09/30/2015
Ngộ Không: Tác Giả và Tác Phẩm- Võ Phiến (I)

clip_image002Tiểu sử

Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn, bút hiệu khác: Tràng Thiên. Ông sinh ngày 20/10/1925 tại làng Trà Bình, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Cha là Đoàn Thế Cần làm giáo học, mẹ là Ngô Thị Cương. Võ Phiến có người em ruột là Đoàn Thế Hối, sinh năm 1932, sau này ra Bắc tập kết, cũng là nhà văn bút hiệu Lê Vĩnh Hoà. Khoảng 1933, cha mẹ xuống Rạch Giá lập nghiệp đem Đoàn Thế Hối theo; Võ Phiến ở lại Bình Định, sống với bà nội, học trường làng, trung học ở Quy Nhơn. 1942 ra Huế học trường Thuận Hóa và bắt đầu viết văn. Bài tùy bút đầu tiên tựa đề Những đêm đông viết năm 1943 đăng trên báo Trung Bắc Chủ Nhật, ký tên Đắc Lang.

1945, Võ Phiến gia nhập bộ đội trong một thời gian ngắn, sang 1946 ra Hà Nội học trường Văn Lang; đến tháng 12/ 1946, trở về Bình Định tham gia kháng chiến, sang năm 1947 về làm thuế quan tại Gò Bồi. Năm 1948, ông kết hôn với cô Võ Thị Viễn Phố (Võ Phiến là Viễn Phố nói lái) và ông dạy học ở trường trung học bình dân Liên Khu V. Cuối năm 1954, ông ra Huế làm việc tại Nha Thông Tin ít lâu rồi xin chuyển vào Quy Nhơn, tại đây ông tự xuất bản hai tác phẩm đầu Chữ tình (1956) và Người tù (1957), gửi bài đăng trên hai tạp chí Sáng Tạo và Bách Khoa. Từ tác phẩm thứ ba Mưa đêm cuối năm (in năm 1958, tại Sàigòn), Võ Phiến bắt đầu nổi tiếng, ông xin đổi vào làm việc tại Sài Gòn, cộng tác thường xuyên với các báo Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn, Khởi Hành, Mai, Tân Văn … và trở thành một trong những cây bút chính của tờ Bách Khoa, cùng với Nguyễn Hiến Lê, Vũ Hạnh v.v… 1962, Võ Phiến lập nhà xuất bản Thời Mới.

Rời nước một tuần trước ngày 30/4/1975, một thời gian sau ông định cư tại Los Angeles, làm công chức thuế vụ.

Võ Phiến là một trong những người đầu tiên có công xây dựng nền văn học Việt Nam Hải Ngoại, chủ trương tập san Văn Học Nghệ Thuật từ 1978 đến 1979, rồi từ 1985 đến 1986. Tờ Văn Học Nghệ Thuật của Võ Phiến là nguyệt san văn học có uy tín đầu tiên tại hải ngoại, là tiền thân của tờ Văn Học mà sau này Nguyễn Mộng Giác tiếp nối. Văn Học Nghệ Thuật đã mở dầu cho một trào lưu văn học đích thực mà sau này trở thành Văn Học Việt Nam Hải Ngoại, hội tụ những cây bút cũ và mới, tạo ra một lớp người viết và người đọc tham dự vào văn chương tiếng Việt.

Từ tháng 7/1994, Võ Phiến nghỉ hưu nhưng vẫn viết, hiện ông sống tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ.

Ông là tác giả của trên dưới 30 tác phẩm gồm đủ mọi thể loại: thơ, truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tiểu luận, tạp luận, biên khảo, phê bình, dịch thuật.

Tác phẩm đã in:

Tiểu thuyết: Giã từ (Bách Khoa, Sài-gòn, 1962), Một mình (Thời Mới, 1965), Đàn ông (Thời Mới, 1966), Nguyên vẹn (Người Việt, California, 1978).

Truyện ngắn: Chữ tình (Bình Minh, Quy Nhơn, 1956), Người tù (Bình Minh, 1957), Mưa đêm cuối năm (Tự Do, Sài-gòn, 1958), Đêm xuân trăng sáng (Nguyễn Đình Vượng, 1961), Thương hoài ngàn năm (Bút Nghiên, 1962), Về một xóm quê (Thời Mới, 1965), Truyện thật ngắn (Văn Nghệ, California, 1991).

Tùy bút: Thư nhà (Thời Mới, 1962), Ảo ảnh (Thời Mới, 1967), Phù thế (Thời Mới, 1969), Đất nước quê hương (Lửa Thiêng, 1973), Thư gửi bạn (Người Việt, California, 1976), Ly hương (in chung với Lê Tất Điều, Người Việt, California, 1977), Lại thư gửi bạn (Người Việt, 1979), Quê (Văn Nghệ, 1992).

Tiểu luận: Tiểu thuyết hiện đại (bút hiệu Tràng Thiên, Thời Mới, 1963), Văn học Nga Xô hiện đại (Thời Mới, 1965). Tạp bút, ba tập (Thời Mới, 1965-66), Tạp luận (Trí Đăng, 1973), Chúng ta qua cách viết (Giao Điểm, 1973), Viết (Văn Nghệ, 1993), Đối thoại (Văn Nghệ, 1993).

Biên khảo: Văn học miền Nam tổng quan (Văn Nghệ, 1986), Văn học miền Nam, 6 tập, gồm 3 tập về truyện, 1 tập ký, 1 tập kịch – tùy bút và 1 tập thơ (Văn Nghệ, 1999).

Dịch thuật: Hăm bốn giờ trong đời một người đàn bà (Stéfan Zweig) (Thời Mới, 1963), Các trào lưu lớn của tư tưởng hiện đại (André Maurois) (Thời Mới, 1964), Truyện hay các nước, 2 tập, cùng dịch với Nguyễn Minh Hoàng (Thời Mới, 1965), Ông chồng muôn thuở (Dostoïevski) (1973).

Toàn bộ tác phẩm Võ Phiến được in lại trong Võ Phiến toàn tập, 9 cuốn (Văn Nghệ, 1993).

(Theo Thụy Khê)

Thác đổ sau nhà của Võ Phiến

Mai Kim Ngọc

Tôi đã được đọc những tuyển tập đầu tiên của Võ Phiến gần nửa thế kỷ trước, hồi 1957-58. Sách ông bấy giờ mỏng hơn, với những tựa mà vì thú vị và ngưỡng mộ, tôi đã thuộc lòng, như Mưa Đêm Cuối Năm, hay Đêm Xuân Trăng Sáng.

Và trong một tuyển tập ấy, tôi được đọc truyện ngắn ‘Thác Đổ Sau Nhà. Đọc xong, tôi đã chia sẻ tức thì với mấy người bạn xung quanh, rằng đó là truyện hay nhất trong những truyện ngắn Việt Nam tôi đã được đọc.
So với các truyện ngắn hay nhất thế giới, bấy giờ tôi nghĩ ‘Thác Đổ Sau Nhà’ có chỗ đứng nghiêm túc cạnh những tác phẩm cùng loại của Guy de Maupassant, của Lỗ Tấn, của Anton Chekhov… Bây giờ là gần 50 năm sau, tôi vẫn nghĩ như vậy, mặc dầu đã được đọc thêm những truyện ngắn của Kawabata, của Gabriel García Márquez, và của nhiều tác giả mới tìm thấy trong ngoại văn…

Trước khi bàn thêm vào chuyện, tôi muốn mở dấu ngoặc ở đây để nói về một hiện tượng khá vui trong văn học. Là cuốn truyện độc giả cho là lý thú nhất, có thể không phải là tác phẩm đắc ý nhất của tác giả. Tôi biết chị Võ Phiến rất ưng ý truyện ‘Nguyên Vẹn’. Nhưng tôi chọn ‘Thác Đổ Sau Nhà’ để trao đổi với quý vị hôm nay, thay vì ‘Nguyên Vẹn’, tôi có những lý do đặc biệt.
Lý do đặc biệt đó là tôi được gặp gỡ ‘Thác Đổ Sau Nhà’ trong một thời điểm đặc biệt và một địa điểm đặc biệt.
Thời điểm đó là cuối thập niên 50. Sau gần ba năm hòa bình, cuộc chiến mới lại bắt đều nhen nhúm. Tuy chưa có những trận đánh lớn, nhưng từ góc nhìn y tế, chúng tôi không còn xa lạ với kết quả của du kích chiến với những hành động khủng bố dọc các trục giao thông và tại những chỗ đông người. Còn địa điểm đặc biệt tôi được gặp tác phẩm Võ Phiến chính là phòng nội trú trực bệnh viện Chợ Rẫy.

Thời gian và không gian ấy làm cho tôi cảm thấy trực tiếp gần gũi với những suy nghĩ của tác giả cũng như của nhân vật ‘Thác Đổ Sau Nhà’ với chiến cuộc đang đầu độc cuộc sống xung quanh.
Chuyện xảy ra một phiên gác gần Tết. Một chuyến xe đò bị phục kích khoảng xế chiều gần Long An, trên đường Mỹ Tho – Sài Gòn. Những người chết đã yên phận, những người bị thương nhẹ đã được đưa về bệnh viện Long An săn sóc, vậy mà vẫn còn đến mấy cái chân phải cưa, hai ca bụng và một ca rách phổi phải mổ. Đám nội trú ngoại trú chúng tôi xúm nhau giải quyết.

Phần tôi được phụ trách một người đàn bà trẻ bị mảnh mìn xuyên vào bụng. Chị có thai đã được khoảng bốn tháng. Tới được bệnh viện, vết thương chị còn rỉ máu, tay chị lạnh ngắt, mặt chị xanh như tàu lá, mắt chị lờ đờ như sắp hôn mê. May mắn, loại máu chị đêm ấy bệnh viện còn dư hai bịch, kịp cho chúng tôi có thì giờ hồi lực cho chị, và mở bụng ra và kẹp lại mấy mạch máu đang rỉ rả băng huyết.

Bệnh nhân sống, nhưng cái thai không giữ được. Cô Hoa y tá đánh thuốc mê nhặt cái bào thai đã đầy đủ chân tay mắt mũi, nhẹ nhàng bỏ vào chai cồn. Cô nói, ‘Để em chôn em bé tử tế, vứt nó vào kho rác bệnh viện thì tội nghiệp quá’.
Tôi ra hành lang báo cái tin nửa vui nửa buồn cho gia đình đang ngồi chờ. Rồi tôi trở về phòng gác, lại nghĩ đến những người du kích cộng sản nói chung, và về người du kích hôm nay nói riêng. Ngồi rình sau bờ ruộng hay khóm tre, giữa những cụm ô rô và dừa nước, anh ta nghĩ gì khi giật cái quả mìn đã tạo ra tai nạn này. Anh ta dù ngây thơ đến đâu cũng biết rằng ông Diệm ông Nhu, hay các ông bộ trưởng, hay các quan chức không ngồi trong chiếc xe đò lục tỉnh bình dân ấy. Mà cũng không có đơn vị lính cộng hòa nào hành quân bằng xe đò.
Không, tôi chắc anh ta sẽ không ngạc nhiên nếu biết rằng chiến công của anh là một người đàn bà trẻ mang bầu bốn tháng suýt chết, sống sót được nhờ phòng mổ may mắn còn đủ máu để cứu chị; là em gái thai nhi, con búp bê tuyệt vời bằng da bằng thịt, đẹp và vô tội như một thiên sứ, mà sự sống chưa bắt đầu đã bị chấm dứt vì quả mìn của anh ta…
Về lại phòng trực, cái hình ảnh em gái thai nhi trong chai thủy tinh đựng cồn vẫn còn trong đầu tôi, cũng như câu hỏi đã tự hỏi nhiều lần, ‘Ông du kích giật mìn xe đò, ông là ai?’ Thường thường tôi không có câu trả lời. Nhưng hôm ấy, vì một tình cờ tôi tìm ra phần nào chân dung nguời du kích: có ai bỏ quên tuyển tập truyện ngắn của Võ Phiến trên bàn ăn phòng gác. Giở ra đọc, tôi trúng ngay vào ‘Thác Đổ Sau Nhà’.

Tôi đọc một hơi hai lần, đọc xong thì mãn đêm trực. Và tôi nghĩ tôi hiểu được rất nhiều về người du kích cộng sản chưa gặp mặt, mà từ khi làm nội trú tôi vẫn phải đương đầu với những chiến công thảm khốc của anh. Tôi gặp anh ta qua nhân vật Thọ của Võ Phiến.
Thọ là một cán bộ cộng sản tập kết, để lại vợ trẻ bơ vơ và cha già lẩm cẩm. Võ Phiến không dễ dãi như phần đông những văn chương chống cộng thời ấy, không biến Thọ thành một quái vật răng đen mã tấu. Võ Phiến để cho Thọ tự tả mình. Hãy nghe Thọ tâm sự lần chót với vợ trước khi tập kết:
Con người ta ao ước xung quanh mình cái gì cũng có trật tự, muốn cho tư tưởng mình góp lại thành hệ thống, muốn cho muôn vật xếp vào từng loại, có hướng đích. Bấy lâu cuộc sống phát triển một cách tự động, xã hội lộn xộn bừa bãi, giậm chân một chỗ hàng thế kỷ không tiến lên được. Người ta mong muốn tránh sự lộn xộn, tự động, muốn một tổ chức hợp lý, muốn dắt dẫn xã hội đi nhanh về một hướng. Sự mơ ước say mê nào cũng tàn nhẫn. Nhưng lần này phải tàn nhẫn với tất cả mọi người, tất cả loài người, để theo đuổi một mơ ước… nhiều khi người ta cũng thấy việc đó quá sức mình, người ta muốn xuôi tay cho xong… Em thấy không, anh khổ quá, khổ quá sức! Hạnh, em phải hiểu cho anh… Bắt đầu là sự chán nản trước một tình trạng hỗn độn bừa bãi vô trật tự tuyệt vọng, xã hội cũ không để cho lớp người như anh một chút tin tưởng gì. Thầy mẹ chúng ta khác, em thấy không? Thầy có chỗ tin tưởng của thầy, chỉ có lớp anh mới khốn khổ bơ vơ, anh có thể sống vậy được sao, anh phải đi tìm một tin tưởng. Bây giờ anh đã là một cái trục nhỏ trong bộ máy lớn đang chuyển hết tốc độ để thực hiện một mơ ước…’

Rõ ràng là Võ Phiến bắt mạch được Thọ. Người đảng viên này khao khát những chuyện to lớn, tìm một lối đi. Và Võ Phiến thấy rõ cái khao khát đó không hẳn là khao khát độc lập tự do hạnh phúc cho dân tộc, không phải là lòng yêu nước… Chuyện ấy Thọ không đề cập đến, yêu nước là hệ luận phụ, trong khi chuyện chính là đấu tranh giai cấp để tiến tới thiên đường của thế giới đại đồng mà người cộng sản đệ tam mơ ước.
Nó nhắc tôi đến những năm học tại khu IV Thanh Hoá, trong các buổi học tập dành cho học sinh dù mới đang học trung học đệ nhất cấp. Những đề tài triết học loại đó được đưa ra dưới những tựa và từ vô cùng hấp dẫn và oai, như ‘nhân sinh quan’, ‘vũ trụ quan’, mà học sinh cảm thấy mình quan trọng khi được dự phần. Nhưng tôi cũng nghĩ chuyện trên trời dưới bể như vậy, phần đông chúng tôi quên tức thì.
Nhưng một câu hỏi mới hiện ra, là tại sao nó lại thấm vào xương vào tủy những người như Thọ. Đọc Võ Phiến xong, ta có thể lý giải như thế này. Một giáo làng như Thọ bỗng nhiên được sinh hoạt như thể đang dự phần vào những sự kiện có tầm quan trọng đến trật tự thế giới, cái quan trọng hoang tưởng làm sao không bốc lên đầu. Làm sao không say mê được, nếu mình được thuộc vào guồng máy lớn có khả năng áp đặt trật tự cho mọi diện của cuộc sống tinh thần hay vật chất của tất cả loài người. Và bản thân mình, khi được đồng hóa với guồng máy lớn đó, dù với tư cách một bánh xe nhỏ, lại có quyền tàn nhẫn với tất cả loài người để thực thi cái giấc mơ thiên đường hạ giới. Cái oai của người đảng viên, dù là đảng viên ‘trục nhỏ’ như Thọ gọi, nôm ra ra là đảng viên tép riu, có sức cám dỗ vô cùng mãnh liệt… Trong tâm trạng đó, Thọ có thể dễ dàng tàn nhẫn với ngay bà ngoại ruột của mình, để bà chết vì đấu tố mà không tới thăm, với cả cha mình, để ông đi tù vì thiếu thuế của cộng sản, mà anh ta không thay đổi lòng trung thành với đảng.

Và ly kỳ nhất là Võ Phiến còn giải thích được tại sao ở cấp cán bộ tép riu của Thọ, người cộng sản chấp nhận rằng những hy sinh anh ta phải làm, những tàn nhẫn anh ta phải đem đối xử với vợ con cha mẹ và bản thân, cấp trên của anh được miễn. Khi câu hỏi được nêu lên, Thọ nói:
‘… như thế không phải là có sự phỉnh gạt. Cùng đeo đuổi một lý tưởng không phải ai cũng làm như ai. Mỗi cương vị có một nhiệm vụ khác nhau. Ở cương vị này, làm việc này, phải có thái độ này, phải sống cái tình cảm này; ở cương vị kia, làm việc kia, thì phải có thái độ kia mới thích hợp. Trong vai trò điều khiển phải có một thái độ; trong vai trò chấp hành phải có thái độ khác. Mọi người thấm nhuần lý tưởng chung, nhưng hoạt động trong vai trò của mình, ai có vai trò nấy. Quan niệm máy móc, tự đặt mình vào vị trí kẻ khác… Không được đâu. Một tế bào của lá phổi không hoạt động như một tế bào của bộ não; nhưng cả hai đều phải sống đúng cái chân lý sinh hoạt của một con người. Mình phải có cái quan niệm kỷ luật…’
Còn lại một câu hỏi, là phải có một căn cơ thế nào Thọ và những người như anh mới để những đại ngôn loại nhân sinh quan vũ trụ quan của cán bộ tuyên truyền phỉnh phờ đến chỗ nhận làm đảng viên tép riu, để ác với nguời thân và người không thân, tóm lại với cả loài nguời? Võ Phiến đã minh bạch trả lời câu hỏi ấy. Là căn cơ ấy là căn cơ của Thọ, một con người yếu đuối về thể xác lẫn tinh thần. Dưới mắt người vợ, Thọ hèn yếu với tấm thân gầy còm xấu xí, mà chính anh ta hổ thẹn ngay cả những lúc phải khỏa thân trong đời sống vợ chồng. Thọ hèn yếu tâm thần, có gì khó nghĩ là trằn trọc thao thức suốt đêm… Thọ ghen kinh khủng, nhưng không đủ can đảm, hay nói cách khác, là quá hèn để nhận mình ghen… Tóm lại Võ Phiến cho ta hình ảnh của một con người thất bại, bỗng dưng tìm được lẽ sống trong vai tuồng một chiếc bánh xe nhỏ trong guồng máy lớn của cộng sản quốc tế có khả năng áp đặt trên người khác cái kỷ luật của mình. Từ cái oai đó, anh ta có khả năng tàn nhẫn tuyệt đối để thực hành cái mơ ước ấy.
Tôi chưa thấy một cuốn tiểu thuyết chính trị nào viết trung thực, điêu luyện, và thuyết phục đến thế. Tôi nghĩ nó có sức công phá ghê gớm. Hèn chi có một thời điểm trong lịch sử rất gần, đối phương gọi Võ Phiến là ‘biệt kích văn hóa’. Phải thốt lên những lời như vậy, phải chăng họ đã trúng thương.

