03/26/2014
Ngộ Không : Đêm tàn nguyệt tận

clip_image002

                     thoắt vèo mấy nẻo nhân gian
                     ngẩn ngơ bóng cũ mây ngàn lặng bay
                     thì thôi cứ một chỗ này
                     sẽ rồi qua nốt vơi đầy thế nhân
                     mỏi mòn sải bước đường trần
                     về ngồi im giữa tần ngần nhớ quên
                     biết sau đời có gọi tên
                     cũng đành lãng đãng cuối triền hư không.

                                          ngọctự gởi ngộ không

(tháng 3/2014)

 

Một ngày như mọi ngày, sáng tinh mơ, tay cà phê, tay thuốc lá, lão ngồi cù rũ đằng góc vườn. Lão ngồi trong bóng tối đợi nắng lên, nắng lan man leo lên đụn cây, nắng lặng lờ bò xuống thảm cỏ để rồi lão có thêm một ngày. Chiều đến, cũng ở chỗ ngồi ấy, tay điếu thuốc, tay ly rượu, lão đợi thời gian đến với lão. Cho đến một lúc bóng ngả đường chiều phủ lên vườn nhà, và bóng tối chụp xuống lão…

Thế là xong một ngày.

Từ ngày cáo lão về hưu, lão vẫn giữ cho mình thói quen làm một tách cà phê vào buổi sáng sớm và bắt một ly rượu vào buổi chiều tà. Điếu thuốc lá mỗi sáng báo cho lão biết một ngày mới bắt đầu và điếu thuốc lá ban chiều nhắc cho lão biết một ngày theo khói bay đi. Với mẩu thuốc lá sắp tắt, lão nhẹ dần theo mây khói với năm tháng, lão không còn biết mình đang ngồi đó hay là mây bay trên trời cao hay là ánh nắng chiều vàng vọt. Vào cuối ngày tàn với nắng quái chiều hôm, lão chỉ là chiếc bóng lầm lũi đi về căn nhà quen thuộc ở sau lưng.

Và đợi…

***

Với ngày mai của một ngày nào đó, lão sửa soạn khăn gói gió đưa cho một chuyến đi xa để thăm bạn già từ cái thuở láo ngáo. Đã mươi lần bạn già giục giã, lão cứ khất lần mãi. Lão nghĩ quẩn, già rồi cũng cần có bạn trong những lúc trái nắng trở trời, vả lại bạn lão càng ngày rơi rụng dần…Cứ dây dưa mãi nên đành túng thì phải tính, rằng sang xuân này lão sẽ tay xách nách mang làm một chuyến đi…dối già.

Gặp bạn già để bù khú là cái nhẽ đương nhiên của đất trời, mà bạn tận miền bắc tỉ tê là…là mới tậu được cặp cu đất. Lão ngớ ra, thế này thì bỏ bu, già không nên nết, ai lại đốc chứng làm bạn với cái giống chim thô kệch, chỉ “gù gù” nhau rồi đẻ như…cu đất. Bạn già âm ỉ ở bên này buồn như trấu cắn, nay được nghe chim cu gáy còn buồn hơn canh bí chiều đông nữa. Lão cho rằng bạn già đang cần bạn như lão vậy thôi…Thôi thì như các cụ ta xưa đã dậy, thóc ở đâu, bồ câu đó dẫu trời sập lão cũng phải bò đi.

Lão lóng ngóng đợi đến ngày ra bến xe. Mấy tối nay, tối nào lão cũng mường tượng đến bạn già lão đang làm bạn với mấy con chim, như để gậm nhấm đau thương làm cái thú giải sầu. Lão cũng chẳng hơn gì, ngẫm chuyện nhân sinh, đất khách quê người lại nằm ở cái tuổi lá rụng về cội, có nhiều cụ không có thì giờ lẩm cẩm cho quá khứ, cất kỹ xuống đáy rương làm kỷ niệm. Dạ quan hoài với vong gia thất thổ, riêng lão lọm khọm chống gậy đi tìm dĩ vãng thấp thóang qua lũy tre xanh, bờ mương ao cá…Lão hình dung đến sau tuần trà, trong một ngày nhạt nắng, ngồi ở ngòai vườn, thế nào lão cũng sẽ rủ rê bạn già đi tìm những tia nắng muộn màng, lục lọi ngăn kéo trí nhớ, thẩn thơ về những ngày nào năm nọ. Lão nghĩ, bạn vong niên gặp nhau cũng chỉ từng ấy chuyện, cũng cù rù, cù rù như hai con cu đất là…là hết đất.

Bỗng dưng không đâu, lão cứ thẫn tha, thẫn thờ đến…con cu đất.

***

Lại thêm chuyện Dế mèn phiêu lưu ký, chuyện là muốn lấp đầy con đường dài hun hút, lão đảo qua tiệm sách tìm quyển gì đọc cho khuây khỏa. Vừa thấy quyển O chuột là nhúm nhó ngay để lão lẩn thẩn với những ký ức cũ sì cũ mốc nơi đất quê. Hình như lão…”chớm” già rồi cũng nên, có những chuyện mới đây lão bí đao, bí đặc. Nhưng có những mẩu chuyện bé bằng cái đầu tăm, mắt muỗi, nhất là vào cái tuổi thiếu thời, lão nhớ như in: Như chuyện cả nhà đi vắng, lão chẳng biết chơi với ai, con mực, con mướp đi hoang tận đẩu tận đâu. Lão đành lủi thủi sau vườn đi tìm gặp những lũ bạn bè nhỏ bé hàng ngày. Như mọi lần, lão lân la đuổi bắt với mấy chàng dế cơm, chú dế chũi xón xác trong đám cỏ non, lão thóang bắt gặp mấy chị muôm muỗm, anh cào cào xanh mầu mạ, nhẩy rào rào qua vạt cỏ và biến mất vào rặng cà pháo bên cạnh. Mỗi lần hồi tưởng lại những hình tượng ấy, tuổi thơ thêm một lần bám cứng lấy lão, gắn bó không rời qua ông Tô Hòai. Vì vậy ông ấy cùng với lão leo lên chiếc xe búyt của dĩ vãng và đong đưa với ngày tháng qua mau…Lão nhìn ra ngòai, bây giờ là cuối đông, cây cỏ tàn tạ, lão cảm thấy trống vắng, hụt hẫng, như vuột mất một cái gì chẳng bao giờ tìm lại được, từ mụ gà mái, gã mèo mướp, chàng ngỗng đực, chẳng con nào sâu đậm với lão. Ngược dòng thời gian, từ bé tới nhớn, nghĩ lại thì chỉ có…lũ chuột là gắn bó với lão!

