt khi nhà cũng không còn để ở (?) Thật quá bi đát.

Chị Hằng tôi có những người bạn thật tốt. Nhóm bạn thân có bốn chị chơi với nhau, đều vừa rời ghế nhà trường. Chị tôi được xem như là “thủ lĩnh” vì chị làm thơ hay, múa hát giỏi, đặc biệt là viết chữ đẹp. Chị đặt biệt danh cho từng người: Đông Vũ là chị, lần lượt còn lại là Xuân Vỹ, Hạ Vy, Thu Vương. Bốn mùa vấn vương với mưa rừng, gió núi. Các chị băng rừng đến với nhau ca hát, làm thơ sau giờ làm việc; san sẻ cho gia đình tôi từng miếng thịt rừng, bát gạo rẫy thơm lừng. Hoa rừng lúc nào cũng có trong ngôi nhà tranh lúc này đã được làm lại sau khi anh Quý mất và tôi bắt đầu được đi học lại.

Hương rừng tỏa lan đưa tôi chìm sâu vào giấc ngủ.

Rồi một đêm, tôi giật mình thức giấc, vỡ tan giấc mơ đang được chạy nhảy tung tăng trên Đồi Cù lộng gió bởi tiếng hét thất thanh của mẹ.

Chị Hằng tôi mất.

Cơn sốt rét rừng một lần nữa đã cướp mất người chị tài hoa của tôi, đúng một năm sau ngày anh Quý tôi ra đi.

Không chỉ gia đình tôi khóc than đau đớn, các bạn chị cũng gào thét tiếc thương.

Lúc đó, chị Thanh Hằng của tôi vừa bước sang tuổi mười tám. Chị được nằm lại với rừng, dưới lòng đất sâu, giữa đồi cây có bốn mùa chim hót. Mẹ tôi không còn tiền thuê xe đưa chị về Đà Lạt để được ở cạnh Ba tại nghĩa trang Số Bốn …

Tôi lại nghe rừng khóc rưng rưng …

***

Năm năm sau, tôi cũng được trở về Đà Lạt.

Tôi chăm chỉ học, tự nhắc mình phải học thật giỏi và học thay cả cho các anh chị của mình. Tôi muốn Mẹ sẽ hãnh diện về tôi và tôi đã làm được điều đó.

Tóc Mẹ mỗi ngày bạc hơn, nỗi đau mất con còn đó …

Rừng ơi …

Tôi thảng thốt gọi vào hư vô

Ký ức chập chùng, chập chùng như rừng xưa. Ở đó có tiếng thác Pongour réo ầm ào, tiếng gió rừng rin rít thổi qua mái tranh nghèo, tiếng Mẹ tôi khóc gào vì mất con, vì bất lực, vì nỗi đau không thể cất thành lời …

***

Rừng và cô giáo tuổi hai mươi …

Một lần nữa, sau mười năm, tôi lại rời thành phố và đến với rừng.

Tôi đã là cô giáo.

Cô giáo tuổi hai mươi, da trắng tóc dài, ba lô trên vai …Từ Đà Lạt, theo đồng nghiệp dẫn đường, tôi đi bộ qua dốc số 9, qua rừng thông Đan Kia, Đưng K’ Nơh; cheo leo đỉnh Dốc Trời nhiều hoa dại để đến với ngôi trường xa xôi. Một ngày đường vất vả, đến nơi trời đã sâm sẩm tối, người dân đón tôi bằng câu chào thật dễ thương: “Con Giuôn niêm ngăn …” (người Kinh đẹp quá), nghe vui và nhẹ nhõm …

Rừng ở đây thưa thớt. Đất để trồng lúa, trồng bắp càng rộng thì rừng càng thu hẹp lại. Tuy nhiên, đất xấu nên trồng loại nào cũng èo oặt, người dân đói kém quanh năm. Rừng cằn cỗi, không cho người dân nhiều cái để ăn. Người và rừng đều rưng rưng nước mắt.

Tôi san sẻ ít nhiều với các em học sinh quá nghèo phần ăn ít ỏi với 13 kg gạo mỗi tháng của mình. Các em chia sẻ với tôi từng nắm rau rừng, con cá suối. Cô trò nhọc nhằn dắt tay nhau qua từng ngày để học được cách viết, cách đọc và cả cách làm người.

Tôi là người mang ơn những cô cậu học trò – những đứa con của rừng nhiều vô cùng. Tôi trải qua cơn sốt kéo dài nhiều ngày, nhiều lần mơ thấy các chị về dắt tay đi vào rừng chơi, tôi đã cận kề cái chết trong cô đơn khi mới hai mươi tuổi. Các em hối hả thay nhau khiêng cô giáo đang mê man trên võng đến bệnh viện nho nhỏ cách đó mấy khu rừng và vài con suối. Vị Y sĩ già người dân tộc Lạch đã kịp cứu tôi thoát lưỡi hái tử thần vì sốt rét rừng ác tính.

Ở rừng, với tôi, ngày rất dài và đêm cũng rất sâu.