So với văn chương chống cộng thế giới, ‘Thác Đổ Sau Nhà’ có giá trị thuyết phục như cuốn Doctor Zhivagocủa Boris Pasternak, tuy rằng người cộng sản ở cuốn tiểu thuyết Nga được giải Nobel này thuộc thành phần cao cấp hơn và trí thức hơn anh giáo làng tên Thọ ở vùng núi Quy Nhơn…
Những nhân vật khác của ‘Thác Đổ Sau Nhà’ cũng rất đặc biệt. Thí dụ như Kha, nhân vật quốc gia sống trong vùng cộng sản suốt cuộc chiến chống Pháp, và suốt thời gian ấy có lẽ bị giam lên giam xuống, cho đến khi miền Nam được thành hình. Với đệ nhất cộng hòa miền Nam, Kha có đất sống, và trở thành một quận trưởng dấn thân. Qua ngòi bút của Võ Phiến, Kha đem lại sinh khí cho người miền Nam. Tôi biết có nhiều công chức, quân nhân, y sĩ, kỹ sư, giáo chức miền Nam, thấy Kha giống mình. Và qua Kha, Võ Phiến làm tôi nhớ đến phong độ của con người miền Nam lên cao thời ấy, theo với sự phát triển của miền Nam trong nhiệm kỳ tổng thống đầu của đệ nhất cộng hòa, từ giáo dục, thể thao, văn học, kinh tế, đến lập pháp, tư pháp…

Nhưng có lẽ thấm thía nhất là nhân vật Hạnh, người đàn bà Thọ bỏ lại để đi tập kết. Chị là học trò cũ của Thọ, về sau lấy Thọ. Chị trẻ hơn Thọ nhiều, có lẽ học xong tiểu học, nhưng khôn ngoan hơn chồng. Chị thương chồng, mà người chồng vì quá nhiều mặc cảm, và quá nhiều trăn trở không ít thì nhiều vì cái mặc cảm tạo ra, không đáp ứng được tình yêu của chị… Chị bị chồng bỏ lại để đi tập kết. Chị sống bơ vơ một thời gian.
Cái cảnh cô đơn từ khi chồng còn chưa đi tập kết, lại càng cô đơn hơn khi bị anh bỏ lại một mình. Chị phải đảm đang thêm nhiều công việc mà người đàn ông ra đi đã để lại cho chị cáng đáng, trong đó có việc lên núi chăn đàn bò của gia đình. Một đêm nọ có người thợ săn lạc tới. Trong đêm, ông ta tưởng đàn bò của chị là đàn nai, và nổ súng. May đạn thối, còn những hòn đạn mới ông toan nạp lại vào súng lại tuột tay rơi xuống khe. Bấy giờ ông nhận ra sự lầm của mình, và mừng rỡ ông chạy tới lán người chăn bò, thấy hắn đang ngủ say. ‘Hắn’ là chị.

Mới đầu cả người thợ săn lẫn người chăn bò cùng mừng rỡ vì tai nạn không xảy ra, nhưng rồi cả hai ghi nhận hoàn cảnh của họ là hoàn cảnh của người đàn ông và người đàn bà giữa rừng núi hoang vu. Chuyện phải đến đã đến. Chị không trách ai, nhưng chị tủi thân vì ông ta chỉ thấy chuyện chung chạ một đêm với chị là một a-văng-tua của cuộc đời săn bắn, thế thôi… Tất cả chỉ là cái thú xác thịt, của ông ta cũng như của chị. Ở ông ta cái thú vô tư lự, không phán xét mình hay người, ở chị cái thú lẫn với xấu hổ và tủi nhục… Và sáng hôm sau, ông xuống núi ra khỏi khu rừng, không thắc mắc, không hẹn hò tái ngộ, cũng không ngoái đầu nhìn lại một lần chót… Thật ra hành động của người thợ săn ấy không làm ta ngạc nhiên. Ông ta là ông quận Toàn, chỉ thú đi săn, và thú ăn ngon, thú hưởng thụ. Thời thế mặc thời thế, ông chỉ xoay sở để những thú vui của mình được nguyên vẹn.

Để chấm dứt cái cảnh vất vưởng ấy, chị lấy Kha, trở thành bà quận trưởng. Tôi nghĩ Võ Phiến rất thương yêu nhân vật này. Tôi cảm thấy có lẽ Võ Phiến dùng chị làm ẩn dụ cho đất nước Việt Nam, một giải đất rất đẹp đã bị Thọ và Kha tượng trưng cho quốc và cộng thay phiên nhau làm chủ, đã bị sử dụng một đêm bởi quận Toàn tượng trưng cho cuộc sống xôi thịt vô tâm vô tình, của một số người miền Nam. Nhưng chị đã phục hồi, như những người nữ của những truyện hay Việt Nam. Và bao giờ chị cũng đáng yêu. Rất nhiều nữ độc giả thấy mình trong nhân vật nữ này.

Cô Hoa, cán sự y tế đánh thuốc mê cho tôi mổ hôm đó, hóa ra là chủ nhân cuốn sách bỏ quên trên bàn nội trú. Chính cô đã để riêng cái xác em gái thai nhi để chôn cất nó tử tế. Cô thông minh, cuộc sống hoàn toàn bình thường và hạnh phúc, sắp làm đám cưới với anh ngoại trú bạn tôi, vậy mà rất tâm đắc với vai nữ của ‘Thác Đổ Sau Nhà’.

Cô bảo, ‘Anh ạ, em hoàn toàn thấy em trong nhân vật Hạnh… Em không quen tác giả, nhưng nhiều khi em cứ tưởng như ông Võ Phiến dựng nhân vật này cho em…’

*
Toàn bộ, ‘Thác Đổ Sau Nhà’ thành công ở chỗ ghi lại với nghệ thuật rất cao tâm sự trăn trở của người thanh niên Việt Nam thời đó, quốc cũng như cộng. Hơn nữa nó ghi lại cái đẹp của tâm hồn Việt Nam qua vai người nữ, không phải cái đẹp công thức của một Kiều Nguyệt Nga qua cơn binh lửa mà bùn không lấm tới gót chân, mà một con người rất gần với chúng ta, đã ngã xuống bùn mà vẫn vùng lên với đầy đủ nhân phẩm tự trọng, nhờ có trái tim, có trí óc…

Thời giờ không cho phép kéo dài hơn, tôi xin tóm lại là ‘Thác Đổ Sau Nhà’ là một tác phẩm tuyệt bút hiếm hoi. Có thì giờ phân tách ra mà nhìn từng diện của văn chương, như cách sử dụng đối thoại, dẫn dắt sự việc, dàn dựng nhân vật, gài ý vào lời, tả cảnh tả tình, âm điệu của từ ngữ, vân vân… truyện lại càng hay hơn. Tôi xin dành phần kỹ thuật ấy cho các vị giáo chức văn chương khai triển…
Nếu quý vị hỏi trong sự nghiệp văn học đồ sộ của nhà văn lớn, bao nhiêu truyện tôi cho hay bằng ‘Thác Đổ Sau Nhà’. Câu hỏi thật khó trả lời vì nét đa dạng của văn phong Võ Phiến. Tất nhiên là Võ Phiến không thiếu truyện hay, nào ‘Thương Hoài Ngàn Năm’, nào ‘Đêm Xuân Trăng Sáng’, nào ‘Nguyên Vẹn’, nào ‘Giã từ’… Nhưng nếu quý vị chấp nhận cái nhìn chủ quan của tôi, thú vị nhất vẫn là ‘Thác Đổ Sau Nhà’.

Lại mượn lời Kawabata nói qua miệng nhân vật Oki trong ‘Đẹp và Buồn’, một đời người mà vắt ra được một truyện hay như vậy, chẳng đã là thành công rất lớn sao?

Jan 27, 2007

Đọc một chữ, trăm nỗi niềm

Nguyễn Xuân Hoàng

(đàm thoại)

Nguyễn Xuân Hoàng(N.X.H.): Rồi đây e không còn ai viết truyện dài, không có những công trình văn nghệ qui mô nữa. E nghệ phẩm cứ theo thời mà teo dần…
Võ Phiến (V.P.): Uả, có chuyện gì xảy ra vậy?
N.X.H.: Ai cũng bận hết, ai cũng quen thói đọc nhanh cả, riết rồi hễ bốc phải cuốn sách dày là phóng như ngựa phi đường trường. Chết sách thôi. Truyện ngắn, sách mỏng: cứ trình ra thị trường những món nhè nhẹ dễ tiêu như thế có hi vọng được chiếu cố kỹ hơn. Không đến nỗi uổng công đẽo gọt. Có lẽ đó là chiều hướng sáng tác của tương lai chăng?
V.P.: Ấy chết. Hoá ra ông vẫn còn bị ám ảnh về một biện pháp đối phó với hoàn cảnh mới, ông vẫn đang tìm kiếm đường hướng mới. Khoan đã, ông ơi. Việc gì phải đến rồi nó sẽ đến. Bây giờ hãy tiếp tục suy nghĩ thêm đôi điều về những hậu quả của một thời vội vã.
Theo chỗ tôi nhận thấy, khi đọc nhanh thì bộ sách nghìn trang bị thiệt thòi, mà bài thơ bốn câu cũng cứ bị thiệt như thường. Ðọc vội thì đọc văn chết văn, đọc thơ chết thơ, đọc sách dày chết sách dày, đọc sách mỏng chết sách mỏng. Cái mẹo của ông vị tất cứu thoát nổi văn chương.
N.X.H.: Ông có ngon trớn mà đi quá xa chăng? Tôi chưa hiểu vì sao một bài thơ ngắn cũng đến nỗi bị nguy hại vì thói đọc nhanh.
V.P.: Cái đó có đấy. Ông có biết hai câu lục bát này không?
“Chờ anh em mãn kiếp chờ,
Chờ cho ến xại vượt bờ khùi ui.”
N.X.H.: Ông vừa đặt ra đấy hả?
V.P.: Không. Ca dao đấy. Truyền tụng đã lâu trong nước.
N.X.H.: Nước nào?
V.P.: Việt Nam. Vùng Bạc Liêu. Bạc Liêu là đất sinh sống của dân Tiều. Trong câu ca dao nọ tiếng Tiều xen lẫn vào tiếng Việt. Trên một số báo xuân gần đây, ông Lê Văn Lân đã cao hứng đưa ra mấy câu cho bà con thưởng thức chơi.
N.X.H.: Ðiệu này thưởng thức gì nổi.
V.P.: Thì đấy. Ông Lê có giải thích: “ến xại” là hai chữ “ung thái” phát âm theo giọng Triều Châu. Ung thái tức rau muống. Còn “khùi ui” là “khai hoa” theo giọng Triều Châu. Hai câu đó, ông Lê dịch:
“Chờ anh em mãn kiếp chờ,
Chờ cho rau muống vượt bờ nở bông.”
N.X.H.: Nghe thắm thiết lắm.
V.P.: Vậy thì nghe thêm:
“Chim kêu ngồ ố, láng dài
A hia xủa bố, a mùi ùm chai.”
Thắm thiết không?
N.X.H.: Ông Lê Văn Lân dịch thế nào?
V.P.: “A hia” là anh, “xủa bố” là cưới vợ, “a mùi” là em, “ùm chai” là không biết. Ông Lê dịch:
“Chim kêu ngồ ố, láng dài,
Anh đi lấy vợ, em rày chẳng hay.”
Ca dao “xủa bố”, ca dao “ến xại”, ở Bạc Liêu trai gái hát đi hát lại bao đời, anh ngậm ngùi em thổn thức, ông lại chê! Ông nghe thêm mấy bài nữa nhé.
N.X.H.: Có lẽ đủ rồi. Cũng biết thêm một loại văn chương…
V.P.: Ông thấy loại ấy ra sao? Bây giờ, nhờ ông Lê, chúng ta đã hiểu ý nghĩa những câu ấy đầy đủ, ông đọc lại nguyên bản thấy thích không? “Chờ cho ến xại lên bờ khùi ui.” Thế nào? “A hia xủa bố, a mùi ùm chai.” Thế nào?
N.X.H.: Thì ông sao tôi vậy. Chắc đại khái như nhau. Ðọc lên, không thấy có cảm xúc gì. Nghĩa là chưa có, chúng ta chưa kịp có cảm xúc. Có lẽ những bà con ở Bạc Liêu…
V.P.: Ðấy! Biết rõ cái nghĩa chữ trong một câu văn một câu thơ, không đủ. Ðọc cuốn sách toán, sách thiên văn, địa lý, hiểu rõ nghĩa là đủ; nhưng đọc văn nghệ phẩm thì như thế chưa giúp ta thưởng thức được gì.
Tôi hiểu ý ông mà. Ông vừa thoái thoát: “Ðủ rồi”, tôi hiểu ngay. Ông nói thế cũng như cụ cố Hồng kêu “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi.” Thơ “ến xại”, biết chừng ấy quá đủ. Còn chị Trúc đọc thơ Nguyễn Bính, tôi chắc chắn không vội kêu đủ đâu:
“Chị có một em, em một chị
Trời làm xa cách mấy non sông”…
Lời lời như thế, chán thế quái nào được. Ðọc một chữ thích một chữ, đọc một câu sướng một câu. Ðọc qua một lần chị rơm rớm nước mắt. Muốn đọc lại ngay. Ðọc lại chị vội vơ khăn lụa. Chữ đậm chữ nhạt, tiếng có tiếng không, lời mờ lời tỏ, chúng nó kết hợp với nhau diễn bày cái gì vậy cà. Chữ nghĩa của chú em sao mà tha thiết tình tứ quá trời. Và tội nghiệp ơi là tội nghiệp. Thương quá sức. Thơ chú em đâu có bí hiểm gì, cái biết chị biết từ khuya. Nhưng chữ nghĩa ấy cứ còn nhẩm trên môi nó còn nhả ra tình cảm, làm mềm cả lòng người. Từng chữ từng lời từng tiếng trong câu văn câu thơ thành công, nó không chỉ chứa cái để biết, nó còn tiết ra từ từ muôn vàn cái để cảm. Từ từ, xin nhắc lại là từ từ.
Xem sách, gặp chữ. Mỗi chữ là một ký hiệu. Mỗi ký hiệu tương ứng với một ý tưởng, hay với một hình ảnh, một âm thanh, một sự vật cụ thể. Cái chủ yếu trong nghệ phẩm là những hình tượng cụ thể được gợi lên. Một chữ, một ký hiệu xa lạ mắt ta gặp thấy, miệng ta đọc lên mà nó không gợi nên một hình ảnh gì cả thì nó không có khả năng gây xúc cảm. “Ến xại”, “khùi ui” đều có mang theo ý nghĩa rõ ràng, nhưng (đối với chúng ta) nó không mang theo hình ảnh nào, nên không gây được rung động. Ngay những tiếng “ngồ ố”, “láng dài”, chúng ta cũng thấy nó xa lạ, nó không có âm vang tình cảm trong tâm hồn những người ở các địa phương cách xa Bạc Liêu.
Trường hợp đọc nhanh cũng có chỗ liên quan với trường hợp đọc ngôn ngữ xa lạ.
N.X.H.: Có phải ông muốn nói đọc nhanh thì không bắt được hình ảnh?
V.P.: Có thế ông à. Từ cái lúc con mắt mình bắt gặp ký hiệu (chữ viết) cho đến lúc một hình ảnh nào đó được gợi lên, dựng ra trong trí, phải có một khoảng thời gian.
Một câu văn có nhiều chữ, một đoạn văn có nhiều câu, một bài văn có nhiều đoạn. Ký hiệu này gợi một hình ảnh, ký hiệu kia gợi một mùi, ký hiệu nọ gợi một âm thanh, một vị, một màu, một tình cảm, một rung động v.v… Phải có thời gian tối thiểu cho nó. Phải chờ nó xuất hiện, chờ nó kịp tác động. Ðừng hối hả quá, đừng xô đẩy nó gấp quá. Chữ viết trên một thông cáo, một văn thư hành chánh chỉ nhả ra cái nghĩa. Chữ viết trên một tác phẩm văn chương, nó nhả ra một thế giới cảm xúc. Ðọc nhanh, hỏng hết. Thành ra thơ “ến xại”, “khùi ui” tuốt.
N.X.H.: Có thế. Bài thơ nhạt vị hẳn đi. Dù sao, phải nhận rằng cách ông phát biểu có phần cực đoan.
V.P.: Có lẽ. Khi mình mải mê đuổi theo một lý luận, say sưa chứng minh một điều gì, mình bị cuốn hút theo một chiều hướng, dễ đâm cực đoan. Ông can thiệp đúng lúc. Vậy đừng hăng hái quá. Chúng ta thư thả, lai rai, tản mạn từ chuyện nọ sang chuyện kia. Này, tôi chợt nhớ mấy câu thơ của Huy Cận thời tiền chiến:
“Tới ngả ba sông, nước bốn bề,
Nửa chiều, gà lạ gáy bên đê.”
N.X.H.:
“Làng xa lặng lẽ sau tre trúc;
Bến cũ thuyền em sắp ghé về.”
Bài ‘Em về nhà’ trong Lửa thiêng, phải không?
V.P.: Chính đấy. Ông cũng thích cũng nhớ mấy câu ấy hả? Ngày tôi tiếp xúc lần đầu với những câu thơ đó tôi chưa trông thấy cái ngả ba sông nào, chưa biết con đê nào cả, vậy mà vẫn thấy xao động lạ lùng.
“Tới ngả ba sông, nước bốn bề
Nửa chiều, gà lạ gáy bên đê.”
Tiếng gà gáy thì tất nhiên là quen thuộc. Cái tiếng gà gáy vào lúc nửa chiều, ở chỗ sông nước mênh mông, tiếng con gà lạ nơi một ngả ba… Trí tưởng tượng tha hồ vẽ vời. Từ cái biết rồi, mơ tưởng đến những cái chưa biết. Từ cái đã có sẵn trong kỷ niệm đến những cái mình tiếp tục dựng lên. Chúng ta bị cuốn đi xa, thật xa…
Sau này Xuân Diệu viết cuốn Thế giới thơ Huy Cận, có đoạn đề cập tới câu thơ nọ. Ông ta bảo hai câu thơ vừa rồi “chứa cảnh, chứa hồn, chứa cả những gì không thể nói được.” Ông có chú ý tới cách nói ấy không? Ngay Xuân Diệu, gần gũi Huy Cận là thế, gắn bó với thơ trước sau là thế, mà cũng không nói được cái chứa của câu thơ: “Những gì không thể nói được.” Mơ hồ quá, rộng lớn quá. Quả như mình cảm tưởng.
Xuân Diệu không biết hết cái “chứa” của câu thơ, nhưng ông ta biết rõ về khung cảnh trong câu thơ. “Ðây là Ngã ba Tam Sa trên sông Phố, tại Linh Cảm, ở quê Hà Tĩnh của Huy Cận.” Linh Cảm: Ðịa danh ấy làm tôi liên tưởng đến mối tình đau đớn của người bạn lớn hơn tôi ba bốn tuổi… Người nữ sinh anh yêu chính ở Linh Cảm. Bấy giờ tôi nào biết Linh Cảm là đâu, nhưng cái cách anh ấy nói đến hai tiếng Linh Cảm trong những đêm tâm sự truyền cho nó bao nhiêu là thắm thiết, bi thương, quằn quại… Tôi có dịp trông thấy một lần ngắn ngủi cô nữ sinh nọ trong cuộc gặp gỡ giữa hai người. Tôi có cảm tưởng tình yêu ấy chỉ một chiều. Cô gái không nói gì mấy. Nét mặt dịu dàng, nhẫn nhục, thương cảm. Gặp nhau một lần ấy rồi thôi, sau này không có sự qua lại nữa. Tuy nhiên, trong nhiều năm trời sau đó tôi nhận thấy anh bạn tôi vẫn không thoát nổi mối tình. Ðang dạy học ở Huế, anh bạn bỏ dạy; hỏi đi đâu, bảo nghe mách có chỗ dạy ngoài Hà Tĩnh, muốn ra xem thử. Lại lần khác gặp biến cố lớn, gia đình chờ mãi bặt tin anh, rất lo lắng. Về sau anh về, bảo rằng lúc ấy bị kẹt ở Linh Cảm v.v… Tôi lén lút nhìn anh, thương xót.
Từ đó, tiếng gà lạ gáy bên đê lại gợi lên trong trí tôi những liên hệ u ẩn, khổ đau, gợi một nét mặt đẹp dịu dàng và buồn bã; cái ngã ba sông nước bốn bề tự dưng liên hệ với nỗi đau âm thầm một đời v.v…
Mình càng gần gũi lâu một ngôn ngữ càng thấy nó chất chứa trong mỗi lời mỗi tiếng lắm điều ngổn ngang. Hãy thư thả, thư thả. Ðể cho mỗi tiếng từ từ nhả ra hết cái chứa đựng tình cảm của nó. Cầm khúc xương gà mút qua một cái, thấy vô vị, vứt đi. Kẻ nhẩn nha cắn vỡ nó ra, hút được cái tủy trong xương, thấm lắm ông ơi.
N.X.H.: Trong câu văn, nhất là câu thơ, tất nhiên có chứa những cái nói được. Nhưng quan trọng nhất lại là có chứa cả những gì không thể nói được…
V.P.: Và cái đó mới là cái mình cần thưởng thức cho kỳ được. Cái phần tinh túy ấy, câu văn câu thơ nào cũng ôm ấp giữ riệt lấy như giữ của quí, như gái giữ thân, chỉ chịu trao cho bậc tri kỷ. Những tiếp xúc văn chương nhanh chóng, dễ dàng, không đi đến đâu…
N.X.H.: Nhưng, xin lỗi, tôi nghĩ cách thưởng thức văn thơ như thế có gì không ổn.
Trong câu thơ của Huy Cận không hề có hình ảnh một khuôn mặt nữ sinh dịu hiền, không có tâm trạng tan tác của mối tình một chiều v.v… Trong ấy Huy Cận gửi vào một hình ảnh cũng đẹp đẽ nhưng khác xa: cô em đi thuyền “về nhà” nọ có thể đã nhiều lần nép mình trong vòng tay anh v.v…, chia xẻ những phút giây nồng nàn… Cái được gửi vào trong mỗi chữ khác với cái được chữ nhả ra.
V.P.: Thì vẫn thế. Tác phẩm văn chương chẳng qua là những quán trọ Y-pha-nho. “Ta chỉ giàu những của sẵn mang theo.” Nếu người đọc đi vào sách chỉ mang theo cái tâm sự của đứa trẻ lớp mẫu giáo thì chẳng tiếp nhận được mấy tình cảm đâu, dù sách là đại danh phẩm. Câu thơ hay chỉ khua dậy những tình cảm trong lòng người đọc “giàu”. Nhưng dù có “giàu” tới đâu, có chất chứa bao nhiêu của cải bên trong, cũng phải kịp có thì giờ dàn ra chứ.
N.X.H.: Nói về cái thơ cái thẩn, lan man một chút như thế có bớt căng.
V.P.: Thì lan man thêm chút nữa đi. Theo chân ông Bùi Giáng nhé. Có ông Bùi Giáng thì hết căng ngay.
N.X.H.: Bùi Giáng cũng có nói về hoàn cảnh mới cho sáng tác văn nghệ nữa sao?
V.P.: Ðâu có, đâu có. Bùi quân vượt ra ngoài không gian lẫn thời gian. Ông không lý đến chuyện hoàn cảnh đổi thay này nọ đâu.
Chính bởi ông Bùi vượt thời gian mà tôi muốn nói đến ông lúc này. Số là cách đây vài tháng bà Phan Thị Trọng Tuyến có gửi cho mượn cuốn Ngày tháng ngao du, in từ năm 1971, đọc thấy có những ý kiến bây giờ vẫn còn hay còn đúng. Tôi khoái quá, liền ca ngợi ngay, giờ lại muốn ca ngợi nữa. Không nhịn được.
N.X.H.: Uả, việc gì phải nhịn cho nó bí người? Muốn ca, xin cứ ca bằng thích.
V.P.: Xin vâng. Này nhé, ai nấy đều biết Nguyễn Du có câu “Phong lưu rất mực hồng quần” chứ gì? Ông Bùi Giáng liền đặt ra vấn đề: “Hồng quần là quần hồng. Quần hồng là biểu tượng đàn bà. Nhưng chỗ kỳ dị là: không thể dùng tiếng ‘Ðàn bà’ thay thế cho tiếng hồng quần trong câu thơ đó. Thử đọc: ‘Phong lưu rất mực đàn bà’??? Và kỳ dị hơn nữa: không thể đem tiếng quần hồng thay thế cho tiếng hồng quần. Thử đọc: ‘Phong lưu rất mực quần hồng’ thì mọi người đều phì cười. Tại sao có sự lạ đó.”
Bùi quân lại còn giải rõ thêm: “Nếu đem quần hồng thay thế cho hồng quần, thì lời thơ tan hoang tinh thể. Làm sao một ông giáo sư trịnh trọng có thể giải thích sự huyền bí đó cho học sinh luyện thi? Ông chỉ có thể bảo rằng: Nàng Thúy Kiều sống phong lưu rất mực, ngày ngày tháng tháng nàng luôn luôn vận chiếc quần hồng. Và học sinh sẽ cười rộ suốt cả lớp. Còn học hành gì được nữa?”
N.X.H.: Ông Bùi Bàng Giúi vui thật. Vừa thâm vừa vui.
V.P.: Chưa hết. Bùi quân còn vui còn thâm hơn nữa. Ông ấy giễu Crayssac bằng cách trích đúng y nguyên bản dịch cho bà con coi chơi thôi, không hề thêm bớt gì cả:
“Elle vivait ainsi, de facon indolente,
Les beaux jours de loisir d’une vie élégante,
De par le rang des siens pouvait porter, selon
La coutume chinoise, un rouge pantalon.”
Ông phán: “Ngôn ngữ tèm nhem”! Ðố René Crayssac cãi được.
N.X.H.: Ngộ thật. Chỉ có sáu chữ đơn giản mà loay hoay dài dòng tới bốn câu vẫn không dịch được. Hồng quần là quần hồng mà không phải là quần hồng. Thay thế bằng quần hồng không được, bằng quần đỏ quần điều đều không được; thậm chí thay thế bằng những tiếng đàn bà hay phụ nữ v.v… đều bất khả. Cắc cớ thật.
V.P.: Ðã sẵn lan man, mình lan man luôn. Hãy tưởng tượng mai kia rồi nước ta lại xảy ra cách mạng. (Ối, gì chứ cách mạng thì ai cấm được nó xảy ra bất cứ lúc nào). Cách mạng xong, xuất hiện một nhà lãnh đạo văn hoá rất mạnh tay, một vị tên là Giang Tục nào đó chẳng hạn, từng là cựu tù nhân Côn Lôn, cựu nạn nhân Chuồng Cọp. Bèn có chủ trương triệt để tiêu diệt tàn tích văn hoá phong kiến, xoá sạch dấu vết dâm thư đồi trụy có thể làm bại hoại luân thường đạo lý. Truyện Kiều đi đời. Khi cách mạng hoàn thành sứ mạng lịch sử và bị xua đuổi như đuổi tà, đất nước thở dài khoan khoái, nhiều người sực nhớ lại Truyện Kiều, muốn tìm đọc để mua vui một vài trống canh chơi, bấy giờ mới hay Truyện Kiều đã mất tích hẳn trên đời. Ðây đó trên thế gian chỉ còn rải rác các bản dịch nằm trong góc các thư viện Âu Mỹ. Có còn hơn không. Có người tóm được bản René Crayssac, quyết tâm căn cứ vào bản này để phục hồi Truyện Kiều Việt ngữ. “Phong lưu rất mực hồng quần” bèn được dịch phăng phăng. Dịch rằng:
“Thế là nàng sống nhởn nhơ
Những ngày đẹp đẽ phong lưu tuyệt trần
Giàu sang cùng một giai tầng
Mặc theo lối xẩm cái quần đỏ tươi.”
Ông nghĩ sao?
N.X.H.: Tôi nghĩ dịch như thế, đọc bản Kiều “phục hồi” tha hồ mua vui suốt năm canh.
V.P.: Không những học sinh cười rộ, mà bà con cả nước sẽ cười bò lê bò càng, còn luyện thi luyện thiếc, còn nói chuyện văn hoá văn huyếc gì được nữa.
Ðấy, ông thấy không? Hồng quần là cái quần hồng, nghĩa nó thì giản dị mà lắng nghe cho được cái xúc cảm đích thực nó gây ra nơi lòng mình lại không hề giản dị. Mấy tỉ người trên đời không ai giống ai, mỗi người một vẻ. Cái tiếng, cái chữ cũng vậy. Mỗi chữ một tướng mạo. Có chữ trông hung tợn, có tiếng nghe chịu liền. Có chữ mới chạm mặt nó đã phát dội, có tiếng đọc lên càng ngẫm càng thấy nó có cái duyên ngầm, ý vị thấm thía v.v… Ông Bùi bảo: “Làm sao (…) có thể giải thích sự huyền bí đó?” Tôi khoái Bùi quân ở cái chữ “sự huyền bí”.
Người độc giả vội vàng, hớt hơ hớt hải, sớn sa sớn sác, đọc một chữ bỏ một chữ, phớt qua một cái nhanh như điện, thì bắt sao được “sự huyền bí” của chữ nghĩa. Từ từ, hãy đợi chữ nghĩa nó nhả ra cái huyền bí. Cho nên một bài thơ ngắn, thậm chí một câu sáu chữ cũng đừng tưởng nó không thể xếu mếu vì lối đọc cóc nhảy.
N.X.H.: Hôm nay ông chú trọng về thơ. Chữ trong thơ nó thường ngậm kỹ nhả lâu…
V.P.: Không hẳn. Cố nhiên là lời thơ vẫn trau chuốt hơn lời văn, mỗi một chữ trong câu thơ thường được chọn lựa đắn đo hơn trong câu văn. Tuy nhiên, không phải chữ viết trong câu văn là thực thà đơn giản đâu. Một tác giả đã nói: “Không có một người viết tản văn nào, dù là người sáng suốt nhất, có thể biết được ‘hoàn toàn’ mình muốn nói gì; hoặc ông ta đã nói mạnh quá hoặc nói yếu quá, vì mỗi lần viết ra một câu văn là chấp nhận một cuộc đánh cá, một mạo hiểm; cứ càng sờ soạng vào càng thấy cái chữ viết nó lộ sắc thái riêng; đúng như Valéry đã cho thấy, không ai có thể hiểu thấu đến cùng một chữ một lời. Như vậy mỗi một chữ được dùng là đồng thời dùng trong cái nghĩa rõ ràng thông dụng của nó và dùng luôn cả vì một số âm vang u ẩn nào đó, cơ hồ có thể nói là vì cái diện mạo của nó nữa.”
N.X.H.: Có phải là lời của Sartre?
V.P.: Ấy chết! nói ra thấy xấu hổ. Cái biết của mình là một cóp nhặt đó đây. Trả lại cho người cách sòng phẳng, mình chẳng còn gì. Tự mình nghiệm ra suốt đời không suy nghĩ được mấy điều ra hồn. Tệ thật.
Thôi, xin bỏ qua Sartre. Ông nhớ cuốn Louis Lambert của Balzac chứ ạ?
N.X.H.: Một cuốn tiểu thuyết tự truyện. Louis Lambert chính là Balzac ấy chứ gì?
V.P.: Ðấy. Thuở bé, cậu bé bị mẹ hất hủi, lúc nào cũng thui thủi một mình với cuốn sách. Mới mười hai tuổi, cậu đã đọc được rất nhiều, và tâm trí thu hút vào sách mạnh mẽ đến nỗi mắt nhìn trang sách mà trí tưởng tượng có thể dựng lên cả cảnh tượng ngoài đời rõ mồn một. “Khi tôi đọc một đoạn tả trận đánh ở Austerlitz tôi trông thấy cả mọi cái đã xảy ra. Tiếng súng nổ vang, tiếng binh sĩ gào thét dội vào tai tôi, chấn động sâu xa. Tôi có thể ngửi thấy mùi thuốc súng và nghe tiếng vó ngựa cũng như tiếng người la hét v.v…”
Ðọc mà “kỹ” đến thế, thì chữ viết trong cuốn tiểu thuyết cũng bật ra hình ảnh, âm thanh, mùi vị, màu sắc được. Ðâu phải chỉ có trong thi ca?
Nhưng ngày nay mấy ai trong chúng ta mơ tưởng tìm ra một độc giả đọc sách mình kỹ như thế! Ðọc không còn đọc như thế nữa, mà viết vẫn cứ tiếp tục viết như thế, sao được? Cái viết phải liệu thân nó cho kịp thời chứ.
5 – 1993