Tại sao là “ Chuột ” …Lão vặn óc chịu chết nghĩ không ra?

***

Gấp quyển sách lại, lão xa vắng, vắng xa…

Xảy đàn tan nghé, lão qua đây cũng con đàn cháu đống cả đấy, nhưng tên Tây tên Tàu của chúng lão ứ hơi đọc không ra, đâm ra ông cháu từ đây cứ…xa cách mãi. Thửa được bà vợ mười rằm cũng ừ, mười tư cũng gật, con ruồi đậu trên mép bà chẳng buồn đuổi cho. Cả ngày bà chả buồn há mồm, ra cái điều chả ai rỗi hơi nói chuyện với…lão, ra thể thà nói chuyện với đầu gối còn sướng hơn. Mà cái chân là “khúc ruột nối dài” với cái đầu gối nên nó đâm chán, chán quá thể thì nó súi lão nói với đám con…đi ở riêng. Lão lại đang ở cái tuổi xác như vờ, xơ như nhộng, thuổng được cái tiền già, nghĩ chòen chọet là cứ ăn no phích, nên lão đổ dồn vào tủ sách, cái kệ mỗi ngày mỗi cao, phòng mỗi ngày mỗi hẹp, lẩn quẩn trong nhà lão đi vòng vòng như cái đèn cù, mà phải đi thật chậm để kéo thời gian dài ra cho qua ngày đoạn tháng. Ai chẳng có lúc vơi đầy, cảm hòai vấn vương cùng ngày đi tháng lại, vì vậy lão ngồi rị mọ viết lách lăng nhăng, rảnh rang đọc lại, lão cũng cảm thấy bâng khuâng cùng những dấu ấn của một thời đã qua…Nói cho ngay cái nhà cũng có hơi ọp ẹp như lão vậy, mấy cái cửa tủ đồ ăn khô có chỗ vỡ bằng cái nắm tay, nhưng lão chẳng ngó ngàng gì đến ba cái vặt vãnh ấy. Nhất là cái tủ chỉ to bằng lỗ mũi, trong đó tập tàng ba thùng mì gói với dăm vỉ trứng.

Cuộc sống lão chẳng có gì để ủ ê, để thành chuyện…giẻ rách. Cho tới mùa đông năm đầu tiên dọn về cái nhà thổ tả này: Giời đất ạ, cơ ngơi nhà lão có chuột. Bương bả chạy đi mua cái bẫy chuột, chữ Tây chữ u bói không ra một chữ, múa may một hồi lão cũng xách về được một cái bẫy to bằng bàn tay. Lão bật cười khan, Đông Tây gặp nhau ở khoản này đây, cả hai giống nhau như hai đôi guốc, cũng mảnh gỗ bé con con, cái khung sắt, hai cái lò so và que sắt móc mồi và cuối cùng là…cái khóa giết người. Nghe mách chuột Tây ăn…“phó mát”, thế là lão cặm cụi gài miếng “phó mát” vào cái que móc mồi, đặt vào đúng chỗ con đường mòn Hồ Chí Minh, nơi chúng xâm nhập nhà lão. Sáng hôm sau thăm thú tình hình chiến sự thì miếng “phó mát” vẫn còn nguyên, không mất…một sợi tóc. Lão đực mặt ra tư duy, hóa ra mấy chú chuột nhắt này là mấy chú du kích, trốn nhui trốn nhủi trong rừng, ắt hẳn là thèm thịt để bồi dưỡng, còn miếng “phó mát” mấy thằng cán ngố ắt hẳn ngỡ là xà bông Trung Quốc nhẽo nhèo. Vậy là lão phải nướng một miếng thịt cho thơm râu, và đặt cái bẫy ở ngay đầu địa đạo Củ Chi, đó cũng chính là cửa ngõ vào tủ đồ khô nhà lão. Lão chắc mẩm với chiến lược dụ địch về thành phố này: Vố này thế nào lão tó dăm chự. Rồi gán cho hai chữ tử sĩ là êm.

Hôm sau cái bẫy chuột vẫn…êm ả, miếng thịt không cánh mà bay. Lão chưa kịp điều nghiên trận địa tiếp thì cũng vừa hết một mùa đông, đám chuột biến mất. Mùa đông năm sau chưa kịp tới, nhưng đất trời vẫn ngôn ngốt, máy lạnh đang chạy âm ỉ. Bỗng nước từ trên trần nhà nhiễu xuống và cái máy lạnh không rên ư hử nữa. “Người” sửa máy lạnh trèo lên, trèo xuống, báo cáo anh, báo cáo chị…với lão: “Nhà cụ có chuột!”. Rõ dớ dẩn, sự thể này lão biết từ đời tám hóanh nào rồi. Cũng rõ chán mớ đời người này có mắt không tròng hay sao ấy mà nhè lão gọi bằng…“cụ” và người tiếp: “Chuột con ngứa răng gặm mấy cái ống nước của máy lạnh, cụ phải mua thuốc giết chuột”.