Tôi đến đây, một cô giáo đến với những học trò đang cần mình. Tôi có sự ân cần, tận tụy và rất nhiều yêu thương dành cho các em nhưng sức khỏe tôi sa sút từng ngày. Tôi mong được trở về khi còn kịp. Càng mong thì ngày càng dài.

Đêm, nhiều khi hết dầu lửa, tôi thắp sáng căn phòng phên nứa của mình bằng củi ngo. Ngồi lặng thinh nhìn ánh lửa đỏ không mang chút hy vọng nào, ngửi mùi khét nghẹt để sáng mai lỗ mũi đen như hai ống khói, đầu óc trống rỗng, tôi đợi lửa tàn hẳn rồi mới dám leo lên giường.

Thao thức tàn canh. Nghe đêm hun hút sâu.

Ngày trở về, đi qua rừng tre cuối chân Dốc Trời, những con vắt đu theo níu giữ đôi chân cô giáo trẻ. Thôi thì cho mấy bạn chút máu rồi hãy buông tha cho tôi nhé! Chút máu mang đầy vi trùng sốt rét, tiếc chi …

Tôi không lấy gì của rừng, nhưng tôi rưng rưng nước mắt …

***

Rừng ơi, đến bây giờ càng rưng rưng buồn …

Đó là chuyện của nhiều năm trước.

Tôi bây giờ bắt đầu thấy mình già, ráng giữ lại được mái tóc dài từng tắm gội trong hương rừng và dâng dâng niềm tiếc nuối.

Sau bao năm, hương rừng phai nhạt khi rừng tự nhiên dần cạn kiệt.

“Đà Lạt tôi ơi! Nhớ não nùng… Nhớ đã nát lòng, sao cứ nhớ? Ai từng Đà Lạt, nhớ thông không?

Hỡi ơi Đà Lạt! Rừng trong phố…và phố trong rừng chim líu lo…có những áo dài như én lượn…có người leo dốc thở ra thơ!

Đà Lạt tôi xanh biếc những rừng…Rừng thông, bát ngát những rừng thông! Mùa Xuân, mùa Hạ thơm lừng nắng, mưa cũng thơm lừng Thu tiếp Đông!”

     (Ai Từng Đà Lạt – Trần Vấn Lệ)

Trời ơi, những vần thơ da diết của anh đã xói thẳng vào tim tôi …

Nỗi nhớ, niềm đau đã đi đến tận cùng.

Nhớ thật nhiều về đồi thông xanh gần cuối đường Yersin, nơi có ngôi nhà màu hồng yêu dấu cũ, giờ đã thay vào đó là khối beton sừng sững.

Nhớ những cánh rừng, nhớ những đồi thông xanh bạt ngàn rì rào gió hát … Phố thị mọc lên. Thông đã lùi xa, mất dấu …

“Đà Lạt của tôi nghe nói chừ, rừng thông bị đốn, núi thông thưa, núi Bà bị gọt làm dinh thự, ai đó lòng tham có đủ chưa?

Thành phố trong rừng, rừng rưng rưng…rừng quanh co phố, phố hay lòng? Lòng tôi nát bấy đây tờ giấy, nước mắt tôi nhòe, ai thấy không?”

       (Ai Từng Đà Lạt – Trần Vấn Lệ)

Tôi cũng không bao giờ quên những khu rừng bạt ngàn đón chúng tôi cùng rất nhiều cư dân Đà Lạt về khai hoang, bắt đầu cuộc sống mới từ bốn mươi năm trước. Nay cũng không còn rừng để nghe gió reo đại ngàn, thác Pongour cũng không còn nhiều nước để cất tiếng ca bài ca bất tận.

Ừ thôi, những đồi cà phê xanh đã được thay vào đó, cầu mong đời người đã gắn chặt nơi đây ngót nghét nửa thế kỷ sẽ được ấm no và bình yên.

Tôi nhớ về những khu rừng tôi đã đi qua. Rừng đã không còn. Tất cả đã trở thành hoài niệm.

Văng vẳng trong một đêm dài trăn trở …

“Rừng đã cháy và rừng đã héo, em hãy ngủ đi

  Rừng đã khô và rừng đã tàn, em hãy ngủ đi …” (*)

Làm sao ngủ được (?)

Khi tai tôi nghe tiếng khóc uất nghẹn của đại ngàn.

Những khu rừng đẹp đang chết dần chết mòn, những ngọn đồi ngập tràn hoa dại dễ thương giờ hoang vu trơ trọi …

Những ngọn núi lở lói đớn đau, kéo theo bao trận lũ quét kinh hoàng, vùi lấp bao nhiêu mạng người. Bao xóm làng, thôn bản ở miền Trung, miền núi phía Bắc lâm vào cảnh điêu linh …

Rừng ơi …

Rừng ơi …

Nguyễn Thiên Nga

(*) Hai câu trong bản nhạc “Em hãy ngủ đi” của NS Trịnh Công Sơn