 

Văn chương của Võ Phiến “đứng” được với thời gian

Nguyễn Mộng Giác  

Phát biểu trong buổi ra mắt Tuyển Tập Võ Phiến tại nhật báo Người Việt (Nam California USA 28/1/2007)

Hồi còn bận bịu việc mưu sinh, tôi vẫn thường hẹn là khi về hưu, không còn phải lo chuyện cơm áo hàng ngày, mình phải đọc lại thật kỹ những tác phẩm văn chương mình thích để thưởng thức trọn vẹn giá trị các tuyệt tác ấy. Tôi đã về hưu từ năm 2003, đã đọc được một số sách tôi rất thích hồi còn trẻ, nhưng thú thực bây giờ tôi không có cùng một nhận định đánh giá như trước. Nhiều tác phẩm trước đây tôi say mê, bây giờ đọc lại chỉ thấy nhạt nhẽo. Những cái sang trọng kỳ vĩ trở thành giả tạo, vay mượn vội vã từ những nguồn gốc mà bây giờ tôi mới biết. Nhiều kiến trúc đồ sộ sau những cơn mưa nhẹ đã đổ xuống, vung vãi vôi vữa khắp nơi. Tôi đâm băn khoăn, không biết cái tôi hồi trẻ là đúng hay cái tôi bây giờ mới đúng. Đọc mà không đam mê như tôi hiện đọc trong tuổi hồi hưu, có đúng là “đọc” hay không? Và tôi nhận ra cái điều đã nghe nói nhiều lần: màng lọc tàn nhẫn và khủng khiếp của thời gian.

Có một vài trường hợp ngoại lệ: có những tác phẩm đọc lại, tôi vẫn cảm thấy y như những gì cảm thấy hồi trẻ, như truyện ngắn và tùy bút của Võ Phiến.

Thật vậy, hồi trẻ đọc xong một tác phẩm của Võ Phiến, lòng tôi cứ bần thần, ngơ ngẩn suốt một thời gian dài. Cảm giác ấy quấy rầy tâm hồn tôi, một cảm giác phải thành thực mà nói, là rất khó chịu, buồn bã u sầu, nó làm “trệ” cả người. Tôi cho đó là dấu hiệu của giá trị văn chương. Cũng như hồi đó (trước 1975 ở Sài Gòn), một lần có người hỏi phu quân bà Bút Trà chủ nhiệm Sài Gòn Mới thế nào là một bài thơ hay. “Ông” Bút Trà trả lời: Bài thơ hay là bài thơ đọc xong mình thấy cái rún tê tê. Gần nửa thế kỷ là thời gian dằng đặc phân cách lần đọc Võ Phiến đầu tiên và cuối cùng của tôi. Thế mà cảm giác bần thần ngầy ngật ngày xưa vẫn không thay đổi. Tôi nghĩ: Văn chương của Võ Phiến “đứng” được với thời gian, ít ra là theo kinh nghiệm “đọc” của tôi. Và tôi đặt thêm câu hỏi: Vì sao vậy? để may ra có được một kinh nghiệm “viết”.

Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm cách trả lới câu hỏi này. Có người chú ý đến chính kiến của Võ Phiến. Có người đặt nặng phần tu từ. Người khác, kỹ thuật viết tùy bút. Phần tôi, các nhân vật trong truyện ngắn và tùy bút của Võ Phiến ám ảnh tôi không nguôi.

Thật lạ. Họ là người Bình Định, dân xứ “nẫu”, đồng hương của tôi và Võ Phiến. Vì là đồng hương nên có phần thiên vị chăng? Không. Nhân vật của Võ Phiến hầu hết là dân quê mùa ít học, quanh năm không có lấy vài phút sống cho được tới mức tạm gọi là sang trọng đầy đủ. Tên của họ là những anh Bốn Thôi, ông Ba Đồng Thời, chị Bốn Chìa Vôi, Ông Bốn Tản Cư, ông thập Tam, cô Tư Lớn… Nhưng người dân quê trong tác phẩm Võ Phiến không đóng vai trò nạn nhân như trong truyện Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng; cũng không đóng vai trò người chân chất như trong truyện Tô Hoài, Thạch Lam, Nhất Linh. Lịch sử hiện đại cho thấy người nông dân nghèo không phải lúc nào cũng là người hiền lành chân chất. Khi có quyền lực vô hạn, những đứa con của mẹ Lê (trong truyện của Thạch Lam) có thể dễ dàng trở thành những anh đội, chị chánh án “miệng nhà quan có gang có thép” trong cải cách ruộng đất. Nhân vật Võ Phiến không hiền, không dữ, dù họ không giàu không sang. Người nào cũng mang trong người một khuyết tật bất thường nào đó, một nỗi u uất không thể giải toả, một niềm ân hận sống để dạ chết mang đi. Tất cả đều có cái gì bất thường: như cái thú trưa trưa lén ra chỗ vắng lim dim mắt nhổ lông mũi của Bốn Thôi, như cái thú nuôi chim bắt rắn rồi khổ một đời vì những loài giống rắn và những ước vọng bay cao như chim của chị Bốn Chìa Vôi, như cái mơ ước được có một mái ấm gia đình đến nỗi gặp ai nói giọng Quảng cũng nhận là bà con của ông Bốn Tản Cư, như tâm trạng phức tạp của người cán bộ cộng sản Thọ, thái độ hưởng lạc vô tư của quận Toàn… Người đọc Võ Phiến xa lạ với những mẫu người mẫu đời quê mùa ấy, nhưng đọc truyện của ông xong, họ giật mình cảm thấy cái gì rờn rợn, như đang bị một bóng ma ám ảnh. Họ nhận ra rằng cái bất thường vừa tìm thấy ở những nhân vật kia dường như cũng hiện diện đâu đó, ở gần ta, ở trong ta. Chỉ vì ta dễ dàng, ta vô tâm, ta bị cuộc sống hối hả hằng ngày che lấp, nên ta mới không thấy ta cũng bơ vơ không tìm thấy “quê hương” đích thực như họ, ta cũng không biết về đâu như họ.

Nhân vật của Võ Phiến rất giống với nét mặt các pho tượng Bayon ở Đế Thiên Đế Thích, rất Việt Nam mà cũng rất nhân loại. Họ không lai căn, và vì chúng ta “lưu lạc” suốt nửa thế kỷ nay nên thân phận lưu lạc của nhân vật Võ Phiến trở thành thân phận của tất cả chúng ta.

“Cái lớn” đó gắn bó chúng ta với thế giới những con người nhỏ nhoi như Bốn Thôi, Bốn Tản.

Còn những “cái nhỏ” trong văn Võ Phiến?

Xin trích ra hai “cái li ti”. Một là trong tùy bút “Cái Còn Lại”

“Chàng nghĩ đến một chi tiết chưa bao giờ nhớ tới, từ hồi ấy đến giờ: lúc viên bác sĩ vào phòng mạch, cô (y tá) ngừng câu chuyện đang nói với chàng, đứng lên, chợt bắt gặp mắt chàng đang nhìn vào cánh tay cô. Cô ta nhoẻn cười lấy bàn tay kia xoa mấy vòng lên cánh tay bị nhìn. Nhiều sợi lông rối lại, rồi bung ra. Cô ta ngượng vì những sợi lông ấy, hay hãnh diện vì chúng? Chàng nghĩ: cô không nên ngượng nghịu, hãy cứ để yên thế, chúng nó kích thích”

Hai là trong tùy bút “Một chỗ thật tịch mịch”

– Em tránh ra lối này đi. Có kiến.

– Để yên em coi. Mình không cử động, nó không cắn. Anh thấy không, con này bò mãi trên chân em mà không cắn.

– Dại gì. Nó còn muốn bò mãi lên cao.

– Thôi ông. Lại bắt đầu nói bậy.

Những “cái lớn” thì lạc loài thất cước, không tìm ra quê hương. Phải chăng theo Võ Phiến, cái tồn tại được là những “cái nhỏ nhặt” tưởng như vô nghĩa, như con kiến đang hăng hái bò lên cao lên cao, như những sợi lông rối lại tạm thời, rồi bung ra, kích thích

Nhà tùy bút

Nguyễn Hưng Quốc

Cả Nguyễn Hiến Lê lẫn Đặng Tiến, khi viết về tuỳ bút Võ Phiến, đều nhắc đến đoạn văn Võ Phiến tả một quán hủ tiếu ở Cần Thơ:

Mỗi người có một cách biểu lộ sự hào hứng. Riêng cái cách của người chủ quán hôm ấy, trời ơi, trông mà mê. Hai tay ông ta thoăn thoắt: chặt khúc xương, xắt lát thịt, gắp mớ ớt, múc vá nước từ trong thùng đổ ra tô, xóc xóc mớ hủ tiếu vừa mới trụng qua nước sôi, rắc một tí tiêu bột v.v… Tất cả bấy nhiêu cử chỉ đều rập ràng, hơi có vẻ nhún nhẩy. Mỗi cái quơ tay, cái nhấc lên hạ xuống đều như có gì quá mức cần thiết một chút. Mỗi cử chỉ bao hàm bảy tám phần cần thiết, lại thêm vài ba phần thừa thãi, chỉ để cho đẹp mắt, để biểu diễn sự thích thú trong công việc. Động tác nghề nghiệp gần chuyển thành sự múa men. Một điệu vũ ca ngợi lao động.