Thế là lão thành…cụ, và cụ có việc làm, việc đầu tiên là quáng quàng đi mua thuốc giết chuột, việc kế tiếp là lui cui “chôn” mấy hộp “mìn” trong tủ đồ khô. Chớm đông, nệm ấm chăn êm, lão ngủ thẳng cẳng. Hôm sau, mở tủ ra lão thấy mấy cái xác khô, nằm chết bình thường, nằm chết như…mơ, mình không manh áo. Những năm kế tiếp, năm nào cũng vậy, lão lại ru ta ngậm ngùi, đi nhặt xác người…anh em bên kia cánh đồng, trên nóc nhà thánh phố, trên những đường quanh co. Hai mươi năm hận thù đã qua…

***

Mới đây, xuân thu nhị kỳ cứ ngủ dậy lão cứ bị đau chỗ này, nhức chỗ kia. Tê chân, buốt đầu gối lẽ dĩ nhiên là đi không được là…cái cẳng. Nằm bẹp trên giường, nhễu nhão cả hai, ba ngày, khổ nhất là ê vai, trẹo hông. Nhất là đi thăm lăng Bác: Đứng lên, ngồi xuống là phải từ tốn và nghiêm túc, phải vặn vẹo cái tay, cái chân cho đúng thế. Ấy là chưa kể đến cái phần hậu sự, ngoặt cái tay ra đằng sau để lau chùi cũng không xong, thế mới phiền. Nhiều khi…ho cũng nhói lên một cái đến thốn người, thế mới…đau. Hỏi thăm quan đốc, quan dẫn giải rất chuyên ngành: Rằng con người ta có bao nhiêu cái đốt xương sống, bao nhiêu cái giây thần kinh là bấy nhiêu trái mìn nổ chậm và từng ấy cái giây điện mìn Claymore. Quan đốc còn trấn an lão, chắc như đinh đóng cột là hãy sửa sọan sống với…người bạn đời chung tình nhất của các cụ là…bệnh già.

Năm rồi, lão nằm chết bầm, chết dí hơn một tuần, người cứ rói ra: Số là ngủ dậy thì lạy Chúa tôi, lão như con gà chọi bị bệnh giây, cái cổ cứ đuỗn đuồn đuột ra như gà mắc thóc. Xoay đầu qua bên trái, cái bả vai buốt trẹo xương sườn, xoay qua bên phải, năm đầu ngón tay…giật giật như bị động kinh. Tay không làm nhưng hàm phải nhai: Ngồi ăn, cái cổ cứng ngắc như sinh viên sĩ quan ở thế nghiêm trình diện huynh trưởng. Tay trái cầm bát, tay phải cầm đũa, khuỷu tay song song với mặt bàn, cùi chỏ giữ góc thước thợ 45 độ, lưng giữ thẳng đứng. Rồi chậm rãi đưa cái bát lên, và cơm vào miệng, mỗi lần lão nuốt một miếng là nhói lên một cái, đành nuốt nhè nhẹ, mòn mỏi đợi cái nhói kế tiếp.

Ngủ cũng dễ…thương thôi: Nằm ngay tán tàn như nằm trong…nhà Chung Sự tối om om đến…lạnh người. Cứ như vậy, đêm về, lão nằm trên giường nghe cóc nhái kêu òm ọp, muốn nằm sấp, nằm ngửa cũng chẳng xong, co ro như mèo già bị hen cò cử. Lâu lâu lại cấn lên một cái, đành cắn răng muốn ứa nước mắt, thuỗn người ra đợi cái đau kéo dài như …đi vào cõi vô cùng, mãi một lúc lâu sau, lâu lắm, mới thậm thụt đi vào cõi…êm ả. Buồn tình suy nghĩ vu vơ, chuyến này lão vừa dẫm phải…”mìn” nổ chậm, vừa chạm phải giây điện…”Claymore”, chưa “ùynh” một phát là phúc bẩy mươi đời. Ngủ không được, lão lần mò ra ghế “sa-lông” đọc sách. Từ đấy, lão có một khỏang không gian riêng với cái đèn lúc nào cũng sáng trưng, vì lão chỉ có hơi ngài ngại bóng tối một chút đấy thôi. Thực tình…ma thì ai chẳng sợ, sợ vãi đái là cái chắc.

Nửa đêm lão chợt tỉnh giấc, có tiếng lịch kịch trong tủ đồ khô. Hay nhà có ma? Ngừng một lúc, có tiếng cào cào “cạch cạch” như có ai gõ cửa nhà lão giữa nửa khuya nghe đến rợn người. Lắng tai nghe cho kỹ, hóa ra không phải…ma, mà là mấy chú chuột ngòai kia đi trốn một mùa đông lạnh lẽo, như mấy con chim trốn tuyết. Thế là lão yên chí nhớn, thăng cái đã. Nhưng khổ một nỗi là hai vợ chồng gã chuột này đú đởn làm trò mèo mả gà đồng hay sao ấy, sao mà ồn ào quá sức. Như muốn trêu ngươi lão, làm lão chập chờn mấy đêm liền, trong bóng đêm, giữa người và vật như có giao hòa thì không hẳn là đúng, cuộc chiến đã tàn và đã đi vào thóang đãng…Nhưng cái lũ chuột khốn khổ, khốn nạn ấy cứ nhè nhà lão, tự nhiên như người Hà Nội, bê cái này, vác cái kia. Bố ai mà chịu nổi, lão là người chứ đâu có phải là…là ngợm đâu.