[…]

– Bàn trong. Một nhỏ một lớn. Rồi! Bưng.

– Bàn ngoài, số một. Tô lớn, nhỏ. Rồi! Bưng, bàn số một.

– Bàn số ba tính tiền. Tám chục với ba lăm là trăm mười lăm. Trăm mười lăm với tám đồng là trăm hăm ba. Trăm rưởi trừ trăm hăm ba, còn lại…

Bà vợ nhắc:

– Hăm bảy.

– Hăm bảy. Nè!

[…]

– Tô nước, tô khô. Bàn số hai. Rồi!

Cứ thế, chủ quán làm việc, cắt đặt công việc, điều khiển vợ con v.v…, điệu bộ vẫn lại cứ như thừa thãi một chút. Bảy tám phần cần thiết, đôi ba phần để bày tỏ sự hài lòng, để biểu diễn sự hoạt động ăn khớp của một tổ chức hoàn hảo, một bộ máy hợp khuôn rập, chạy đều ro ro.

Vừa rồi có lẽ đã có sự lạm dụng: hầu hết mỗi câu nói của người chủ quán đều có một tiếng “rồi”. Nếu tôi ghi nhớ sai, ấy là vì đã quá chú ý đến tiếng đó. Nhưng hay nhất, ngộ nhất lại là cái tiếng “rồi” tưởng tượng phát ra từ mỗi cử chỉ. Mỗi cử chỉ – ngắt cọng rau, xóc mớ hủ tiếu v.v…- đến chỗ sau cùng thường được gằn mạnh. Như thể một tiếng “rồi” phát ra bằng động tác thay vì bằng âm thanh: Một tiếng câm (TU1: 222-3).

Đặng Tiến nhận xét: phải có một “nhãn quan tinh tường” lắm mới thu được một hình ảnh như thế.[1] Nguyễn Hiến Lê trầm trồ: “đọc… thấy mê. Ông nghe được một tiếng “rồi” câm thừa thãi, như để múa men, biểu diễn sự thích thú sau mỗi cử động của chủ quán, thì tôi phục ông quá”.[2] Tôi cũng phục Võ Phiến, ở đoạn văn trên, dĩ nhiên. Nhưng tôi không nghĩ đó là đoạn văn tiêu biểu cho phong cách tuỳ bút của Võ Phiến. Đó chỉ là phong cách chung trong văn chương Võ Phiến, đặc biệt là trong truyện dài và truyện ngắn. Trong truyện dài, truyện ngắn của ông, người ta có thể dễ dàng tìm ra những đoạn đặc tả tỉ mỉ và tài tình như thế. Trong tuỳ bút của ông, ngược lại, thật hoạ hoằn. Trừ đoạn văn trên, suốt cả tập Tuỳ bút 1, dày hơn 300 trang, gồm 54 bài viết khác nhau, may ra chỉ được thêm vài đoạn nữa: đoạn tả về cách thử nước mắm, cách uống chè Huế tại Bình Định, cảnh những cánh chim én và những đám khói ở quê nhà, cảnh những cây phong vào mùa thu ở Hoa Kỳ. Là hết. Quá ít. Thật hoạ hoằn. Hoạ hoằn như những ngoại lệ chứ không phải như một đặc điểm.

Người ta hay nói Võ Phiến là nhà văn có óc quan sát thật tinh vi. Tôi đồng ý: trừ trong tuỳ bút, đặc biệt là Tuỳ bút 1. Người ta hay nói Võ Phiến có tài tả cảnh tả vật tả người. Tôi đồng ý: trừ trong tuỳ bút, đặc biệt là Tuỳ bút 1. Trong Tuỳ bút 1, Võ Phiến vừa lười quan sát vừa lười mô tả. Không kể vài ngoại lệ nêu trên, lúc nào ông cũng qua quýt, cũng vội vội vàng vàng. Ông viết về áo dài, về nhà cửa, về vô số các thức ăn: không có cái gì được ông mô tả cho thật kỹ, thật đẹp. Nghe Võ Phiến nói về mắm mòi ở Phan Thiết, mắm trèn ở Châu Đốc, chè ở Huế, cao lầu ở Hội An, bún nước lèo ở Sóc Trăng, bún tằm bì ở Chương Thiện, cháo tấm giò heo với giá với gừng trên bến Ninh Kiều… không có người nào, nếu chưa bao giờ có dịp nhìn tận mắt những món ấy, có thể hình dung được rõ ràng chúng như thế nào. Ông khoe nhà cửa ở quê ông rất đặc biệt, được học giả P. Gourou khen như một di tích văn hoá (TU1: 147): những ai chưa từng đến Bình Định đừng hòng biết được kiểu nhà mái ấy rộng, hẹp, cao, thấp, đẹp, xấu ra sao. Ông không đi vào chi tiết vì ông nghĩ người Việt Nam nào cũng biết, cũng rành rồi ư? Không chắc. Ông nhắc đến mắm mòi như một kỷ niệm: chúng đã biệt tăm từ lâu rồi; ông nhắc đến cao lầu như một bí mật: ngoài Hội An không đâu có; ông nhắc đến sa-kê như một di tích: sau một thời lừng lẫy, được vua chúa ái mộ, nó đã “rút lui tận thâm sơn cùng cốc để mai danh…” (TU1: 236). Đúng ra, về sa-kê, ông có tiết lộ một ít:

Sa-kê trộn với dừa, ăn từa tựa như khoai lang; sa-kê cũng đem nấu canh mà ăn. Nó gần như mít chưa chín vậy. Khẩu vị con người ta thì nói không cùng: có món người này khoái thích đến đâm nghiện nặng mà người kia không thể nuốt trôi, có món người này khen thơm mà người kia chê nặng mùi v.v… Mùi vị sa-kê, đại khái như đã mô tả, có thể cho là ngon, cũng có thể cho là dở (TU1: 236).

Cách mô tả rất là “đại khái”. “Đại khái”, “đại khái như thế” là những chữ Võ Phiến thường dùng khi buộc phải mô tả cụ thể một cái gì. Không “đại khái” thì “lướt qua”. Về bánh tráng, món ăn ông gắn bó từ nhỏ và có nhiều kỷ niệm cũng như rất nhiều hiểu biết, ông cũng chỉ “lướt qua”:

Trước hết, hãy lướt qua những cách ăn bánh tráng thường thấy: Bánh tráng nướng, bẻ từng mảnh, nhai cúc cắc cho vui miệng trước khi bắt đầu vào tiệc: ngoài Trung ngoài Bắc, trong trường hợp này bánh tráng có vai trò đại khái như bánh phồng tôm trong Nam.

Trong dăm ba trường hợp khác, cũng thứ bánh tráng nướng, cũng bẻ từng mảnh cúc cắc, nhưng không dùng để mở đầu bữa tiệc, mà lại suốt bữa ăn, từ đầu đến cuối: Chẳng hạn trong bữa thịt cầy, bữa chả cá, chẳng hạn khi dùng bánh tráng xúc xác đậu xào, xúc mớ gan cá nghéo xào ăn cho khỏi bệnh quáng gà v.v…

Cũng lại bánh tráng nướng nữa, đem giã vụn ra, hoặc dùng làm “thính”, hoặc trộn với thịt đầu heo, hoặc rắc lên đĩa tiết canh v.v…

[…] Chúng ta chỉ lướt qua để có một ý niệm đại khái về cách dùng bánh tráng làm món ăn, chứ không mong tìm hiểu cho hết ngọn ngành (TU1: 153-4).

Người đọc tinh ý, căn cứ vào chữ “trước hết” ở đầu đoạn trích, có thể ngỡ là sau cái nhìn “lướt qua” ấy, Võ Phiến sẽ dừng lâu lại cách ăn bánh tráng đặc biệt ở quê ông. Không, ông cũng chỉ tả một cách “đại khái” như thế mà thôi:

[…] cái đặc biệt ở Bình Định là lối ăn bánh tráng cuốn mà không cuốn thứ gì cả, không có nội dung! Tức bánh tráng thuần tuý.

Ăn như thế người ta ăn rất nhiều bánh tráng, lấy bánh tráng thay cơm. Nông dân mỗi sáng trước khi ra đồng, nếu không kịp thổi cơm sớm, có thể dùng mấy cuốn bánh thay cơm sáng. Học trò ở trọ xa nhà, thường mang theo một chồng bánh hàng trăm cái, mỗi sáng nhúng nước vài chiếc, cuốn ăn điểm tâm. Những gia đình có một nghề thủ công riêng, đêm đêm thức khuya dệt vải, đập xơ dừa, chắp trân dệt chiếu v.v… thường xúm xít tổ chức một bữa ăn khuya; lại vẫn bánh tráng nhúng nước rồi cuốn.

Cuốn như thế, nếu nhà có sẵn rau, sẵn thịt cá v.v… mà cho vào càng tốt; nếu không có sẵn (như trường hợp những cậu học trò ở trọ) thì cũng chẳng sao.

Bánh tráng mà dùng “thuần tuý” như vậy có vẻ phi nghệ thuật, khó mê. Vậy mà dân Bình Định đã đâm nghiện món ăn ấy. Đi làm ăn xa, lâu ngày không có dịp ăn bánh tráng, họ nhớ quay nhớ quắt (TU1: 155).

Trong mấy đoạn văn trích ở trên, có một điểm nhỏ cần lưu ý: số lượng những chữ “v.v…” xuất hiện rất nhiều, rất đều trong tuỳ bút Võ Phiến. “Vân vân”, trong những trường hợp này, cũng giống như “đại khái”. Nó thể hiện cái sốt ruột, cái thiếu kiên nhẫn của Võ Phiến. Với cái gì, ngay cả một món ăn ngon, một khung cảnh đẹp, ông cũng chỉ muốn “lướt qua”. Đó là điều lạ. Hơn nữa, theo tôi, còn là một điều lạ nhất trong tuỳ bút Võ Phiến, là một trong vài yếu tố chủ yếu khu biệt Võ Phiến và các nhà tuỳ bút khác tại Việt Nam từ xưa đến nay.

Trong một bài viết ngắn, rất ngắn, “Về thể văn tuỳ bút”, Đặng Tiến nêu lên hai đặc điểm chính của tuỳ bút: đó là tính chủ quan và sự cô đơn, hiu hắt. “Hắt hiu như những người tạo ra nó.”[3] Ngoài lý do được Đặng Tiến chỉ ra trong bài viết, “thể văn tuỳ bút, xưa nay, chỉ có một quần chúng rất có giới hạn”, sự hiu hắt của thể tuỳ bút cũng như của người viết tuỳ bút có lẽ còn xuất phát từ một lý do khác, cũng được Đặng Tiến nhận thấy, trong bài “Anh Bình Định, con chim én và những đám khói”: các tác giả vẫn dùng tuỳ bút để “diễn tả nỗi u hoài trước một xã hội đang đổi thay”.[4] Tất cả những đặc điểm ấy chúng ta đều bắt gặp trong sáng tác của Phạm Đình Hổ, của Nguyễn Tuân, của Thạch Lam, của Vũ Bằng, và dĩ nhiên, của cả Võ Phiến nữa. Ở đây, sự độc đáo của Võ Phiến, nếu có, chỉ dừng lại ở một mức độ nhất định: ông không góp thêm được gì và cũng không thay đổi được gì vào những cái đã có.

Nhìn vào các tập tuỳ bút Việt Nam từ trước đến nay, chúng ta dễ phát hiện ra thêm một điểm chung nữa: đề tài. Trong Vũ trung tuỳ bút, Phạm Đình Hổ nói về nghệ thuật uống trà, thưởng hoa. Trong Tuỳ bút 1, Tuỳ bút 2, Nguyễn Tuân nói đến đàn, đến hát, đến uống rượu, đến ăn món này món nọ, ngắm cảnh này cảnh kia. Trong Hà Nội ba mươi sáu phố phường, Thạch Lam cũng nói về quà Hà Nội và những chốn ăn chơi ở Hà Nội; nói xong lại bổ khuyết, lại nói thêm, nói thêm nữa. Ở Vũ Bằng thì càng rõ: nó nằm ngay trong nhan đề quyển sách: Miếng ngon Hà Nội rồi Món lạ miền Nam. Võ Phiến không nằm ngoài thông lệ: ông cũng sốt sắng đóng góp vào đề tài chung ấy vô số món ăn và các trò tiêu khiển.

Có thể nói, đề tài chung, rất phổ biến, trong các tuỳ bút Việt Nam từ trước đến nay thường quẩn quanh trong các chuyện ăn, chuyện uống, chuyện mặc và chuyện chơi bời. Đề tài như thế dễ gợi lên ấn tượng: chọn viết tuỳ bút là chọn nhìn cuộc đời như một kẻ thưởng ngoạn. Mà đúng. Trừ Võ Phiến, dường như nhà tuỳ bút nào cũng có vẻ say sưa, hơn nữa, còn có vẻ tự hào về sự lịch lãm của mình trong việc thưởng ngoạn những hương sắc trần gian: người quen uống trà, người nghiện uống rượu, người thích hát ả đào, người khoái ăn quà vặt, người mê đi giang hồ. Trong lãnh vực này, chắc chắn người tiêu biểu nhất là Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân coi việc thưởng ngoạn như một thứ đạo: người ta gọi ông là tín đồ của chủ nghĩa xê dịch, chủ nghĩa ẩm thực và chủ nghĩa hưởng lạc.[5] Đã là đạo, tất phải có nghi thức: Nguyễn Tuân, trong văn chương cũng như trong cuộc đời, nổi tiếng là người có cung cách cầu kỳ trong việc ăn uống. Đã là đạo, tất phải có cứu cánh: cứu cánh của Nguyễn Tuân là cái đẹp, cái độc đáo. Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: Nguyễn Tuân “có thói quen nhìn sự vật ở mặt mỹ thuật của nó, cố tìm cho ra ở đấy những gì nên hoạ, nên thơ”.[6] Võ Phiến, ngược lại, chưa bao giờ ông chứng tỏ, trong tuỳ bút, ông là người sành ăn sành uống sành chuyện chơi bời: không những không sành, ông còn thiếu hẳn cái đam mê trong các công việc ấy. Vì thiếu đam mê nên ông cứ “đại khái”, cứ “lướt qua”, cứ “vân vân”. Nếu Nguyễn Tuân, nói theo chữ của Nguyễn Đăng Mạnh, là người theo chủ nghĩa độc đáo[7] thì Võ Phiến lại là người theo “chủ nghĩa xuề xoà”. Trong khi Nguyễn Tuân thích nói đến những món ăn thuộc loại phong lưu, đài các, Võ Phiến lại tẩn mẩn với các loại mắm, loại chè, bánh tráng, bún bò, toàn là loại thức ăn bình dân. Trong khi Nguyễn Tuân chơi toàn với các bậc tài tử như chị Hoài, cô đào Tâm, ông Thông Phu…, Võ Phiến lại “chơi” với bà Ní Nà, anh Bốn Thôi, Hùng-ghẻ-ruồi. Đố ai có thể tưởng tượng được là Nguyễn Tuân, ngay cả Nguyễn – Tuân – hiện – thực – xã – hội – chủ – nghĩa có thể đặt bút viết về chuyện ghẻ lở, chuyện những con người cơ hồ không biết làm gì khác ngoài việc vặt lông mũi… như Võ Phiến?

Không đam mê trong việc thưởng ngoạn, tại sao Võ Phiến lại táy máy – mà lại thường xuyên táy máy – viết về chuyện ăn, chuyện uống, chuyện mặc? Lý do, theo tôi, chính là cái thói quen hay trăn trở của Võ Phiến. Nguyễn Tuân, Thạch Lam và Vũ Bằng viết về cái ăn, cái uống, cái mặc như một cái thú, với một sự say mê nếu không ngây ngất thì cũng đầy rạo rực; Võ Phiến viết về cái ăn, cái uống, cái mặc như một cái cớ, ở đây sự say mê, nếu có, cũng không đáng kể bằng sự tò mò. Đó chỉ là những cái cớ để ông suy nghĩ. Nguyễn Hiến Lê tinh tế để ý đến cách vào đề dí dỏm mà tình tứ trong văn Võ Phiến: “Nếu quả Bình Định mất đi một điệu trống, phải đền lại một cái gì chứ? Chiếc bánh tráng nhé?”[8]Tôi thì tôi chú ý đến những cách chuyển mạch, những cách vào đề khác khô khan hơn nhưng lại phổ biến hơn, do đó, cũng có thể nói là tiêu biểu hơn, ví dụ: “Cắt nghĩa là chuyện khó. Trong khi chờ đợi, tạm có vài suy đoán vu vơ” (TU1: 134), hay: “Ai đi cắt nghĩa được tình yêu? Kể cả yêu bún bò. Tuy nhiên, cũng có thể đưa ra một vài phỏng đoán” (TU1: 86). Những cách chuyển mạch hay vào đề như thế, hoặc gần như thế, xuất hiện rất nhiều trong các bài tuỳ bút của Võ Phiến, đặc biệt trong Tuỳ bút 1. Chúng chả có vẻ gì tài tình. Đồng ý. Chúng chỉ có ưu điểm là gọn gàng, dứt khoát. Và một ưu điểm khác nữa là chúng hé mở cho chúng ta thấy những mối bận tâm chính của Võ Phiến: tất cả những bận tâm ấy đều vượt ra ngoài chuyện ăn, chuyện uống, chuyện mặc, chuyện ở. Những bận tâm ấy hướng đến việc “suy đoán”, “phỏng đoán”, việc cắt nghĩa, việc giải thích một hiện tượng lịch sử hay văn hoá của con người. Đó cũng là lý do chính tại sao Võ Phiến lại lười quan sát và lười mô tả. Trong truyện, dù là truyện dài hay truyện ngắn, ông không hề lười. Ông chỉ lười trong tuỳ bút: ông lười quan sát và mô tả vì ông quá thiết tha, quá say sưa với sự tìm tòi, suy nghĩ, lý giải cái ông nhìn, ông thấy.

Võ Phiến có lần tự hỏi: “cái ăn cái ở của một dân tộc sao cho khỏi ít nhiều ảnh hưởng đến kết quả nghĩ ngợi của dân tộc ấy?” (TU1: 144). Ông viết về chiếc áo dài chưa chắc là vì yêu vẻ đẹp của nó mà vì, có khi chỉ vì “một khi chiếc áo dài đã tự liên hệ được […] với thi ca, ngôn ngữ, với tiểu thuyết, nếp sống v.v… thì chắc chắn nó cũng phản ảnh phần nào một nét tâm hồn dân tộc” (TU1: 32-33). Nghĩ về chiếc áo dài, do đó, là một cái cớ để nghĩ về cái “tâm hồn mặc áo dài” mà thôi. Cũng một động cơ như vậy, ông nghiên cứu về hiện tượng chửi tục, nói tục của người Việt Nam:

Từ cuộc sống của dân gian đến cuộc sống có ý thức của triết nhân nghệ sĩ, chúng ta mỗi lúc mỗi nén thêm tiếng cười và nén thêm dục tình. Nỗ lực văn hoá của chúng ta như là một nỗ lực kìm hãm, từ chối cái cười và cái tục. Tìm hiểu đặc điểm dân tộc, có thể không chú ý đến chỗ ấy sao? (TU1: 109).

Lý do Võ Phiến quan tâm đến cái tên Hùng-ghẻ-ruồi trong tác phẩm “Ở một nơi ai cũng quen nhau” của Hoàng Ngọc Tuấn cũng tương tự: “Anh bạn Hùng là một nhân vật của văn chương, anh chỉ khơi lên vài nghĩ ngợi về một tiếng nói của dân tộc: cái tiếng không tao nhã mà anh bạn đã mang lấy làm biệt danh” (TU1: 62).