Già sinh tật, ít lâu nay lão đốc chứng đi tiểu giắt, mỗi đêm lục đục vật lộn với nhà cầu cả bốn, năm lần là ít, súng nước thì của khôn người khó, đếm từng giọt, giật cái cần nước chẩy xối xả như ba dòng thác…cách mạng, tháng tháng tiền nước lại nhích thêm một tí. Một tối, bò về đến cái ghế, đặt cái lưng xuống muốn trẹo người, chưa kịp thở, bỗng lão nổ đom đóm mắt và lão không tin ở mắt mình nữa…

Đúng là giời đi vắng, thật là quá quắt lắm rồi, giời ạ, ai đời chình ình giữa nhà hai vợ chồng thằng chuột chẳng mời mà rủ nhau tới…thăm lão. Không chủ không khách, chẳng đứng chẳng ngồi: Mụ vợ thản nhiên nằm ngửa tênh hênh lên trời, bốn chân ôm sát sạt quả trứng gà to hơn cả người ả, che cả cái bụng, chỉ lòi cái mõm tí tẹo và hai con mắt trong veo. Còn thằng chồng, mõm ngậm đuôi vợ, cong lưng vừa lùi vừa hì hục kéo. Đúng lúc lão vừa ngả lưng nên gây tiếng động, thằng chồng ngừng lại nghe ngóng thăm chừng. Cái mõm với mấy sợi râu ngắn cũn cỡn rung rung, mắt nhìn lão lơ láo như thể muốn hỏi han, nhưng mặt mũi thì vẫn tỉnh queo. Còn ả vợ vẫn nằm kềnh ra đấy, làm như không phải chuyện của ả và vẫn khư khư ôm quả trứng…của lão.

Người và vật ngó nhau một lát, thằng chồng lại khom người, cong đít, ngậm đuôi vợ, không kéo phăng phăng mà kéo rất ư từ tốn, như sợ mụ vợ đau lưng…như lão. Như sợ quả trứng mà lăn tòm xuống thì gã ốm đòn với mụ, cái đuôi dài thò lò của nó ngoe nguẩy như đánh nhịp. Lôi được một khúc ngắn, ngừng lại để lấy sức, thằng chồng đứng thẳng lên bằng hai chân sau, hai chân trước quậy quậy ba, bốn cái ra cái điều mệt quá thể, mệt hốc người ra chứ đâu có bỡn. Cái đuôi mụ được nhả ra, bây giờ ngoe nguẩy như thúc giục, thằng chồng như hiểu ý, nằm mọp xuống và lại hì hụp kéo tiếp…

***

Bỗng dưng trong tâm tư lão chùng xuống và quây quả về những ngày tháng của…”cái buổi ban đầu” ấy. Ấy là lão chứng ngộ ra một nhẽ, có những chuyện nằm chôn vùi trong tâm khảm cả chục năm dài, chẳng có dịp đào xới lên và nghĩ đã mồ yên mả đẹp. Một ngày có cọ xát nào đó, như chất xúc tác là ở đôi vợ chồng chuột trên đây…

Như vào cái tuổi gái thập tam, trai thập lục: Cả nhà gọi lão là…”thằng còi”.

Thằng còi dong dóng ăn chơi từ tấm bé, mà ăn thì không ngòai cơm nắm muối vừng với nhăm quả cà muối nên cứ còi cọc, cớm rớm như mèo đi kiết ấy. Bu còi riếc: “Có mà ăn trứng giời cũng chẳng nhớn được” nên bị tống cổ xuống nhà bà bá nuôi báo cô vào những ngày cuối tuần. Nhờ đó thằng còi được biết đến món tép đồng kho tương, trộn lẫn với bún và đậu rán vàng ròn, mà cái giống này ăn tùng tục mới ngon, quất hai chập là no căng rốn. Từ đấy sáng chủ nhật nào còi cũng xuống trại “ri cư” Tân Chí Linh đi lễ nhà thờ, mong giữ một chỗ trên thiên đàng cho mai hậu và cũng để được ăn ngon hơn. Thế nhưng lớn lên một chút, thằng còi vỡ lẽ ra một nhẽ là muốn lên thiên đàng thì phải…chết trước đã. Ai mà dại.

Trời đất xui khiến làm sao ấy, một ngày còi đuổi bắt con chuồn chuồn gần cái hồ có mấy cái cầu gỗ cheo leo vất vưởng để…đi cầu của trại “ri cư” thì đâm sầm vào “gái thập tam” là…con bé hàng xóm ngọai đạo. Thế là quen…để thành chuyện. Thế là từ đấy còi không tin có Chúa ở trên trời nữa, để rồi càng ngày càng bơi trong biển tình với mấy…con cá tra. Con bé hàng xóm ấy là cái Sửu. Cô em gái Bắc Kỳ của thằng còi thân hình như con cá trắm, da bánh mật, lông mày rậm, môi dầy cong cớn dẩu lên như con cộp cộp. Con gái gì mà nghịch ngợm như con trai, chỉ thích vật nhau với thằng còi ở trên cái chõng tre và còi nhớ mồn một…Một lần hai đứa đang nghịch nhau, cắn nhau, véo nhau, cái nan tre ọp ẹp, rung rung kêu “cọt…cọt…”. Rồi hai đứa đè lên nhau giống hai cái thìa úp, lăn qua lăn lại, đến độ cái chiếu hoa xộc xệch gần như cũng muốn rơi tuốt tuồn tuột xuống đất. Cúc áo thì có tuột thật…và nói dối phải tội chứ lần đầu tiên trong đời, thằng còi mới thấy thế nào là cái của nợ của cái Sửu cồm cộm cứng như mo nang, như chọc vào mắt còi, trắng hếu, trắng như ếch lột. Còi nhìn lõ mắt với “cảm nhận”, “cảm quan” thế nào là nhễ nhại, nhễ nhại như lưng còi đang lấm tấm mồ hôi vì tim đập thịch thịch, thùng thùng như trống báo vỡ đê khi bất chợt nhìn thấy trái cấm lần đầu. Nhưng còi thề, không phải thề kiểu cá trê chui ống, mà với “đức Chúa giời có ba ngôi” là: Không có chuyện tòm tem của người lớn, mà nếu có muốn thì thằng còi cũng chẳng biết tí tóay ra làm sao nữa. Mà nói thật đấy, vì cái trò ma mãnh này chỉ có cái thứ…“đĩ như đom đóm đực” là quen thói thôi, nên thằng còi cứ…đực ra như ngỗng đực.

Và rồi hai đứa vẫn hồn nhiên vần nhau, cắn nhau một hồi và đang cười nắc nẻ như không có chuyện gì sẩy ra trên cõi đời “vô ưu”, vô tội này thì đột nhiên…Cô hàng xóm Bắc Kỳ nhỏm dậy, mặt mày xanh như tàu lá chuối, tay run lẩy bẩy, chân dẫy dành đạch như đỉa phải vôi và gào bải hải như cha chết mẹ chết. Đồng thời chỉ xuống cái nền đất thô lồi lõm, cả hai đều nhòm thấy: Hai con chuột ăn cắp trứng đang kéo đuôi nhau. Và hai vợ chồng chuột đang mải mê khuân trứng về…tổ chuột, bỗng nghe tiếng gào lên như lợn bị chọc tiết, thế là te tái ù té chạy bán sống bán chết, bỏ lại quả trứng nằm lăn tên hênh giữa nhà. Giê-su-ma lạy Chúa tôi ! Người ngợm thằng còi từ trên xuống dưới thì cứ…cứng đơ ra. Mà chuyện chỉ có vậy ! Và…không hơn.

Xong cái tù tài nó trổ mã hơn nhưng thằng còi vẫn còi. Một bữa, thèm ăn tép đồng kho tương, bèn ghé trại “ri cư” thăm bà bá nhà quê đặc và được nghe bà kể chuyện cái Sửu bỏ học đi lấy chồng. Bà tung tẩy: “Chồng nó đóng quan một cơ đấy, mày ạ”. Vừa lúc nó nhúng nhúng cái chõng tre xem còn “cọt…cọt…” nữa không, thế là bị bắt được quả tang. Bà bác nhìn nó lắc đầu, chép miệng: Nhất chặt tre nhì ve gái, tao ngỡ hồi đó mày…nàm nó trương phềnh…nên ấy chứ”. Nó cắm đầu xuống cái chiếu hoa, bà tung tẩy vào chuyện: “Nói dại chứ, gái một con trông mòn con mắt, dạo này người ngợm nó cứ nhẫy ra. Nó bấu cuống chiếu, nuốt nước bọt ừng ực. Bỗng không đâu, bà chửi té tát: “Mẹ cha con Sửu chết tiệt ấy, ấy vậy mà số khổ như…trâu”. Bà phẩy tay: “Gái góa rồi mày ơi, rõ cám hấp”. Nó chưng hửng, nhưng cũng chẳng thể thiếu vắng ngậm ngùi cho cái tên vận vào người. Rằng trâu thì chân giẫm nước, dầm mình trong ao hồ thế nên đa cảm, đa mang những khắc khoải, lênh láng phủ lên muộn phiền, chuốc vạ vào thân, lận khổ trong người. Đang ủ ê…”Người đi qua đời tôi”, thì bà vén môi: “Này, mày có ăn tép đồng kho tương không thì bảo”. Nào còn ăn uống gì được nữa, chưa kịp đứng lên bà đã nói đổng, nói như hát: “Đẹp như cái tép kho tương, kho đi kho…nại khéo trương phềnh phềnh”. Vẫn chưa tha, bà bật cười khanh khách và mắng nó xa xả: “Mẹ bố mày, bà dậy khôn mà mày cứ ngu như…nợn ấy”. Ấy đấy, bà bác nó tuyềnh tòang thế đấy, nhưng nghe lào thào qua bà và dấu ấn sâu đậm nhất trong đầu nó lất lây chút sầu chờ sầu với nỗi buồn không tên, mồm miệng nó chẳng hé rạng lên một niềm vui với cái Sửu bây giờ là thứ nhất gái đọan tang, thứ nhì gà mái ghẹ này kia, kia nọ…

Thì như đã bảo, nó đang là…”người nhớn” mà.

***

Cho đến một ngày người nhớn trở thành…”gã”.

Mây vẫn bay ngày vẫn trôi đi qua một kiếp phù sinh. Một ngày gã đọc được một truyện ngắn của một người viết nữ viết về khỏang thời gian sống ở trại di cư, về thân phận người vợ trẻ trong thời chiến có chồng là lính chết trận. Người vợ trẻ có những dằn vặt cùng những khát khao vào cái lúc nửa đêm về sáng…tôi nhìn tôi trên vách.

Đọc xong bài viết, gã ra ngẩn vào ngơ với cả một chuỗi quá vãng ơi ới gọi nhau kéo về lũ lượt. Sau đấy gã thập thò bên mảnh vườn to bằng cái chiếu manh trồng dăm nhánh húng, nhánh ngò cùng nhớ với mong, đợi với chờ và chả biết trâu đi tìm cọc hay cọc đi tìm trâu đây. Vào nhà, trong gã đầy ắp những quan hòai, quan san, gã căng óc nặn chữ vá câu và bật ra một bài tản mạn về miền Nam sáng nắng chiều mưa, chữ nghĩa cứ rối rít cả lên gửi gấm với đường xưa lối cũ chẳng văn vẻ gì cho lắm về cái hồ nuôi…cá tra và gửi đến tờ báo có bài viết của người viết tên….Trần thị Sửu. Gã nhủ thầm, tên gì mà quê mùa, chẳng có cái bút hiệu cho ra hồn. Nên gã tầm chương trích cú cho mình một cái bút danh ẩn tàng hào hùng, hào khí, và ngập thâm căn cố đế.

Chẳng chóng thì chầy gã được hồi âm bằng vào một truyện ngắn khác nữa với Sài Gòn sáng mưa chiều nắng, với trại di cư ở ngã ba Ông Tạ. Chữ nghĩa đánh thức gã dậy, gã lao đao trong nắng hanh vàng giữa hai căn nhà cách nhau một lối đi nhỏ và căn nhà bên kia có một hàng dậu, chẳng hẳn là rặng mồng tơi xanh rờn với con bướm trắng về bên ấy rồi…Mà là một khoảng không gian mênh mang trên là trời dưới là nước, giữa là những thanh gỗ bắc ngang được khoanh liếp quây thành…nhà cầu. Trong cái tĩnh mịch của lá rơi tường bắc là bay sang, chấm phá bằng vào những cục phân to bằng cái cán dao phay rơi lõm bõm xuống mặt nước…hồ thu. Gã vẩn vơ thả hồn đi hoang trong đầu ra chữ, vậy mà cái tình chữ nghĩa qua thư, sách báo cũng kéo dài hơn hai mươi năm chứ ít ỏi gì. Trong xe “búyt”, gã lan man với hoài cố nhân, hoài đồng vọng rằng bây giờ quá nửa đời người, gã mường tượng lát nữa đây sẽ sắp gặp lại người xưa…

Còn ai trồng khoai đất này là…là…“bạn già” với…”con cu đất” ở trên.