Cứ thế. Bao giờ cũng khởi đầu bằng một chi tiết cụ thể liên quan đến cái ăn, cái mặc, cái ở, cách sinh hoạt hoặc cách nói năng, Võ Phiến miên man suy nghĩ: hoặc để cố gắng nhận diện tâm hồn của một địa phương, một dân tộc hoặc để ghi nhận những đổi thay trong xã hội, trong lịch sử. Có thể nói, một cách khái quát hơn, chính cái tâm hồn của địa phương, của dân tộc và chính những sự thay đổi trong xã hội, trong lịch sử là hai đề tài chủ yếu, bao trùm phần lớn tuỳ bút của Võ Phiến, ít nhất là trong cả tập Tuỳ bút 1. Trong hai loại đề tài ấy, đề tài thứ hai chiếm một số lượng khá lớn, có lẽ vì thế, từ trước đến nay, nói đến tuỳ bút của Võ Phiến, người ta chỉ nghĩ đến nó, đến những “chuyện phôi pha”, những “chuyện bọt bèo”.[9]

Dù sao, những bài tuỳ bút cảm động nhất của Võ Phiến cũng là những bài về “chuyện bọt bèo”. Ở khía cạnh này, có thể gọi Võ Phiến là nhà thơ và là sử gia của những chuyện bọt bèo: ông vừa có cái nhạy cảm, cái mơ mộng của một nhà thơ lại vừa có cái cần cù và uyên bác của một nhà sử học. Sự kết hợp này, thật ra, không có gì là oái oăm. Nếu có người từng nói đến cái mỹ học hoài cựu của Nguyễn Tuân, chúng ta cũng có thể nói đến cái mỹ học lịch sử của Võ Phiến: Nguyễn Tuân tìm cái đẹp trong quá khứ, chỉ trong quá khứ, ở một thời vang bóng đã xa và đã khuất, một quá khứ khép kín, đứng yên, như một cõi thiên thai; Võ Phiến tìm cái đẹp trong những sự biến thiên, dâu bể, theo chiều dài của thời gian, một cái đẹp đang vận động. Nói một cách hình ảnh: Nguyễn Tuân thích nhìn Thuý Kiều ở một thời điểm nhất định, lúc nhan sắc nàng đang rằm; Võ Phiến thích nhìn Kiều trong suốt cuộc trầm luân: điều ông quan tâm nhất có vẻ như không phải bản thân Thuý Kiều mà là mười lăm năm trôi dạt đầy bão tố của nàng.

Ở trên, tôi có viết là Võ Phiến, trong tuỳ bút, thường lười quan sát. Cách viết như vậy vừa hơi cường điệu vừa dễ gây ngộ nhận. Cường điệu bởi vì đặc điểm ấy, nếu đúng, chỉ đúng đối với tập Tuỳ bút 1. Dễ gây ngộ nhận bởi vì, thật ra, Võ Phiến chỉ lười quan sát một đối tượng tĩnh tại cụ thể song ông lại quan sát một cách chăm chú và kiên nhẫn lạ thường sự thay đổi của đối tượng ấy qua nhiều thời điểm khác nhau. Nói cách khác, ông quan tâm đến sự kiện hơn là sự vật. Trong khi trung tâm các tác phẩm của Nguyễn Tuân trước năm 1945, theo Phan Ngọc, là đồ vật,[10] trung tâm các bài viết của Võ Phiến trong Tuỳ bút 1 là các sự kiện: đối tượng ông chú mục không phải là một chén nước mắm mà là sự kiện người ta làm, thử và yêu, say nước mắm ra sao; không phải là một tô bún bò Huế thơm ngào ngạt hoặc bốc khói nghi ngút mà là cái sự kiện nó lan tràn từ Huế vào Sài Gòn như thế nào; không phải là cái ấm trà với những chén tống, chén quân, những kim hoả, ngư nhãn, giải nhãn… mà là cái sự kiện một việc uống trà như thế cũng trải qua bao nhiêu là bể dâu. Chọn đối tượng quan sát và ghi nhận là sự kiện, Võ Phiến chọn viết về những cái đang trong quá trình vận động: có lẽ điều này giải thích lý do tại sao Võ Phiến lại chọn viết về món ăn này chứ không phải món ăn khác. Ông nhận xét:

Mì Tàu, phở Bắc v.v… so với các món ăn trong Nam, một bên như thơ Đường như phú tám vế, một bên như thơ tự do, thơ phá thể. Từ địa phương này đến địa phương khác, từ chợ này sang chợ kia, bún nước lèo và hủ tiếu tha hồ biến cải: ai nấy được tự do sáng tạo trên các loại tác phẩm ấy. Đây là những món ăn còn đang tiến mạnh, những món ăn trẻ, nó chưa hoàn thiện, nó hãy còn khuyết điểm đấy nhưng mà sinh động, hướng về tương lai. Mười năm sau, tại chợ Keo, Siêu sẽ ăn một bát bún riêu y hệt như mười năm trước, chứ chúng ta sức mấy có thể ăn hai tô bún nước lèo giống nhau sau khoảng cách thời gian lâu dài đến thế (TU1: 270).

Ham theo đuổi những sự vận động, biến động, Võ Phiến thường bỏ qua những hình ảnh cụ thể, đầy chi tiết và đầy màu sắc của cuộc sống. Trong tuỳ bút của ông hiếm có những trang đặc tả sắc sảo, những hình ảnh thật đẹp, những liên tưởng thị giác, hoặc những chuyển hoá cảm giác tuyệt vời như trong tuỳ bút Nguyễn Tuân: “Ông thử roi vào mặt trống, rồi uốn hai đầu xuống; thân roi ưỡn ngửa mãi lên như lúc người đàn bà tránh một cái hôn bạo”; hay: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử […], hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa.”[11] Bù lại, đối với các sự kiện, các hiện tượng xã hội, Võ Phiến lại tinh tế, nhạy bén lạ thường. Ông khám phá ra rất nhiều chi tiết ít người để ý: cái rét đô thị (TU1: 44-7); sự hờ hững của người Việt Nam đối với loài chim én (TU1: 73-4); những người Việt Nam sành ăn đều ăn bằng… mùi (TU1: 82); tên các món ăn Trung Hoa du nhập vào Việt Nam thường qua trung gian của những anh đầu bếp, những bác bán hàng rong, vì thế, chúng khá lung tung (TU1: 213); khác với miền Bắc, miền Nam, ở miền Trung không hề có hội hè (TU1: 244); những cải cách lặng lẽ trong việc lễ bái (TU1: 245-7); các loại mắm ngon đều mang tên của các bà giáo (TU1: 251); so với người Trung Hoa và người Tây phương, người Việt Nam có rất ít trò chơi (TU1: 285)….

Võ Phiến có một bài tuỳ bút có cái tựa khá tiêu biểu cho phong cách tuỳ bút của ông: “Theo chân một món ăn” (TU1: 84-88). Ông “theo chân” món phở từ Bắc vào Nam, món bún bò từ Huế vào Sài Gòn, ngọn giá sống từ miền Nam lên cao nguyên. Ông khám phá ra một sự thật đau lòng: các món ăn thường là bạn đồng hành của bất hạnh: “phở Bắc tràn vào Nam theo làn sóng di cư sau cuộc chia cắt đất đai năm 1954; bún bò Huế lan rộng ở Sài Gòn sau một mùa xuân và một mùa hè máu lửa”(TU1: 87). Ông có một sáng kiến độc đáo: “tìm về lịch sử dân tộc bằng đầu lưỡi” (TU1: 88). Trong lịch sử ấy, ngay “một sợi rau giá nó cũng tỉ tê thóc mách được đôi điều về hoạt động quân sự trong một giai đoạn của đất nước, về một khía cạnh sinh hoạt của một thời loạn lạc” (TU1: 88). Nếu không “thóc mách được đôi điều” về một thời qua phân, chinh chiến triền miên thì nó lại “thóc mách” về bước tiến ào ạt của nền văn minh cơ khí. Những bát nước chè dần dần bị các chai nước ngọt đánh ngã. Những chén chè Huế dần dần bị các hộp trái cây thay thế. Cái mùi của nước mắm bị tinh thần khoa học đe doạ nghiêm trọng. Võ Phiến hay chú ý đến các món ăn có phải vì ông tò mò muốn nghe những tiếng tỉ tê thóc mách ấy? Có thể. Và để nghe rõ những tiếng tỉ tê ấy, đối tượng được ông quan tâm hơn cả là các món ăn bình dân: chúng gắn liền với số phận của những người bình dân, như chị Lộc, anh Bốn Thôi, anh Ba Càng Cua, ông Tam Khoang… Cái mà tôi gọi đùa là “chủ nghĩa xuề xoà” của Võ Phiến ở trên, như vậy, không phải xuất phát từ sự dễ tính mà có lẽ xuất phát từ sự thôi thúc có thể một cách vô ý thức của một mối bận tâm ban đầu về việc viết lách. Đằng sau mối bận tâm ấy là một tấm lòng thiết tha đối với quê hương, không nguôi khắc khoải về vận mệnh của đất nước và một gốc gác nông thôn, điều Võ Phiến thường tự nhận: “Tôi vốn lớn lên ở thôn quê” (TU1: 44), “Tôi sững sờ, nghệch người ra. Con người quê kệch tha hồ trải qua bao nhiêu cảnh vật đổi sao dời của thời đại vẫn không hề tưởng tượng rằng cái món nước mắm gần gũi hàng ngày đã trải qua những biến thiên ghê gớm như thế” (TU1: 38).

Bài “Mình với ta” là chuyện tình đầu tiên giữa người và… mắm trong văn học Việt Nam:

Chắc chắn phải qua nhiều ngày tháng, người nông dân miền Bình Phú mới đi đến cái phát giác: mắm mòi dầu mà xé ra đi kèm với lá dừng, lá sộp, lá ngành ngạnh, thêm chanh, ớt, tỏi, v.v… ăn với cơm, nhất là cơm nguội, thì tuyệt.

Lá dừng, lá sộp v.v… là những thứ lá rừng.

Con cá ở tận biển Phan Thiết mà ngày một ngày hai dần dà tìm đến kết nghĩa với lá dừng ở Bình Định: duyên “cá lá” nọ không phải là duyên bạn bầy kỳ ngộ sao?

Thế rồi, bặt đi đã lâu, tôi không được ăn mắm mòi. Nghĩ rằng đó có lẽ do những rủi ro phức tạp trên thị trường, do khẩu vị mỗi nơi một khác, người Saigon không ưa thích mắm mòi mà mình thì vào Saigon đã lâu v.v… Bởi đó nhân chuyến đi Phan Thiết, bèn hỏi thăm về tin tức mắm mòi. Hỡi ôi! thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ!

Người chủ tiệm mắm nhắc đến một năm Hợi năm Thìn nào đó mà trong lúc thảng thốt tôi không nghe rõ. Thì ra tự dưng mà cá mòi Phan Thiết biến mất ngót mười năm. Tôi nghĩ đến sự muộn màng của mình:

“…không xiết sự tình,

Khéo vô duyên bấy là mình với ta!. (TU1: 170-1).

Nhìn đối tượng như một hiện tượng, ngòi bút của Võ Phiến dễ dàng tung hoành, từ hiện tại đến quá khứ, từ quá khứ gần đến quá khứ xa. Đang nói đến chiếc áo dài, ông nhắc đến chuyện Lê Quí Đôn gặp sứ giả Triều Tiên tại Trung Hoa hai trăm năm mươi năm trước. Đang nói chuyện quần áo, ông nhắc đến việc vua Minh Mạng nêu thưởng hai thiếu nữ bị hãm hiếp và bị thảm sát, rồi nhắc đến khái niệm “xã hội lý”, “xã hội tình”. Bay lượn trong cái khung lịch sử rộng rãi như vậy, Võ Phiến có nhiều phát hiện bất ngờ và độc đáo. Từ câu ca dao “Anh về Bình Định thăm cha / Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hoà thăm em”, ông phát hiện ra tính chất nhì nhằng trong cuộc Nam tiến ở thế kỷ 17 (TU1: 133-7). Rồi ông dùng luôn sự kiện di dân nhì nhằng ấy để giải thích về các phương ngữ tại Việt Nam (TU1: 148-151). Từ việc so sánh cách bồng con của người Việt với người Tàu, người Thái, người Rhadé, Bahnar…, ông phát hiện ra một đặc điểm của dân tộc:

Ngay từ cổ thời (từ thời chưa tách biệt với người Mường), chúng ta đã miễn công tác cho người chăm sóc trẻ con […]. Chúng ta sắp xếp lối sống trong gia đình cách nào mà luôn luôn có hạng được nghỉ ngơi, ở nhà trông coi vườn tược con cái, trong lúc hạng trai tráng khoẻ mạnh ra đồng làm việc (TU1: 280);

đồng thời phát hiện ra dấu vết Việt hoá một nhân vật Trung Hoa của Nguyễn Du trong Truyện Kiều: Duyên em dầu nối chỉ hồng / May ra khi đã tay bồng tay mang: ở Trung Hoa phụ nữ chỉ địu con trên lưng chứ không bồng, không ẵm như ở Việt Nam (TU1: 278). Hầu hết các nhà nghiên cứu văn học dân gian đều coi câu “Tháng tám có chiếu vua ra / Cấm quần không đáy người ta hãi hùng / Không đi thì chợ không đông / Ra đi phải lột quần chồng sao đang?” là thái độ phản kháng, bất bình của dân chúng đối với triều đình Huế, Võ Phiến nhắc: dân chúng ở đây, thật ra, chỉ là người dân miền Bắc mà thôi (TU1: 180). Dựa trên hiện tượng biến âm của một số từ vựng (hoàng thành huỳnh, đức ra đước, phúc ra phước…), Võ Phiến chứng minh tình cảm ưu ái của dân chúng miền Nam đối với triều Nguyễn; rồi dựa trên thái độ thiên vị của triều Nguyễn đối với miền Nam cũng như dựa trên lời nói của chính Minh Mệnh, Võ Phiến lý giải thái độ “rụt rè e sợ” của Nguyễn Du lúc làm quan tại Huế: không phải là do tính tình ông nhút nhát, cũng không phải vì hoài Lê nên ông ra làm quan một cách miễn cưỡng; lý do chính là vì ông bị kỳ thị (TU1: 178-9). Giải thích nguyên nhân tại sao Phan Châu Trinh đề cập tới vấn đề dân quyền sớm hơn các nhà nho khác ở các tỉnh lân cận, Võ Phiến đưa ra ý kiến: trong việc tiếp nhận sách báo từ Trung Hoa, Hội An có lợi thế hơn các địa phương khác nhờ có bến cảng nổi tiếng thường xuyên buôn bán với nước ngoài (TU1: 210). Về thói quen cúng giỗ của người Việt ngày xưa, Võ Phiến giải thích rất hay: vì chợ xa:

Tiếp người phải có cơm nước thịnh soạn, mà món ăn không phải bất cứ lúc nào cũng mua được. Đã vậy, trong chế độ xã hội ngày xưa ai nấy đều nặng tình gia tộc. Chim có tổ người có tông, bà con họ hàng phải năng tới lui thăm viếng. Nếu mỗi lần thăm viếng nhau mỗi lần gây bối rối cho nhau thì kẹt quá. Cụ Yên Đổ làm được thơ để tạ từ, chứ người khác đã không có bữa ăn lại không có cả thơ sẽ hổ thẹn biết bao. Trong hoàn cảnh ấy, cúng giỗ là giải pháp tuyệt diệu. Bà con có dịp tề tựu thăm nhau, gia chủ có điều kiện để chuẩn bị cuộc tiếp đón chu đáo, chi phí đãi đằng cũng được tiên liệu để khỏi có ai bị thiệt thòi.

[…] Một tập tục ra đời trong hoàn cảnh xã hội nông nghiệp, mất hoàn cảnh ấy nó suy tàn. Cúng giỗ không ngã trước sức tấn công của tư tưởng “cấp tiến”; mà khi chợ búa và tiệm ăn nhích đến gần nhà tự nhiên nó lặng lẽ rút lui (TU1: 54-5).

Cách giải thích tinh tế như vậy không những giúp chúng ta hiểu một tập tục lâu đời trên đất nước mà còn giúp chúng ta cảm được cái lúng túng, bối rối, tội nghiệp của Nguyễn Khuyến trong một bài thơ rất nổi tiếng và thường bị ngộ nhận này:[12]

Đã bấy lâu nay bác tới nhà

Trẻ thì đi vắng, chợ thì xa.

Ao sâu nước cả, khôn chài cá

Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.

Cải chửa ra hoa, cà mới nụ,

Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

Đầu trò tiếp khách, trầu không có,

Bác đến chơi đây, ta với ta.

Tuỳ bút của Võ Phiến không phải chỉ nói về những chuyện bọt bèo hay phanh phui một số sự kiện lịch sử hay văn hoá bị khuất lấp trong thời gian. Tuỳ bút của Võ Phiến còn là một nỗ lực liên lỉ nắm bắt những khía cạnh bí ẩn trong tâm hồn một địa phương, một dân tộc. Cách tiếp cận vấn đề của ông, ở đây, là cách tiếp cận của một nhà văn có kiến thức rộng rãi và đặc biệt tinh nhạy. Ông vừa có óc phân tích giỏi vừa có năng lực khái quát cao. Có khi bắt đầu chỉ là một sự vật, một sự kiện, thậm chí, một tên gọi thật tầm thường, ông phân tích, ông khái quát, ông liên tưởng, ông lý luận, cuối cùng, ông đưa ra những nhận xét mới mẻ, đôi khi, có khả năng hé mở một khía cạnh quan trọng trong nền văn hoá nước nhà. Ông quan niệm: “Nếu những phát lộ hồn nhiên phô bày dân tộc tính, thì thiết tưởng chiều hướng cố gắng của văn hoá cũng biểu hiện dân tộc tính” (TU1: 109). Trong ý nghĩa đó, việc đè nén cái tục và việc ít cười trong văn chương của Việt Nam ngày xưa cũng là những đặc điểm mang dân tộc tính, sao không? (TU1: 122).

Những bài viết của ông về người Huế, người Quảng, người Bình Định, tuy không hoàn toàn mới lạ, vẫn là những bài viết tinh vi, nghiêm túc, có sức thuyết phục cao, hơn hẳn tất cả các bài viết khác về cùng đề tài. Đặc biệt bài viết của ông về người Bình Định, đến nay, vẫn được nhiều người thích. Nhắc đến tính cách người Bình Định, ai cũng nhắc đến chữ “thàng”, “thàng hậu” của ông. Riêng tôi, tôi thích nhất là phát hiện của ông về tính cách của người miền Nam: qua việc quan sát hình ảnh người chủ quán hủ tiếu tại Cần Thơ dẫn trên, cũng như qua chữ “luôn” thường được dùng để đệm sau các câu nói (ví dụ: “Chạy luôn!”), Võ Phiến nhận xét: ở người miền Nam, “trong cử chỉ, một chút gì thừa, vượt quá sự cần thiết; trong lời nói, cũng một chút gì thừa, vượt quá sự cần thiết. Cử chỉ và lời nói đều được phóng đại lên” (TU1: 225). Nhận xét như thế, dĩ nhiên, còn rất mơ hồ. Nhưng mọi sự khái quát hoá ở đây lại dễ trở thành phiêu hốt. Có ít nhất hai lý do. Thứ nhất miền Nam là vùng đất mới, cá tính địa phương chưa kịp định hình hẳn. Thứ hai, cá tính của địa phương, còn hơn cá tính của một cá nhân, không ngừng biến động và phong phú và đa dạng khôn lường: đối với bất cứ một nỗ lực khái quát hoá nào, nó cũng sẵn sàng bày ra vô số các ngoại lệ khiến người ta phải ngần ngại. Hy sinh cái danh táo bạo, Võ Phiến chỉ muốn làm một người cẩn trọng: ở đây, cũng như trong nhiều trường hợp khác, bao giờ ông cũng biết dừng lại đúng lúc, đúng chỗ.

Nguyễn Tuân rất thích các địa danh. Nghe một số địa danh ở Cà Mau, ông thấy “có cái gì buộc mình phải cảm phải nghĩ thêm nữa. […] Những cái tên nghe thật nôm na giản dị, thanh âm như là tập trung vào mà diễn tả cho bằng hết cái mặt chân chất của một vùng đất trẻ”; nghe một số địa danh ở Yên Thế, ông “thấy trong lòng có cái bồi hồi của một bài từ dài, của một bài thơ lớn”.[13] Võ Phiến cũng thích các địa danh. Nhưng ông thường không chú ý mấy đến khía cạnh âm thanh của chúng. Ông chỉ chăm chăm tìm tòi cái ý nghĩa văn hoá và ý nghĩa lịch sử của những tên gọi ấy. Tên thành phố Buôn Ma Thuột (theo từ nguyên, có nghĩa là Làng của cha cậu Y Thuột) gợi ông liên tưởng đến cách xưng hô của người Rhadé: chỉ khi còn bé, người ta mới được gọi bằng tên; khi đã có vợ, người ta được gọi là “chồng của…”; khi có con, người ta lại được gọi là “cha của…”; khi có cháu, người ta lại được gọi là “ông của…”. Võ Phiến nhận xét:

ở người Rhadé, trong cuộc sống sinh lý của con người sinh trưởng và truyền giống lại mai sau, mỗi thắng lợi đều được ca ngợi, tuyên dương trước tập thể: mỗi một lần đổi tên, người Đàn ông như được thăng lên một trật.

Rồi ông băn khoăn:

Những cách xưng hô của các sắc dân nọ hẳn là có phản ảnh cơ cấu thân tộc riêng biệt của họ, đối với của chúng ta có những chỗ khác nhau đáng chú ý. Những chỗ khác ấy không chắc sẽ còn tồn tại lâu dài, nếu không ghi nhận kịp thời, có thể một ngày kia sự tìm hiểu sẽ thành khó vì quá muộn.

Rồi ông ao ước, vừa ao ước vừa chua chát, vừa chì chiết:

Thân tộc, cơ cấu, Claude Lévi-Strauss v.v… những món thời thượng đó, nhiều người vui lòng nói đến lắm. Nhưng nói với những dẫn chứng về dân Trobiandais, dân Pueblos, dân Iroquois, dân Esquimaux v.v… kia. Mấy khi có dẫn chứng về cuộc sống quanh ta? Những hành trình ra hành trình vào dân tộc học vẫn theo các con đường lạ hoắc. Giá có được cuộc hành trình bằng con đường ama Trang Lơng, ama Trang Gưh! (TU1: 298-300).

Đối với các địa danh tại Cà Mau, trong khi Nguyễn Tuân tấm tắc với những âm thanh khấp khểnh, trúc trắc như Rạch Rán, Rạch Rô, Tắc Vân, Chắc Băng…, Võ Phiến lại ngẫm nghĩ trước những cái tên mộc mạc như xóm Ông Đồ, ấp Ông Khâm, ấp Bà Năm, ấp Trùm Thuật, ấp Ông Muôn… để, từ đó, nhận ra một điểm khác biệt lớn giữa miền Nam và miền Bắc:

Ở đất Bắc, nơi núi sông đã lẫy lừng từ nghìn xưa, thì con người nép vào uy danh của bản quán, nương cậy ở khí thiêng của sông núi: thi sĩ Tản Đà, văn sĩ Hồng Nhân [tức Phạm Quỳnh], cụ Tiên Điền, Hồng Sơn lạp hộ, Uy Viễn tướng công, ông tú Vị Xuyên v.v… Ở miền Nam, đất mới chưa kịp có tên, thì xây dựng đến đâu, con người cho non sông mượn tên mình đến đó, trước bạ tên tuổi của mình vào đất đai đến đó (TU1: 228).

Sự thích thú của Võ Phiến đối với tên đất nằm trong sự thích thú chung đối với ngôn ngữ, đặc biệt, đối với loại tên gọi. Ông có một quan niệm đúng đắn: “Người ta vẫn có một cách chăm sóc các giống vật bằng… từ ngữ. […] Có chú ý đến mới có nhiều phân biệt, có phân biệt mới cần đặt ra nhiều tiếng gọi” (TU1: 73). Nói cách khác, những gì “gần tầm tay, mật thiết với cuộc sống thường nhật, thì thu hút được sự bận tâm của ta, sự bận tâm ấy phản ảnh trong ngôn ngữ” (TU1: 66). Trong cách nhìn như vậy, ông chú ý đến sự “trùng hợp kỳ lạ” trong ngôn ngữ các dân tộc thuộc Đông Nam Á liên quan đến từ “cá” (TU1: 295-7); hiện tượng trong ngôn ngữ của một số dân tộc ít người tại Việt Nam không có từ để chỉ cái mặt (TU1: 301-3); đặc biệt, số từ vựng chỉ bệnh tật và các bộ phận của thân thể trong tiếng Việt. Ông nhận thấy trong vốn từ thuần Việt rất hiếm có từ chỉ các bộ phận bên trong cơ thể: để chỉ những bộ phận ấy, chúng ta phải mượn của Trung Hoa; trong các từ thuần Việt chỉ các bộ phận bên trong, phần lớn đều tập trung vào phần dưới: lá mía, lá lách, trái cật, ruột non, ruột già… Chỉ các loại bệnh tật đại đa số là từ Hán Việt: cảm, lao, dịch, thương hàn, thổ tả… Vốn từ thuần Việt, ở phương diện này, thật nghèo nàn, nghèo nàn đến độ, mỗi khi “gặp được tiếng thuần Việt nào có thể ngờ rằng tiếng đó chỉ những chứng bệnh hoặc đã xuất hiện sớm nhất trong cổ thời ở xã hội ta, hoặc hoành hành tác hại nhiều nhất ở ta, khiến được đặc biệt lưu ý” (TU1: 65). Trong các chứng bệnh được ngờ là “có tính dân tộc cao” ấy, Võ Phiến phát hiện ra một chứng: ghẻ. Nghe Võ Phiến nhắc, chúng ta mới thấy số từ vựng chúng ta giành cho chứng bệnh này quả là giàu có không ngờ:

Ta phân biệt ghẻ với chốc, với mụt, với nhọt, với lát, với giời, với sài, với đẹn, với mề đay, với chùm bao. Ta phân biệt ra bao nhiêu là thứ ghẻ: ghẻ nước, ghẻ ngứa, ghẻ tàu, ghẻ bọc, ghẻ phỏng, ghẻ hờm, ghẻ ruồi, ghẻ cóc, ghẻ cái, ghẻ đen, ghẻ khoét v.v… Ta có bao nhiêu tiếng để diễn tả những việc liên quan đến ghẻ: ngứa, gãi, nặn (mủ) v.v…, để theo dõi chứng bệnh: sưng, lở, loét, sẹo, rựng, rần, mưng, nung (mủ), cái kèn, cái cồi, mạch lươn v.v… Tất cả đều là từ thuần Việt (TU1: 65-6).

***

Nếu trung tâm của Tuỳ bút 1 là các sự kiện, trung tâm của Tuỳ bút 2 và tập Quê sẽ là các quan hệ. Ở đây có hai điều cần được nhấn mạnh để tránh ngộ nhận. Thứ nhất, hai yếu tố gọi là trung tâm ấy tồn tại xen kẽ, có khi đồng thời, chứ không hẳn là kế tiếp nhau: Tuỳ bút 1 gồm những bài chọn từ hai quyển Đất nước Quê hương (1973) và Ly hương (1976); Tuỳ bút 2 từ Thư nhà (1962), Tạp bút (1963), Ảo ảnh (1967), Phù thế (1969) và Thư gửi bạn (1976), tập Quê gồm một bài viết từ 1972, một bài từ 1988 và một bài vào năm 1991. Do đó, ở đây, chúng ta nói đến tính chất đa diện, đa dạng và đa thanh của tuỳ bút Võ Phiến hơn là sự phát triển trong tư tưởng hay phong cách của ông. Thứ hai, khái niệm “sự kiện” và “quan hệ” không phải là những khái niệm đơn lập, cô lập: không có sự kiện nào không gắn liền với các quan hệ chằng chịt và phức tạp, ngược lại, cũng không có quan hệ nào là thuần tuý, không dựa trên hai hay nhiều sự kiện cụ thể nhất định. Sự khác nhau, ở đây, chỉ là mức độ: lúc này, sự kiện được coi là chính, quan hệ bị coi là phụ; lúc khác, ngược lại, quan hệ là chính, sự kiện lại là phụ. Chính hay phụ, thật ra, chỉ nằm ở sự bận tâm của người cầm bút.

“Lại thư nhà”, một trong những bài tuỳ bút dài nhất và cũng đặc sắc nhất của Võ Phiến, nêu ra vấn đề quan hệ giữa con người và lịch sử. Trong bài viết, hiện ra, dưới mắt nhìn của tác giả, có hai “nhân vật” chính: món mắm cua chua và anh Bốn Thôi. Một vật một người nhưng hai “nhân vật” ấy lại có nhiều điểm giống nhau. Thứ nhất, cả hai đều gắn liền với một người: chị Lộc. Thứ hai, cả hai đều tầm thường, cực kỳ tầm thường: một bên là một món ăn quê mùa và một bên là một con người chậm chạp, dớ dẩn, không chừng có thể bị coi là đần độn nữa. Thứ ba, bởi vì tầm thường, cả hai đều bị quên lãng: trong sách viết về thực phẩm, không ai nhắc đến món cua chua; trong sách viết về xã hội, về lịch sử, không ai nhắc đến anh Bốn Thôi. Nhưng, cuối cùng, mặc dù tầm thường đến cực độ của sự tầm thường, cả hai lại có vai trò lớn lao trong cuộc sống: món cua chua “rất được quí chuộng trong đám dân nghèo” tại Bình Định, nó gắn liền với tâm tình và số phận của con người ở địa phương ấy, nó đi vào ca dao, vào văn chương; anh Bốn Thôi thì

ngót hai mươi năm trời rồi, gần như hồi nào anh cũng phải cầm vũ khí trong tay: anh né viên đạn của bên này, tránh viên đạn của bên kia, đỡ ngọn roi của bên nọ… Và anh cũng lại đánh trả nữa. Và nét mặt anh thì lúc nào tuồng như cũng rầu rầu, nguội lạnh như một người ngoại cuộc. Vậy mà những hoạt động của anh đã làm ra tình hình của xứ sở […]. Nói một cách văn hoa, anh ta đang làm lịch sử đấy chứ: Lâu nay anh ta vẫn rầu rầu làm ra lịch sử với một vẻ hững hờ, nhẫn nại (TU2: 114-5).

Có thể nói, với “Lại thư nhà”“, cũng như với nhiều truyện ngắn khác của mình, Võ Phiến có công nâng cái tầm thường lên thành một phạm trù thẩm mỹ. Xưa, người ta chỉ chuộng những cái phi thường. Từ đầu thế kỷ XX, các nhà văn nhà thơ bắt đầu chú ý đến những cái tầm thường, hoặc nhiều hơn, cái bình thường, nhưng họ thường có khuynh hướng hoặc là thi vị hoá, hoặc là chính trị hoá, hoặc là bi kịch hoá. Các nhà văn, nhà thơ lãng mạn thời 1930-45 thường thổi vào cái bình thường, cái tầm thường quá nhiều hương thơm, biến cuộc sống lam lũ ở nông thôn thành một bài thơ óng ả. Các nhà văn hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa, sau đó, bắt cái tầm thường phải đóng vai đại biểu cho các giai cấp, các lực lượng xã hội thù nghịch thường vượt ra ngoài biên giới của quốc gia và nhất là biên giới của khả năng nó. Các nhà văn, nhà thơ miền Nam thời kỳ 1954-75 lại bắt những cái tầm thường ấy “buồn nôn”, “ói mửa”, “phá phách”, “phản kháng”, “khắc khoải” về tính chất phi lý và vô nghĩa của cuộc đời. Võ Phiến khác. Võ Phiến cố gắng bình thường hoá những cái tầm thường, làm cho những cái tầm thường trong cuộc đời thành những cái bình thường trong văn học, những cái bình thường “có ý thức”: cách nói này tôi bắt chước Võ Phiến trong bài “Mười giờ”: “Không có tiếng chuông, mình không để ý đến sự im vắng của chung quanh. […] Lâu lâu một tiếng “boong” làm cho sự im vắng tự ý thức về mình. Thành ra một sự vắng lặng có ý thức” (TU2: 222).

“Ngày xuân êm đềm” và “Thư nhà” mô tả mối quan hệ giữa con người và môi trường sinh sống của con người. Ở đây, cũng như rải rác ở nhiều nơi khác, Võ Phiến thường đối lập môi trường nông thôn và môi trường thành thị. Ở nông thôn, cuộc sống nghèo nàn và đơn điệu khiến người ta buồn rầu, luôn luôn thắc thỏm mơ ước đến những chuyến đi xa. Nhưng khi giấc mộng đã thực hiện được, khi đã sống giữa một thành phố xô bồ và đông đúc, người ta lại thấy cuộc sống vẫn nghèo nàn và đơn điệu, hơn nữa, còn thêm vô tình và vô vị, lại bồn chồn nhớ thương đồng quê. Sự đối lập giữa nông thôn và thành thị gắn liền với một sự đối lập khác: sự đối lập giữa xã hội nông nghiệp và xã hội công nghiệp, giữa xã hội tình và xã hội lý. Ở đây, chính ở đây, tâm lý hoài cựu của Võ Phiến trở thành đậm nét hơn bất cứ ở đâu khác. Hầu như ai cũng biết một trong những đặc điểm chính của thể tuỳ bút là tinh thần hoài cựu. Có điều, ở mỗi nhà tuỳ bút, khái niệm “cựu” ấy mang những nội dung khác nhau: với Vũ Bằng, đó là một quãng đời đã mất; với Nguyễn Tuân, đó là một phong thái đã xa; với Phạm Đình Hổ, đó là một cái đạo đã suy vi; còn với Võ Phiến? Theo tôi, Võ Phiến nhớ tiếc tình người. Trong cái gọi là quan hệ giữa con người và môi trường sinh sống, có một thứ quan hệ khác nữa: quan hệ giữa người với người trong môi trường sinh sống ấy. Trong những quan hệ như thế, Võ Phiến đánh giá cao sự chung thuỷ: “dầu sau khi mình chết mà con cháu có làm tới quận công sao bằng đang sống mà gặp được sự chung tình. Sự chung tình vô giá càng ngày càng hiếm…” (TU2: 18). Hiếm, chủ yếu vì cái bao la, cái đông đảo của môi trường sinh sống. Võ Phiến hay nhắc đến “cái rét đô thị”, ở đó, con người bị “tiêu mòn đi trong cái mênh mông to lớn […] như một mảnh nước đá nhỏ hoà tan trong thau nước lớn, như chút khói thuốc mỏng mảnh bay vật vờ một lát trên ngọn cỏ bên lề đường rồi tan mất, vô nghĩa” (TU2: 54). Ghê cái rét ấy, Võ Phiến càng lưu luyến những gì đang phôi pha dần, như cái quan hệ láng giềng gần gũi, thân mật ở Qui Nhơn, quê ông, chẳng hạn.

Tinh thần hoài cựu ấy dường như nhạt nhoà đi nhiều sau 1975. Di tản, hoài hương quay quắt, nhưng Võ Phiến không hoài cựu. Võ Phiến dần dần chấp nhận quy luật của sự tiến bộ: ông ra sức tìm hiểu đời sống mới tại Tây phương và cố gắng thích nghi với nó. Thư gửi bạn (1976) và Lại thư gửi bạn (1979) là một nỗ lực vừa cần mẫn vừa xót xa như thế.

Trong bài “Lúc dừng nghỉ”, Võ Phiến lại nhìn vấn đề quan hệ giữa người và người trên một bình diện lớn hơn và cũng khái quát hơn, dường như thấp thoáng chút hơi hướm hiện sinh chủ nghĩa: “Người là một ám ảnh thường trực của nhau”. Võ Phiến nhận xét:

Trong thuở hồng hoang, trên mặt đất mênh mông, con người thưa thớt hiếm hoi, tìm nhau khao khát. Thuở ấy đứng giữa thiên nhiên là lạc loài, lo hãi. Nép vào tập thể đồng loại là trở về.

Ngày nay chúng ta bị dìm đầu vào xã hội. Thể xác không ngớt chịu đựng những va chạm cụ thể: vách nhà ta sát vách nhà láng giềng, đôi bên lấn nhau từng phân đất. Trí óc không ngớt tràn ngập những vấn đề nhân sự, từ ngày khôn lớn biết suy nghĩ cho đến hơi thở cuối cùng. Người người bị bắt buộc đối diện nhau thường trực, bao vây nhau, ám ảnh nhau. Người bị ngộp vì người.

Trong tình cảnh ấy, chàng lại tìm thấy cảm tưởng yên ổn trong cái hững hờ lạnh nhạt của thiên nhiên vô tình: của vầng trăng đối diện với mặt đất, của trời rộng đối diện với sông dài… không một chút sôi nổi, không cả một chút gì tương quan với nhau. Cùng nhau tồn tại, thản nhiên, trang nghiêm, vô sự (TU2: 205).

Hầu hết các bài viết in trong phần ba của Tuỳ bút 2 đều xoay quanh sự cô đơn. Nhân vật trầm ngâm một mình: hoặc đọc sách một mình trong phòng (“Xem sách”), hoặc uống cà phê một mình (“Cái còn lại”, “Giọt cà phê”), hoặc nằm thao thức một mình (“Một ngày để tuỳ nghi”, “Lúc dừng nghỉ”, “Một chỗ thật tịch mịch”), hoặc nhấp nhỏm ở nhà một mình (“Mười giờ”). Lúc nào cũng một mình. Nhưng không có ai được hoàn toàn yên ổn. Bởi không ai thực sự một mình: dẫu trong phòng không có ai, trong nhà không có ai, thì vẫn luôn luôn có ai đó trong tâm tưởng, cứ khua động hoài hoài trong trí nhớ. Có khi trí không nhớ mà da thịt thì vẫn nhớ: “Ông bàng hoàng, ngẩn ngơ. Ông không nghĩ đến Loan, nhưng từng giác quan của ông chúng vẫn nhớ nàng” (TU2: 224). Có khi trí không nhớ mà tiềm thức thì vẫn nhớ: ngồi uống cà phê trong quán phở của một người trưởng ty công an cũ, “chàng mở mắt chiêm bao những điều kỳ dị, hãi hùng”, chẳng hạn: “Một người đưa đũa lên gắp lấy vành tai kẻ đối diện, kéo. Người kia co rúm lại, không một tiếng kêu. Nhưng chắc chắn là người thứ nhất đã gắp được, điềm nhiên nhúng vào tô, ăn thong thả. Hai thực khách đều lặng lẽ. Chủ quán ở bên cạnh, lặng lẽ” (TU2: 179 & 180).

Đặt nhân vật trong bối cảnh một mình, cô đơn, Võ Phiến dễ làm nổi bật lên một thứ quan hệ khác, quan hệ thời gian, giữa quá khứ và hiện tại. Không có hiện tại nào chỉ là hiện tại. Bất cứ hiện tại nào cũng lấp lánh những hồi quang từ quá khứ, hoặc gần hoặc xa. Từ đó, Võ Phiến phát hiện ra tính chất đa ngã của con người: trong cùng một lúc, con người có thể sống nhiều cuộc đời khác nhau, với những kỷ niệm khác nhau; có thể mang nhiều tính cách khác nhau, với những hình ảnh khác nhau. Một người đang là một nhà thơ nổi tiếng cũng đồng thời là một người thất bại trong tình yêu, bị bạn bè sỉ nhục giữa nơi công cộng, bị ngay cả những kẻ tầm thường nhất trong xã hội rẻ rúng; vừa rất đẹp, gần như sắp sửa trở thành một biểu tượng của nghệ sĩ, hơn nữa, của nghệ thuật nói chung, lại vừa hết sức nhảm nhí: đọc sách, chỉ khoái xem phụ bản; xem phụ bản, chỉ khoái tưởng tượng đến những người thân quen; đối với những người thân quen, chỉ chú mục vào hình ảnh một cô gái với sự tò mò “có ý rình chờ lúc cô giáo giơ cao cánh tay lên, để xem nách cô ta, xem thử…” (TU2: 154). Một nông dân chất phác đến độ bắt gặp quả tang vợ mình đang ngoại tình cũng chỉ biết “nghẹn cứng ngang cổ, không thở được”, vậy mà, về sau, trở thành một hung thần trong làng (Q: 20-9). Cái gọi là tính chất đa ngã ấy còn có một ý nghĩa khác: “Ở cái thời buổi loạn ly này đời sống của mỗi người như chắp bằng trăm mảnh, như tấm áo cà sa trăm màu”, chẳng hạn, “một đoạn đời hoạt động ở hàng ngũ bên kia có thể được ghép với một đoạn phục vụ ở hàng ngũ bên này, những ngày trôi sông lạc chợ có thể ghép bên cạnh những đêm ăn chơi đế vương” (TU2: 173). Thành ra, cuộc đời của người nào cũng dường như “gãy rời ra, mất chỗ này một đoạn, lìa chỗ kia một đoạn, xa lạc nhau, không dính dấp gì với nhau” khiến nhiều lúc tự nhìn lại mình, người ta còn không khỏi bỡ ngỡ, huống gì người khác (TU2: 172).