***

Trong chuyến rong ruổi này, gã mông lung về một chuyện mới đây.

Ngày tháng qua mau, gã thành “lão” lúc nào cũng chẳng hay và nhằm vào một ngày lặng gió, vợ lão đúng là số ruồi, khi không bỏ lão về với thiên cổ. Ấy vậy mà cái ngày bà vợ câm như thóc ngâm của lão được Chúa hoan hỉ đón về với nước Chúa, bà gắng gượng dậy, nhúm lấy tóc lão kéo xuống rồi rặn ra câu: “Ối giời ơi, ông ở lại nuôi con cho…vuông tròn nhá. Hẹn ông…ở kiếp sau nhá”. Trong cái lúc nhá nhem đầy tang thương ngẫu lục ấy, lão nhủ thầm lũ con nuôi báo cô lão thì có. Còn nghe đến câu hẹn nhau ở kiếp sau thì bố mẹ ơi, mới nghe trối trăn xong là lão đã thấy chết nửa đời người và hãi quá thể. Thế nhưng chưa kịp hẹn hò với bà ở kiếp vãng lai thì nhằm vào cái tuổi trời chiều tà tà bóng ngả về tây, lão gặp lại người cũ. Sau những tháng năm hụt hẫng với lá úa tiễn người đi, lão cũng nguôi ngoai và lão đang có mặt trên chuyến xe hò hẹn với người xưa trong cái buổi chợ chiều vắng khách bằng vào hôm nay. .

Thời gian ăn dập bã trầu thì xe đã vào đến thành phố…Lòng dạ lão bát nháo, cái đầu lão mượn cớ ngọ nguậy ba mớ chữ Nho còn rơi rớt lại như bản lai diện mục, diễn nghĩa theo mấy ông Tàu là không thấy mặt thì bụng dạ chẳng biết yêu thương để đâu cho hết. Lão cố hình dung “Cái Sửu, người ngợm như con cá trắm” bây giờ ra sao, lão chỉ thấy những nét nhòe nhoẹt qua bức tranh vân cẩu. Lãng đãng với trước ngày đi ngồi ngoài vườn, lão ngửa cổ làm một cái hồ trường, hít một hơi thuốc lá, rồi khật khừ ngâm nga…thà một phút huy hòang rồi chợt tắt, còn hơn le lói cả trăm năm. Thế nhưng trăm năm đang hờ hững như…ông đồ vẫn ngồi đấy, qua đường không ai hay ở đằng kia.

Vì rằng từ xa lão đã nom ròm thấy “bạn già” của lão nhập nhòa qua mái tóc đã điểm sương, ngồi củ rủ như con cò ốm trên cái băng dựa giống ghế đá công viên. Cái xe kềnh càng ghé bến, nhòm kỹ hơn. Giời ạ, dường như…Thóang như đến nước non này…bà…Giời ạ, ông giời có mắt xuống đây mà xem…bà đang phe phẩy cái nón lá. Với…giấy đỏ buồn không thắm, mực đọng trong nghiên sầu, vật vã với chữ nghĩa thì không có giấy bút nào hơn là trông bà chân chất như gái quê, dưới tàng cây vàng bay mấy lá năm già nửa. Vậy mà lão mộng dưới hoa qua…em vín lấy cành dâu, che dấu mộng ban đầu. Lòng dạ lão đang xốn xang, rổn rảng thơ thẩn, đầu óc lão đang rối loạn tiền đinh với…nói ra sợ mất lòng em, van em, em hãy giữ nguyên quê mùa.

Xe ngừng, bà ngước mắt lên, đôi mắt ươn ướt trông như phủ viền vải tây điều và đứng đậy chậm chạp bước về phía đám đông đang xuống xe. Cùng bao năm vật đổi sao rời, vẫn cái thói hòai cổ cố hữu của người Bắc mình là cái áo chùng thâm như mấy bà cố đi lễ nhà thờ. Cũng đã bấy lâu nay lão ngụp lặn trong thương người thương cả đường đi lối về: Qua những cái thư, truyện ngắn trải dài của người tình cũ qua con đường sống trâu ven quê, lão quan hoài từ cụm hoa nhài, bụi cỏ bồng. Lúc này, lão nhòm đâu cũng ra hồn thơ với mây và gió, thế nên lão đang đuổi hoa bắt bướm. Lão hòai cố nhân với đập cổ kính ra tìm lấy bóng qua những hình ảnh phảng phất một thoáng hương xưa. Thế là lão cỏ hoa lạc lối, thế nên bụng dạ lão nhằng nhịt với chùm thơ dân dã…nào đâu cái yếm lụa sồi, cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân….

Cùng những váng chiều ấy, trong đám người kẻ đón người đưa, mắt bà hấp ha hấp háy áng chừng đang tìm kiếm…người muôn năm cũ. Như một đọan phim quay chậm, gần hơn một chút nữa, bà nhớn nhác dòm thấy lão. Còn lão thì nhòm ra bà, thấy người về từ trăm năm. Lão thấy bà hom hem cười tủm, cái cười hơi thiếu vắng với hàm răng chộn rộn. Lão ngẫm lại, hàng ngày soi gương, lão thấy lão vẫn vậy, chẳng đổi thay. Nay mới bắt gặp hình ảnh của chính mình qua bà sau gần nửa thế kỷ không gặp lại, để thấy cả hai đang tàn tạ trong những ngày nhạt nắng. Bỗng hai mắt bà ăm ắp nước, tuôn rơi lả chả như những hạt mưa thu, cứ như thể lão tay bắt chuồn chuồn sắp về với tổ tiên đến nơi không bằng…

Và bà thảng thốt bật ra một câu đầy bi ai: “Trời cao đất dầy ơi ! Ông đấy hở ”.

Vừa chu chéo lên xong, bà như bị xúc động nên chập chọang ngả chúi người vào lão như ếch vồ hoa mướp. Làm như lão vừa ngã vào hàng bánh đa nướng không bằng, hai tay bà túm chặt lấy áo lão như sợ bị vuột mất thì có nước đi tướt. Giữa thanh thiên bạch nhật, lão chóang người, sợ thấy ông bà ông vải, lão cập rập…mắng yêu: “Hượm tí! Bà làm gì rối tinh lên vậy hử”. Lão định mở mồm nói dăm chữ yêu thương, nhưng lại quên bu nó mất…

Lão nói như…quát lên: “ Khỉ ạHùng… g…i…à…đây “.

Ngỡ lão ngồi trên xe buýt chưa ăn gì! Bà ngơ ngác: “Ừ nhẩy! Tép đồng kho tương hở? Thiếu giống! Cứ ối ra đấy ”. Thế là lão biết bà…điếc đặc. Biết để bụng, được thể lão ôm bà gọn lỏn trong vòng tay gầy guộc của lão. Trong một thoáng phù vân, lão muốn gửi gấm bà một nụ hôn cuối đời sau năm mươi năm nghìn trùng xa cách, nhưng lão chợt nhớ ra răng cỏ lão…cái còn cái mất. Vậy mà nhòm bà, bà cũng chẳng khấm khá hơn gì lão, răng lợi cũng…cái mất cái còn. Thế nên lão đành niệm Bụt ăn chay, đành ôm suông bà để gửi gió cho mây ngàn bay. Để rồi hồn ma bóng quế của chuyện ngày xửa ngày xưa lại nhàn tản hiện về, chuyện là cái ngày ấy ở trại “ri cư”, trên cái chõng tre ọp ẹp, thằng còi đè cái Sửu và…lui cui cúi xuống hôn. Nụ hôn đầu đời cùng một quên hai nhớ là cái Sửu nhắm tịt mắt lại nhưng lại…há mồm. Thế là răng thằng còi đụng răng cái Sửu một cái…”cốp”. Mẹ ơi, đau như bị…đau răng. Cũng kể từ dạo ấy, trong những cuộc tình hoang dại đi qua mảnh đời lão, lão chả dám…hôn ai nữa! Khỉ thật!

***

Đêm đã về khuya, lão nhòm bà nằm một đống như cái đụn rơm phình ra ở ngay cái giường to bằng cái đình này…Và cả hai ngước mặt lên trần nhà, nhìn con thằn đực đuổi con thằn lằn cái trong xa vắng để chẳng có gì mà nói. Nói cho ngay lão cũng chẳng có nhiều chuyện để mà hàn huyên, tât cả như gió đưa cây cải về trời…Riêng với bà, bà đang thao thức chuyện mới đây, sau những mùa đông cô quả quạnh hiu, lòng dạ bà như bị xát muối, bà cô quạnh nằm một mình ôm cái gối như ôm con lợn con mới đẻ của cái tuổi xuân thì. Rồi thì năm thì bẩy lượt, bà nhớ rang nhớ rức đến cái nhà lão này bên kia bến vắng và bà ôm cái gối bông như ôm lão cùng những nỗi nhớ, để thấy cái gối như mềm hẳn ra và…êm êm.

Còn lão, lão cũng đang thao thức trằn trọc, không phải vì lạ nhà lạ cửa, mà lão như thấy thiếu vắng một cái gì thân quen. Bỗng dưng lão nhớ khôn tả đến quả trứng trắng no tròn nằm trên bụng con chuột. Đến cô bé Bắc kỳ nho nhỏ môi dầy cong cớn dẩu lên như con cộp cộp. Qua cả một thời gian dài chẳng biết lưu lạc ở phương nao, nay nằm thu lu ở bên cạnh…Như ở đâu đây, lão thóang nghe thấy tiếng con chim cu đất “gù gù” xa vắng vời vợi, hòa lẫn tiếng ho rời rạc của bà, tiếng ho húng hắng đứt quãng của lão, để rồi cùng một lứa bên trời lận đận, cuối cùng thì đường mưa ướt đất, lão cũng đã gặp lại bà trong…đêm tàn nguyệt tận.

Trong cái im ắng của nửa đêm về sáng, tay lão mò mẫm đi tìm tay bà. Bà thẫn thờ để yên không rụt lại. Đêm khuya khoắt, đất sinh cỏ già sinh tật, vẫn chứng nào tật ấy, lão lại lọm khọm chống gậy trở về với dĩ vãng…Lão tủm tỉm cười một mình về những ngày tháng ngây dại của cái tuổi khờ khạo, rồi lão rạt rào với tình cũ không hẹn mà tới, người lão như lâng lâng bay bổng. Dường như bà đang thiu thiu thiu đi vào giấc nồng thì phải, lão đoán thầm là như thế. Thế nên lão như người cưỡi gió chui vào mây về một thời, một thưở với những chuyện tình trong mộng tưởng, chỉ thấy mây bay chẳng thấy…người. Hoặc giả, quá lắm thì cũng…không tưởng như…tay anh em hãy tựa đầu, cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi. Thóang tiếng ngáy nghe như rì rào của sóng biển, gió nồng và trái sầu rụng rơi đã chín cây, lão chỉ đợi cái lúc này. Lão đợi lâu lắm rồi, như đợi nhau từ kiếp trước. Sợ bà biết thấu tâm can, lão đợi thêm một chút nữa. Lão nghĩ cũng đến lúc, lão rón rén thò tay xuống…phía dưới.