Dường như càng ngày Võ Phiến càng trăn trở, càng muốn nhận diện thật đầy đủ bản chất của con người. Nhìn con người trong mối quan hệ với môi trường đô thị, trước 1975, ông phát hiện ra sự lạc lõng và lạc loài; sau 1975, ông phát hiện thêm một đặc điểm nữa: sự khắc khoải và thảng thốt (Q: 130). Nhìn con người trong mối quan hệ với đồng loại, trước 1975, ông chỉ thấy sự bất an (TU2: 204); sau 1975, ông thấy thêm cả sự bất toàn: “Vạn vật sinh ra hầu hết là những sinh vật bất toàn. Mỗi người nam là nửa người, mỗi người nữ là nửa người. Mỗi con trống là nửa con, mỗi con mái là nửa con” (Q: 114), do đó, con người luôn luôn thấy “lạnh”: ông gọi là “cái lạnh nửa người”. Từ “cái rét đô thị” đến “cái lạnh nửa người”, có một khoảng cách rất xa trong tư tưởng.

Trước 1975, Võ Phiến thường nhìn con người trong kích thước xã hội và lịch sử. Sau 1975, đặc biệt từ cuối thập niên 80 trở đi, ông thích nhìn con người trong kích thước vũ trụ. Trong “Thế cuộc”,[14] “Khách xá qui tâm”[15] và “Cái lạnh nửa người”,[16] Võ Phiến đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó có một vấn đề nổi bật, bàng bạc trong cả ba bài: cái nhỏ nhoi, cái mong manh của kiếp người. Nhỏ nhoi, mong manh giữa cái vĩnh cửu, cái vô cùng của thời gian. Nhỏ nhoi, mong manh giữa cái không cùng, không tận của trời đất.

Một sinh vật giữa đất trời: mong manh biết chừng nào. […] Một mình giữa cõi trần xa lạ mênh mông giá buốt, cái gì cũng đáng khiếp cả. Sao trời, băng giá: thấy mà ghê; tiếng gió tiếng sấm: nghe mà ghê; màu xanh hãi hùng đe doạ khắp tư bề. Nắng sáng loà khắp cõi không cùng thấy đã hãi mà đêm tối mịt mùng càng hãi. Tiếng động nghe đã kinh hồn mà cái im lặng phăng phắc càng kinh hồn hơn. Cái chết đã thảm, mà cái sống bơ vơ càng thảm thiết hơn nữa. Con người khóc Một mình giữa Mênh Mông (Q: 117).

Đáng khiếp, đáng sợ, song Võ Phiến vẫn thích đối diện với những cảnh hùng vĩ bao la để lại càng thấm thía hơn cái nhỏ nhoi, cái mong manh của kiếp người. Không phải tư tưởng của Võ Phiến thay đổi mà cả óc thẩm mỹ của ông cũng thay đổi theo. Trước, ông thích những cái tầm thường, nhỏ mọn: một cánh chim, một sợi khói, “một con nhện đu đưa ở đầu một sợi dây tơ thả lửng lơ giữa nhà”… Sau, ông thích những đỉnh núi cao chất ngất, những vực thẳm sâu hun hút. Đối với thực vật, hoặc ông thích những cây bồn tài già cả hàng nghìn tuổi, những cây hồng sam già cả bốn, năm nghìn tuổi, hoặc ông mê những cây gồi cao hơn ba chục thước tây:

Ngọn gồi, nói đến là ông Nguyễn nôn nao cả người: Ngọn gồi, cái tàn cây vắt vẻo ấy, phải nói là nó thuộc về không gian. Nó ở hẳn một cõi cao. Nó lờ hẳn ta, cách biệt hẳn ta, không biết đến ta nữa […]. Ban ngày giữa nắng sáng chói chang trời xanh lồng lộng, cùng từng cơn gió, cùng với các đám mây trắng nhẹ phới, các tàn gồi chúng đàm đạo về những bí ẩn muôn đời; ban đêm cùng với từng ngôi sao trên trời sâu thăm thẳm tàn gồi gật gù mặc tưởng suốt năm canh, suốt đêm dài bất tận về lẽ huyền vi của vũ trụ (Q: 55-9).

Đối diện với những cảnh ấy, Võ Phiến cảm thấy chơi vơi. “Thời gian nó uy hiếp mình. Khoảng rộng nó uy hiếp mình”. Ông “chợt thấy những chạy vạy bon chen trong sở làm, những hục hặc gầm gừ trong gia đình, những lo lắng băn khoăn trong việc làm ăn, thậm chí cả “mối tình lớn” trong đời mình cũng đâm ra vô nghĩa” .[17]

Sở thích mới về cái bao la, cái hùng vĩ ấy giúp Võ Phiến phát hiện ra một cách nhìn mới về một kỷ niệm cũ, thời ông ấu thơ, để viết nên một đoạn văn cực đẹp:

[…] khoảng xế trưa, tôi đang ngủ dưới bóng cây ở bãi sông bỗng choàng thức giấc. Tôi ngơ ngác quay đầu tìm xem cái gì đã đánh thức mình. Trời nắng đậm, thời khắc ngưng lại sững sờ, mây trắng từng đám lặng lẽ không di chuyển. Trong im lặng phăng phắc, tai tôi nghe cả tiếng vỗ cánh của một con chim nhỏ, tiếng chân con rắn mối khua lá khô rột rẹt. Bờ sông phía bên kia, ở chỗ quẹo, lở thành vách đứng cao vút. Phía bên ấy có những đám bắp nằm sâu vào bên trong, từ chỗ tôi không trông thấy bắp, chỉ thấy vài con bò cặm cụi ăn cỏ mép sông. Và một người đàn bà đang nhìn dáo dác rồi há miệng thật to… A! đó là cái đã đánh thức tôi?

Chắc chắn đây là một bà mẹ gọi con. Gọi một trong những đứa trẻ vẫn chơi đùa với tôi hàng ngày ở bãi sông.

Từ dưới lòng sông bên này nằm trông lên bờ sông bên kia, xa tít, ngược chiều nắng: một người đàn bà nhỏ bé vung tay, ngoác miệng, giãy giụa trên cao, sau lưng là tảng mây trắng sáng loà.

Lúc bấy giờ đứa bé ngờ nghệch là tôi đâu biết gì. Thế nhưng từ trong giấc ngủ bật ra bàng hoàng, trước hình ảnh người mẹ chới với giữa mây trắng, tự dưng tôi ngợp trong buổi trưa mênh mông. Thình lình có cảm giác vừa ngao ngán vừa kinh hãi (Q: 106-7).

Viết về con người từ những mối quan hệ khác nhau, phần lớn các bài viết trong Tuỳ bút 2 và Quê đều có tính chất tự sự rõ rệt. Mỗi bài viết như là một truyện ngắn. Cũng có nhân vật. Cũng có động tác. Cũng có đối thoại. Cũng có một cốt truyện đàng hoàng. Đây là một trong những điểm khác biệt quan trọng giữa Tuỳ bút 1 và Tuỳ bút 2: Tuỳ bút 1 gần với tiểu luận, ngôn ngữ tư biện là yếu tố chủ đạo; Tuỳ bút 2 gần với truyện ngắn, ngôn ngữ hình tượng là yếu tố chủ đạo. Trong Tuỳ bút 1, Võ Phiến say sưa theo đuổi ý nghĩa của các sự kiện, đâm ra lười quan sát và mô tả; trong Tuỳ bút 2 và cả tập Quê sau đó, ngược lại, Võ Phiến lại phát huy triệt để khả năng quan sát và mô tả của mình: từng tiếng rao hàng được ghi nhận (TU2: 120 & 164-6); từng tiếng tu hú được ghi nhận (TU2: 175-6); từng giọt cà phê nhỏ đều xuống cốc được ghi nhận (TU2: 174); từng con nhện, con chuột trong căn nhà vắng được ghi nhận (TU2: 100); cái tròng mắt chạy qua chạy lại một cách bất an của một người con gái trong cơn ân ái cũng được ghi nhận (TU2: 196); tài tình và cũng tinh quái nhất là lúc Võ Phiến ghi nhận được cái ngón chân cái oằn lên của một người đàn bà đang ngoại tình trong bài “Nhớ làng” in trong tập Quê.

Điều tôi tâm đắc nhất khi đọc Tuỳ bút 2 và Quê là ở điểm: Võ Phiến vừa tăng cường chất tự sự lại vừa tăng cường chất thơ. Nói Tuỳ bút 2 và Quê gần với truyện ngắn: cũng được; nói nó gần với thơ: cũng được nữa. Không chừng cách nói sau vừa gần sự thực vừa làm Võ Phiến đắc ý hơn. Chắc không phải ngẫu nhiên mà ông lại tuyển ít thơ của ông để in vào Tuỳ bút 2, chứ không phải Tuỳ bút 1, hay Tạp bút, chẳng hạn. Chắc cũng không phải ngẫu nhiên mà nguyên phần ba của Tuỳ bút 2 lại được in nghiêng, cùng kiểu chữ với phần thơ trước đó. Tôi muốn coi những bài tuỳ bút đăng ở phần ba ấy [18] là những bài thơ văn xuôi.

Thì người ta cũng có thể coi tuỳ bút Nguyễn Tuân là những bài thơ văn xuôi. Đã đành. Có điều, nếu coi tuỳ bút Nguyễn Tuân là thơ thì đó hẳn là những bài thơ cổ, đầy tính chất Đường thi, từng thanh bằng thanh trắc ngân nga, từng âm trầm âm bổng dìu dặt, cái hay của chúng nằm ở từng chữ dùng thật đắc, những “nhãn tự”, những “thần cú”. Thơ-tuỳ-bút của Võ Phiến giống với thơ miền Nam trước đây hơn: đó là thơ tự do, cái hay nằm ở kết cấu toàn bài hơn là ở từng đơn vị nhỏ, như từ, như câu. Đặc biệt là trong thơ-tuỳ-bút của Võ Phiến cũng có… vần.

Vần của thơ tự do, dĩ nhiên. Nói như Thanh Tâm Tuyền, trong bài “Nỗi buồn trong thơ hôm nay”, đó không phải là loại vần theo lối đồng âm đồng thanh, mà là thứ vần ẩn giấu, cách xa, có khi khác thanh nghịch âm.[19] Trong hầu hết các bài tuỳ bút ở phần ba, Võ Phiến thường xuyên lặp đi lặp lại một số từ, một số hình ảnh, thậm chí, có lúc, nguyên cả một câu dài. Ở “Giọt cà phê”, đó là hình ảnh một người ngồi Một mình với những giọt cà phê rơi chậm xuống đáy cốc; ở “Một ngày để tuỳ nghi” là những cơn thức giấc giữa khuya và câu than thở “không còn thì giờ nữa”; ở “Cái còn lại” là hình ảnh một người già, ngoài sáu mươi tuổi, tóc bạc và rụng nhiều, với ly cà phê nguội và chua. Nếu tước đi những đoạn mô tả, lý luận để khai triển vấn đề, chỉ giữ lại một số hình tượng chính, bài “Lúc dừng nghỉ” sẽ giống y hệt một bài thơ văn xuôi:

Lúc ấy chừng một giờ khuya. Trăng ở giữa trời. Chàng sực thức dậy, và mỗi lúc mỗi tỉnh táo thêm. Kéo mền đắp ngực, nằm ngửa mặt nhìn lên; hồi lâu chàng dần dần có cảm tưởng không phải mình chỉ tỉnh táo vì tách rời hẳn giấc ngủ, mà còn vì rời xa cuộc sống thường nhật. […]

Chàng thức giấc có lẽ vì khát nước, cũng có lẽ vì con chó hực lên một tiếng bên cạnh. Nó có hực chăng? Trong giấc ngủ không nghe rõ, lúc tỉnh dậy chàng không nhớ quyết; nhưng tỉnh dậy đầu tiên chàng trông thấy nó bên cạnh, mắt đăm đăm theo dõi vài đồng loại nô đùa dưới đường. Trên gác, chỉ có mình chàng và con chó là thức; mọi người trong nhà đã ngủ say.

Một mình chàng, với chó, với trăng. Hồi lâu, chàng thấy không phải mình chỉ vừa tỉnh rượu, tỉnh ngủ, mà còn tỉnh khỏi cuộc sống thường nhật, tỉnh khỏi cuộc nhân sinh nồng nàn. […].

Cuộc sống nồng nàn – Chàng vùi đầu vào đấy, hùng hục như bao nhiêu kẻ khác xung quanh. Cùng năm mãn tháng, bỗng một đêm tỉnh rượu, giữa khuya, mở mắt và sững sờ với vành trăng lặng lẽ ngang đầu. […].

Cùng năm mãn tháng, tình cờ chàng có cơ hội gặp vầng trăng trong khoảnh khắc hoang đảo, một khoảnh khắc giải toả […].

Chàng đốt một điếu thuốc. Đêm nay, trong khoảnh khắc gặp gỡ, chàng cùng với vầng trăng cùng sáng lên với nhau, thản nhiên, trang nghiêm (TU2: 200-6).

***

Tuỳ bút Võ Phiến, như thế, chỉ là một chuỗi dài những trăn trở, những khắc khoải. Hết khắc khoải về các vấn đề văn hoá, chính trị, xã hội, lịch sử, lại khắc khoải về bản chất cuộc đời và số phận của con người. Đọc tuỳ bút của Nguyễn Tuân, của Thạch Lam, của Vũ Bằng… chúng ta thấy khoái chá; đọc tuỳ bút của Võ Phiến, chúng ta thấy ngẩn ngơ. Mà, nghĩ cho cùng, có gì đâu để ngẩn ngơ chứ? Ông viết những điều giản dị, gần gũi biết bao. Như những ngọn đèn vàng. Như bầu trời xanh. Chỉ là ngọn đèn vàng cạch tầm thường vậy thôi. Vậy mà, không hiểu sao, nó cứ ám ảnh người đọc hoài suốt bao nhiêu năm. Chỉ là trời xanh vậy thôi. Chỉ là mây trắng tơ tướt ngang trời vậy thôi. Vậy mà, lạ thay, cái bầu trời thao thiết mênh mông ấy, cái làn mây nhẹ nhàng, lưu đãng ấy lại có hấp lực hút bật dậy bao nhiêu cảm xúc ngỡ chừng ngủ yên trong ta.[20] Ông day dứt mà ta thì ngẩn ngơ. Ông trăn trở mà ta thì động lòng. Ông có lúc cười cợt mà ta thì lại nghe như có cái gì thật xót xa. Lạ.

Nguyễn Hưng Quốc

_________________________

[1]Đặng Tiến (dưới bút hiệu Nam Chi) (1987), “Anh Bình Định, con chim én và những đám khói”, Đoàn Kết số 389 (3.87), tr. 31.

[2]Nguyễn Hiến Lê (1973), lời Tựa tập Đất nước Quê hương của Võ Phiến; in lại trong Tuỳ bút 1.

[3]Đặng Tiến (dưới bút hiệu Nam Chi) (1987), “Về thể văn tuỳ bút”, Đoàn Kết số 390 (4.87), tr. 29.

[4]Đặng Tiến (1987), “Anh Bình Định…”, bđd, tr. 28.

[5]Xem Lời giới thiệu của Nguyễn Đăng Mạnh in trong Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập 1, Văn Học, Hà Nội, 1981, tr. 11-72.

[6]Nguyễn Đăng Mạnh, bđd, tr. 50.

[7]Như trên, tr. 54.

[8]Nguyễn Hiến Lê (1973), bđd.

[9]“Chuyện bọt bèo” là chữ của Võ Phiến trong bài “Hạt bọt trà” in trong Tuỳ bút 1, tr. 160-8.

[10]Phan Ngọc (1988), “Nguyễn Tuân, quá trình chuyển biến của một phong cách”, Thông tin Văn hoá Văn nghệ số 4b (1988), tr. 23.

[11]Dẫn theo Nguyễn Đăng Mạnh (1981), bđd. tr. 69-70.

[12]Một số người, nhất là các giáo viên trung học, trong các bài giảng, thường cho bài thơ này thể hiện cái tính… hà tiện, thậm chí keo kiệt của Nguyễn Khuyến.

[13]Dẫn theo Nam Chi (1987), “Vệt khói nhạt trên lư đồng”, Đoàn Kết số 395 (10.87), tr. 13.

[14]In trên Làng Văn số 71 (7.90), tr. 31-41.

[15]In trong tập Quê, Văn Nghệ, California, 1992, tr. 31-93.

[16]Cũng được in trong Quê, tr. 95-132.

[17]Võ Phiến (1990), “Thế cuộc”, Làng Văn số 71, tr. 40.

[18]Gồm các bài “Xem sách”, “Cái còn lại”, “Ế ị”, “Giọt cà phê”, “Một ngày để tuỳ nghi”, “Lúc dừng nghỉ”, “Một chỗ thật tịch mịch” và “Mười giờ”.

[19]Thanh Tâm Tuyền, “Nỗi buồn trong thơ hôm nay”, in lại trong Bốn mươi năm thơ 1945-85, tập 2, Thi Vũ, Quê Mẹ, Paris, 1993, tr. 275.

[20]Những chữ in nghiêng là của Võ Phiến trong bài “Cái còn lại” và “Mười giờ”.

 

Đọc lại Tổng quan văn học miền Nam của Võ Phiến

Đặng Tiến

Văn Học Miền Nam 1[1]là một pho trước tác của nhà văn Võ Phiến, sinh năm 1925; theo giấy tờ.

Tác phẩm gồm 7 tập, tổng cộng 3230 trang, 13 x 21 cm, năm 2000 in trọn bộ. Cuốn I, Tổng Quan, in lần đầu từ 1986. Sáu cuốn sau gồm có những nhận định và trích tuyển văn thơ theo từng bộ môn, trước đây đã xuất bản theo khổ nhỏ 11×17 cm dưới những tựa đề Thơ Miền Nam, Truyện Miền Nam, ( 1991-1995), đều do nhà xuất bản Văn Nghệ, chuyên in sách Võ Phiến, đã in Võ Phiến Toàn Tập, 9 cuốn, chưa toàn bộ.

I . Một nền văn học bất hạnh

Miền Nam ở đây là cương vực nhà nước Việt Nam Cộng Hoà trước đây, từ Bến Hải đến Cà Mau, từ 1954 đến 1975. Văn Học bao gồm những sáng tác văn nghệ đã xuất hiện trong thời gian nói trên, được xếp theo bộ môn : ba cuốn dành cho thể Truyện, một cho Ký, một cho Tuỳ bút và Kịch, cuốn út cho Thơ. Về mỗi tác giả, Võ Phiến nhận định dài ngắn khác nhau và trích tuyển một tác phẩm tiêu biểu, trừ bộ môn Thơ có thể trích một hay nhiều bài. Có tác gia được nhắc đến hai lần vì sử dụng nhiều thể loại. Cụ thể thì về Truyện, đếm được 50 tác giả, về Ký có 22 người, Kịch và Tuỳ bút được 14 tên, cuối cùng là 32 nhà thơ. Danh mục, tiểu sử ở cuối cuốn Tổng Quan giới thiệu được non 400 tác gia, lại có bản tra cứu danh sách (index) tiện lợi.

Dụng tâm và dụng công của Võ Phiến là phục hồi nền Văn Học Miền Nam đã bị chính quyền Cộng Sản bôi xoá từ 1975. Bôi xoá bằng cách tịch thu, thiêu huỷ, cấm lưu hành, tàng trữ tác phẩm, bêu riếu đó là văn hoá “ thực dân mới ,nô dịch ,đồi truỵ, phản động“ v. v… Để thay vào, chính quyền rầm rộ đặt ra các khái niệm „văn học giải phóng“ ,“văn học cách mạng“ , với những Giang Nam, Phan Tứ, Nguyễn Quang Sáng, v.v. … xem như tiêu biểu cho văn học Miền Nam. Võ Phiến quyết liệt bác bỏ luận điệu này, cho đó là một nguỵ tạo danh từ, một lối“ cưỡng chiếm văn hoá “ .