Thật nhẹ nhàng như thở không ra hơi, sâu hơn một chút nữa, tìm kiếm.

Trong đêm tàn nguyệt tận, lão…đút tay vào…túi quần, sờ sọang và cứng như bùi giời vì chẳng thấy …”nó” đâu. Thế mới bỏ bố! Lão nín thở mầy mò. Thật từ từ, rất chậm rãi, lão đưa tay vào sâu mà vân vê, mà nắn bóp…Súyt nữa lão bật reo lên như siêu nước sôi: “ Nó đây rồi…”. Lão đã thấy…nó. Lão sờ mó nó, nó nhẵn thín, nhẵn trơn như da thịt. Lão mân mê nó, lạnh tanh, lạnh ngắt như đồng thau…Thật chậm rãi, rất từ từ.

Lão nhón nhén rút ra…một cái nhẫn một chỉ bằng vàng tây.

Trong yêu thương xốn xang, lão lóng ngóng đeo vào tay bà, ngón tay khô queo, khô quắt. Trong lão ngập tràn những bồi hồi với cỏ xót xa đưa, cỏ xót xa người cùng những cảm xúc chan hòa. Tự hỏi cảm xúc như thế nào, lão chỉ thấy bồi hồi với những xúc cảm đến nghệt mặt ra. Và lão ngẩn ngơ ngắm nghía bà, ấy vậy mà bà chẳng mảy may cục cựa, nằm đuỗn ra như con cá rô đực. Bà nằm đuỗn ra đo giường, đo chiếu thật đấy, thật tình thì lúc đầu bà không biết lão này dở trò ma bùn gì đây, nào ai biết ma ăn cỗ. Nhưng bà cũng xốn xang chờ đợi, để thấy sự thể là như thế…Thế rồi bà có khỏanh khắc bồng bềnh, lãng đãng mà đã tự lâu rồi bà đã đánh mất, tưởng rằng chẳng bao giờ tìm lại được trong những ngày vắng gió đìu hiu. Nếu có, chẳng qua là nhờ cái…cái…

Bà nhớ đến cái gối bông mềm như tơ, nhẹ như lông ngỗng và bà quay sang ôm lão như ôm…một bộ xương đang ngái ngủ. Lão cũng ôm cứng lấy bà. Bà lững lờ nhìn lão. Lão lặng lẽ nhìn bà. Trong một thóang giây động não động tình với lên non tìm động hoa vàng, làm như vô tình lão hờ hững đặt tay lên ngực bà…Chửa kịp ngộ ra cái giống gì eo sèo như quả mướp khô thì đã bị bà nhăn mặt, hất tay lão ra và mắng: “Rõ dơ ”.

Lão im thin thít như thịt nấu đông, lão nghĩ bà này dở hơi thật cũng nên. Lão nhẩm chừng bà cũng rõ dấm dớ, chả lẽ khi không réo lão lên đây để nghe con cu đất gáy “gù gù” chăng. Cũng đến cả mươi phút, lão nằm chèo queo nghe tiếng tiếng cái đồng hồ treo tường kêu “tích tắc” buồn tê tái, buồn tái tê. Bỗng…con cu giả đen thui từ cái mái nhà của cái đồng hồ treo tường chui ra chõ mỏ gáy “cúc cù cu” vang vọng giữa đêm vắng…Khi không lão nhớ quay nhớ quắt đến hai con chuột trong tủ đồ khô ở nhà. Lão bâng khuâng nhớ rang nhớ rức đến câu ca dao đầy hương đồng cỏ nội…chuột kêu chút chít trong rương, anh đi nhè nhẹ động giường mẹ hay. Bất giác, lão chìm đắm trong vọng tưởng, lão ôm bà khắng khít hơn và thả hồn đi hoang về ngày nào năm ấy với cái chõng tre, cái nền nhà thô mát lạnh và…Và tiếp đến là tiếng kêu “boong, boong” của cái đồng hồ chết tiệt như tiếng chuông tỉnh thức, như đánh dấu cái giờ tí canh ba ở cái tuổi vàng đang thảnh thơi rơi vào quên lãng với một sớm hai sương.

Ớ mà lạ chửa kìa: Không phải là lão mà là bà. Bà đang “tỉnh thức” với hồi chuông chiêu mộ và bà lóp ngóp trườn lên người lão, như con thạch thùng cái bò lên con thạch thùng đực. Thân bà vắt chéo qua thân lão như cây thập tự giá đóng đinh, người bà dán chặt vào người lão đến nhẹ tênh và mềm như dưa, như bún. Trong cái đầu củ chuối của lão, đang định mừng húm thì bất chợt có tiếng con thạch thùng chép miệng tặc lưỡi đánh “tắc” một cái khô khan và lão nghe ra là…“tắc…tị”.

Bất giác lão thở dài trong chân không, vì trộm nghĩ rằng ở cái tuổi này nào còn lòng dạ hơi sức mà đú đỡn như xưa kia cùng một thời vắng bóng…

***

Chẳng ai nói với ai, cả hai đều nhòai nửa người ra khỏi cái giường. Hai thân thể chồng lên nhau như hai hòn đá, như hòn Chồng, hòn Vợ chông chênh nằm lên nhau lạc lõng ngòai biển xa đất vắng. Qua bóng tối chập chọang, hai khuôn người trong cái thế chênh vênh chúi xuống, lửng lơ với gần đất xa trời. Lão và bà chơi vơi là sương khói và nhìn xuống sàn nhà lát gạch hoa. Như thẫn thờ đang đi tìm lại những ngày tháng cũ…

Như mong bắt gặp lại đôi vợ chồng chuột của ngày xưa.

Thạch trúc gia trang

Qúy Tỵ niên 2013

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

(có một thời với bằng hữu

có bút hiệu là Hùng già)

clip_image004

 

 

 

©T.Vấn 2014