Khước từ Cộng Sản

Võ Phiến được xem là ngòi bút chống Cộng. Chính quyền hiện nay đã ra rả bảo thế, và cấm đọc cấm nhắc đến ông; và chính ông đã viết:“Võ Phiến khước từ Cộng sản ngay từ đầu, có thái độ dứt khoát, vừa sáng tác vừa khảo luận“( 2000,tr. 240). Ngay từ đầu là thời kỳ chống Pháp, ông đã bị án tù ở Liên Khu V, nhờ vào hiệp định Genève 1954,bị bỏ sót trong danh sách tập kết, mới giả làm lái buôn trốn thoát. Tô Hoài trong hồi ký Chiều Chiều xác nhận Võ Phiến thuộc diện những người cần đem ra (Bắc) thì bỏ lại2[2] vì sơ hở. Về đến vùng quốc gia, ông đã có ngay những tác phẩm tố cáo “chế độ mà tôi đã từ chối“[3]. Tháng 4/1975, di tản sang Hoa Kỳ, Võ Phiến tiếp tục viết sách và không chấp nhận một thoả hiệp gần xa nào với chính quyền hiện tại . Nói rõ như vậy để hiểu dụng tâm của Võ Phiến : Miền Nam (Quốc gia) đối lập với Miền Bắc (Cộng sản) trong cuộc chiến tranh Nam Bắc cốt nhục tơng tàn kéo dài 20 năm. Văn Học Miền Nam là nền văn chương mà Võ Phiến đã góp công xây dựng từ đầu đến cuối, là quê hương thứ hai được ông nâng niu, trìu mến. Dĩ nhiên tác phẩm có tư biện chính trị, nhưng ở Võ Phiến động cơ chính là nhu cầu tâm cảm và trí thức ; vả lại ông vừa là tác nhân vừa là chứng nhân , nạn nhân của miền văn học ấy, ông có trách nhiệm, và thẩm quyền phát biểu về nó, cho dù rằng cách phát biểu có bị giới hạn về mặt thời gian, tuổi tác, sức khoẻ,tư liệu và văn phong bút pháp. Chưa kể: kỷ niệm, đâu đấy, là một động lực, đâu đấy lại là một trở lực văn học.

Nhu cầu trong và ngoài nước

Văn Học Miền Nam, Tổng Quan, tức là cuốn I, nay in lại lần thứ 3, chứng tỏ sách có độc giả. Không dễ gì một tác phẩm biên khảo được in đi in lại. Ở hải ngoại, có nhu cầu về phía những người lưu tâm đến lịch sử văn học, muốn có những tưliệu đầu nguồn first hand, về nền văn học Miền Nam từ 1954 đến 1975. Ngoài ra, theo chỗ hiểu biết riêng của chúng tôi, thì ở trong nước cũng có nhu cầu như thế, về phía những nhà nghiên cứu nghiêm minh, muốn thật sự tìm hiểu xã hội văn học miền Nam, bên ngoài những luận điệu chửi bới biết rồi khổ lắm nói mãi; mà Võ Phiến là người trong cuộc, vì ông đã viết sách, viết báo, làm nhà xuất bản, làm công chức Bộ Thông Tin suốt 20 năm, dài dài theo lịch sử của chế độ. Cũng có người đọc vì tò mò : nền văn thơ ấy bị lên án như thế, bản thân Võ Phiến bị chửi bới như thế, vậy thử đọc xem ông ấy nói năng cái gì, đối đáp ra sao. Do đó, trong nước đang có nhiều người đọc Tổng Quan của Võ Phiến qua những bản chuyển lén. Hiện nay số người này càng ngày càng nhiều

Buồn vui trong nghề cầm bút

Đọc Văn Học Miền Nam để biết chuyện truyền bá chữ nghĩa, đã đành. Mà còn để biết lối sống, cách sinh hoạt, ứng xử của giới viết sách, đọc sách thời đó. Tổng Quan là một cuốn xã hội học văn học, đúng hơn là lịch sử văn học. Võ Phiến ghi nhận thời sự văn học và báo chí ở mặt nổi, ghi lại những khuynh hướng văn học thăng trầm trong thế sự, khi phản ánh, khi phản ứng, người ủng hộ, kẻ chống đối. Ông không làm công việc nghiên cứu văn học thuần tuý, nghĩa là sắp xếp khuynh hướng rạch ròi, phân tích động cơ cặn kẽ, trình bày sự hình thành, chuyển biển, theo tác phẩm, tác giả trong liên hệ hữu cơ. Tao nhân mặc khách theo thanh giáo (puriste) có nhiều lý lẽ chê trách, còn những độc giả muốn tìm hiểu, hay nhớ lại một không khí xxã hội, một thị trường văn học, muốn“ bán tận nguồn, buôn tận gốc“ , đọc Tổng Quan sẽ tìm thấy nhiều yếu tố xã hội đã tạo ra nền văn học đó. Tần Thuỷ Hoàng ngày xưa, và nhà Minh khi chiếm cứ nước ta có thể thiêu huỷ toàn bộ tư liệu văn học, – như Võ Phiến đã nhắc 4[4] – nhưng ngày nay, một chính quyền, bất cứ chính quyền nào, không có cách gì thiêu huỷ toàn bộ các ấn phẩm. Vì vậy các tác phẩm, nếu có giá trị, trước sau gì rồi cũng được tương lai hồi phục. Riêng một khí hậu văn học, cái thời tiết xã hội rồi sẽ chìm trôi theo với một thế hệ, “một mùa người giữa hai con nước“(une saison d’hommes entre deux marées), như lời thơ Aragon. Võ Phiến lưu tâm ghi lại những buồn vui của nghề, và của người cầm bút, trong một chế độ chính trị và xã hội đã phôi pha ; vậy đây là một công trình thiết yếu cho nhân tâm, và quý hoá cho văn học. Huống hồ là trong cung cách “làm việc tài tử“( Truyện 1,tr. 502), ông đã “lấy cái kinh nghiệm của người sáng tác mà bày tỏ dăm ba cảm tưởng về việc sáng tác và người sáng tác“(tr. 506). Như vậy, đứng về hai mặt nhân văn và thi văn, Tổng Quan, tập đầu trong bộ Văn Học Miền Nam, là một đóng góp quan trọng – cần được trân trọng ; tác giả nói đúng chỗ nọ, sai chỗ kia, thì lại là chuyện khác.


Một ký sự xã hội văn học

Tổng Quan là một thiên ký sự về xã hội học, ghi lại : văn thơ Miền Nam đã xuất hiện ra sao, trong hoàn cảnh nào, đã biến chuyển rồi kết thúc ra sao, qua một số tư trào và tác gia tiêu biểu. Sách chia làm ba phần :

– Phần I, khái quát tình hình vật chất và tinh thần,

– phần II, chia giai đoạn thành hai thập niên 1954-1963 và 1964-1975

– phần III, lược khảo về các bộ môn : tiểu thuyết, thơ, …

Sắp xếp như thế, tác giả không tránh khỏi lặp đi lặp lại, làm người đọc dễ chán.

Ở phần khái quát, Võ Phiến trình bày : vị trí, nhà văn, thành phần xã hội, mức sống, lối sống (…). Chúng ta biết 1974 lợi tức của họ bao nhiêu, giá mỗi tạ gạo, tiền chợ mỗi ngày, dầu hôi mỗi lít là bao nhiêu (tr. 60) ; nhà văn sống nhờ vào truyện đăng báo hằng ngày, Bình Nguyên Lộc viết đến 11 feuilletons mỗi ngày, mà còn thua An Khê (…) Chúng ta biết Miền Nam, năm 1972, mỗi ngày phát hành nửa triệu tờ nhật báo và bán được 300 000 tờ (tr. 89) ; độc giả các tạp chí, sáng tác văn nghệ ba phầntưlà ở miền Trung (tr. 95), nhưng đa số vẫn là dân thành phố (tr. 98) ; Chúng ta biết giờ giấc hàng ngày của Nguyễn Hiến Lê (tr. 65) ; đời sống kinh tế của gia đình Nhã Ca, Tuý Hồng (tr. 61). Võ Phiến cho biết ngành xuất bản phát triển mạnh. Riêng ở đô thành Sài gòn đã có cả nghìn nhà in, 150 nhà xuất bản (…), số ấn hành trung bình cho một tác phẩm văn nghệ là ba nghìn bản (…) ; và cũng cải tiến về kỹ thuật(tr.110-111) . Từ đó, nhiều tác giả đứng ra làm nhà xuất bản, nhưng không một nhà văn nào giàu có nhờ xuất bản (…) đến 1974 thì hoạt động này như tê liệt hẳn(tr. 115).

Làm giặc và làm dáng

Về đời sống tinh thần, tác giả, miêu tả hoàn cảnh chính trị, tâm lý, vai trò của thổ ngơi Nam Bộ, đưa đến một nền văn học tự do, “một thứ tự do tương đối, có hạn chế nhưng rộng rãi hơn hẳn (miền Bắc)“(tr. 173). Tuy nhiên, cũng phải phân biệt hai giai đoạn : thập niên đầu, dân chúng hân hoan phấn khởi, giai đoạn sau “tình hình chính trị hỗn loạn, xã hội sa đoạ, kinh tế suy sụp, an ninh bất ổn, với mộttinh thần dân chúng dần dần trở nên thất vọng, chán nản, hoang mang“(tr. 129). Trong những người thất vọng, chán nản, Võ Phiến đã trích dẫn những tác gia đồng thế hệ : Vũ khắc Khoan, Nghiêm xuân Hồng, Vũ hoàng Chương, và bản thân Võ Phiến (tr. 271). Ông còn có thể kể thêm nhiều tên nữa, như Nguyễn mạnh Côn, lúc đầu hăng say “Đem tâm tình viết lịch sử“(1956) về sau chua cay nhận là đã “Lạc đường vào lịch sử“(1965) để cuối cùng đi tìm “Đường nào lên Thiên Thai“(1969). Chưa kể một số nhà văn, trí thức âm thầm ủng hộ “bên kia ,nối giáo cho giặc“ . Võ Phiến đã tóm lược trong một công thức chắc nịch, mà ông giữ bí quyết về văn pháp :“kẻ làm giặc, người làm dáng“ (tr. 273).Làm giặclà những tờ báo Trình Bày, Đối Diện, Tin Văn,làm dánglà báo Vấn Đề của Vũ Khắc Khoan với Mai Thảo, và những bạn bè trong nhóm Quan Điểm. Tức là những trí thức tiểu tư sản làm cách mạng. “Làm cách mạng mãi không xong, nản lòng xoay sang làm dáng“(tr. 273). Câu kéo như thế, người Pháp gọi là “cú pháp sát nhân “, phrase assassine (!). Nhưng đây chỉ là phong cách dí dỏm, không ác ý, vì trong chừng mực nào đó, Võ Phiến tự chế giễu mình.

So sánh hai giai đoạn và ghi nhận sự suy đồi ở giai đoạn sau là đúng với thực tế khách quan, và ngược lại với luận điệu chính thức của chính quyền hiện nay là : “văn nghệ về trước càng ngày càng trắng trợn, nhưng càng về sau càng tăng tính chất tinh vi“ [5], ông Trần Trọng Đăng Đàn, trong một cuốn sách đồ sộ, trên nghìn trang, đã lên án nền văn học Miền Nam như thế, là trái ngược với sự thật. Sách Võ Phiến đính chính lại điểm này, và nhiều điểm khác, là một công trình phân giải cần thiết.

II. Những hạn chế

Tuy nhiên trong Tổng Quan cũng có nhiều điểm cần bàn lại. Ký ức con ngườithường thi vị hoá những mối tình đầu, Võ Phiến đã thăng hoa những năm 1955-1956, khi ông từ bên kia mới về vùng quốc gia, đồng thời với làn sóng di cư từ Bắc vô Nam. Ông hết lời ca ngợi cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, về mặt chính trị, kinh tế lẫn văn nghệ. O^^ng viết:“Chính phủ Ngô đình Diệm thực ra không có hẳn một chính sách văn hoá, không chủ tâm lái văn nghệ vào một con đường nào, không có tham vọng lãnh đạo văn hoá“(tr. 220). Tham vọng thì có chứ : nào là nhân vị, duy linh, pháp trị, vv… chỉ thiếu cái khả năng. Còn chính sách văn nghệ thì có cả quốc sách : diệt cộng, bài phong, đả thực. Cái gì chệch ra khỏi đường lối, hay ngoài phe đảng, là cấm ngay. Ví dụ, cấm cuốn ký sự lịch sử hiện đại Việt Nam Máu Lửa của Nghiêm Kế Tổ (1956), cấm cuốn Tuyển Tập Thi Ca Tranh Đấu Hoà Bình( tôi nhớ là nhà xất bản Bình Minh, Huế, 1955) có in lại thơ kháng chiến chống Pháp, như Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, Thăm Lúa của Trần hữu Thung.

Tự do và áp chế

Võ Phiến có lòng dành bốn trang cho tạp chí Mùa Lúa Mới, ở Huế, mà ngày nay ít người còn nhớ. Ông Trần trọng Đăng Đàn phanh phui không biết bao nhiêu tài liệu công an mà không tìm ra Mùa Lúa Mới , là tờ báo “chống cộng trắng trợn” nhất thời đó. Nhưng Võ Phiến quên tạp chí Văn Nghệ Mới (Huế, 1955) ra được hai số thì bị đình bản, một tạp chí văn nghệ giá trị đứng tên Việt Hiến, bút hiệu của Nguyễn văn Xuân ; Thu Tâm, bút hiệu của Võ thu Tịnh, giám đốc Thông Tin Trung Phần và Trần lê Nguyễn là kịch tác gia ( qua đời, 1999). Báo này đăng lần đầu vở kịch Bão Thời Đại, chống Cộng, của Trần lê Nguyễn. Nhưng bị đóng cửa ngay, có lẽ chỉ vì đã đăng đôi ba bài không vừa ý chính quyền, như truyện ngắn Buổi tắm tất niên, của Nguyễn văn Xuân, ký bút hiệu Xu-văn-Ân, kể chuyện một ngừơi nghiện thuốc phiện lười tắm,kết luận ” cách mạng sao cho có thứ ấy mới tài”, bị ngờ là ám chỉ Ngô đình Nhu.

Một tờ báo khác bị đóng cửa là Ngày Mai,chủ biên Cao xuân Lữ bi tống suât ra khỏi Huế, hiện nay còn sống tại Amsterdam. Nhắc chuyện cũ, có lẽ Võ Phiến sẽ nhớ ra . Còn bao nhiêu ví dụ khác, không cần dẫn chứng dài dòng. Và khi một tờ báo đóng cửa là kéo theo bao nhiêu điều tra, bắt bớ, đàn áp. Vì vậy không thể nói là “không có chính sách văn hoá “.

Trong khí thế tương tranh thời đó, chống cộng là thường tình, có lẽ vì vậy nên Võ Phiến không mấy lưu tâm. Từ đó, trong Tổng Quan và danh biểu các tác giả, ông không một lần nhắc đến những Đinh xuân Cầu, tác giả Bên kia Bến Hải (1955), Kỳ văn Nguyên, tác giả Tìm về sinh lộ được giải thưởng tiểu thuyết, dường như cùng một năm với Đem tâm tình viết lịch sử của Nguyễn Mạnh Côn, ký tên Nguyễn kiên Trung.

Báo chỉ đạo

Võ Phiến tình nghĩa khi nhắc đến Mùa Lúa Mới, và công tâm khi nhắc đến hầu hết các tạp chí quan trọng thời đó, mà không một lời cho báo Chỉ Đạo, mà ông có biết (tr. 246). Báo này là cơ quan chỉ đạo chiến dịch tố cộng của Bộ Quốc Phòng và ông cũng không nhắc đến Người Việt tự do , tạp chí chỉ đạo và thuyết giáo chính trị thời đó. Ở báo Mùa Lúa Mới,Huế, Võ Phiến, Đỗ Tấn… chống cộng trên kinh nghiệm bản thân, trên báo Sáng Tạo,Sài Gòn , Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ… chống cộng vì dị ứng, trong nhóm Quan Điểm, Vũ Khắc khoan, Nghiêm xuân Hồng… chống cộng vì chính kiến, còn báo Chỉ Đạo chống cộng trong một chính sách rộng lớn, về ý thức hệ, trên quy mô thế giới, thời kỳ chiến tranh lạnh, đi từ Bến Hải, Quỳnh Lưu đến Poznan, Budapest, băng qua các quốc gia Đông nam Á. Cũng cần thêm rằng, năm 1959, báo Chỉ Đạo đã có bài viết kỹ càng, dường như là bài đầu tiên, giới thiệu tác phẩm Võ Phiến. Người viết lại là… Vũ Hạnh, ký cô Phương Thảo!

Hai đợt Bách Khoa

Tự đặt mình trong nhóm Bách Khoa (tr. 77), Võ Phiến không cặn kẽ, không nói rõ có hai đợt Bách Khoa. Đợt đầu (1957) báo thuộc hội Văn Hoá Bình Dân của Huỳnh văn Lang , nên còn gọi là Bách Khoa Bình Dân, do các ông Huỳnh văn Lang, Hoàng minh Tuynh, giám đốc và phó giám đốc Viện Hối Đoái điều khiển ; báo được tài trợ, và nhận quảng cáo dồi dào từ các công ty lớn, các ngân hàng, chưa kể đến hậu thuẫn ít nhiều của bà Khánh Trang, bí thư của bà Ngô đình Nhu. Đợt sau, từ tháng 2/1965, do Lê ngộ Châu chủ nhiệm, mang tên chính thức là Bách Khoa Thời Đại, tờ tạp chí đứng độc lập, nhưng vẫn hưởng quảng cáo và sự hổ trợ một số công chức cao cấp như Đoàn Thêm, Phan văn Tạo, Trần Thúc Linh. Nhờ vậy mà toà soạn có phương tiện cung cấp sách báo nước ngoài cho cộng tác viên, như Võ Phiến đã kể, trả nhuận bút hậu hĩ ; và quy tụ nhiều ngòi bút địa phơng, theo những chính kiến khác nhau. Có người lừng danh như Phạm ngọc Thảo, hoặc ít được biết như Nguyễn ngọc Lương, nhân viên bộ ngoại giao làm nội tuyến, có người theo Mặt Trận Giải Phóng khá sớm như Thuỷ Thủ, hay muộn hơn như Trần triệu Luật, cuối cùng như Lữ Phương. Đến 1/1970 báo lấy lại tên Bách Khoa.

Chúng ta đã dừng lại ở đôi ba chi tiết, có thể là những chỗ mạnh của Võ Phiến, để chứng tỏ rằng : nói về văn học Miền Nam, nói cho rốt ráo, không phải là chuyện đơn giản.

Danh mục và tác phẩm

Danh mục các tác gia, kèm theo tiểu truyện và sự nghiệp trước tác ở cuối Tổng Quan là phần hệ trọng, vì là tư liệu khách quan mà cũng là sự đánh giá chủ quan, dù không là bảng phong thần. Nói chung, thì danh mục nghiêm chỉnh, nhưng khó tránh khỏi một số sai sót. Xin chỉ nêu lên vài thí dụ.

Đầu tiên, về Lê vĩnh Hoà, em ruột mình, Võ Phiến ghi không chính xác : Chiếc áo thiên thanh không phải là tên sách của Lê vĩnh Hoà, mà là một tập truyện của nhiều người: Ngọc Linh, Tiêu kim Thuỷ, Viễn Phương, trong đó có một truyện ngắn mang tên như vậy của Lê Vĩnh Hoà ; cũng như tập truyện Tình hương dạ lý ông ấy viết chung với Luu Nghi, Tạ Tỵ, Sài Giang, cũng do nhà Trùng Dương ấn hành. Tác phẩm riêng của Lê Vĩnh Hoà chỉ có cuốn Mái Nhà Thơ do nhà Phù Sa của Ngọc Linh xuất bản năm 1964 (bìa màu xanh da trời, nếu Võ Phiến quên).

Về Nguyễn đức Quỳnh, nói rằng không có tác phẩm sau 1954 là sai, ông có viết Ai có qua cầu ký tên Hoài Đồng Vọng, nhà Quan Điểm xuất bản năm 1957, truyện dài Làm lại cuộc đời đăng trên báo Đời Mới, ký Hà việt Phương, ngoài ra còn một số truyện đăng báo hằng ngày, như Tia Sáng, ký tên khác.

Phần liệt kê tác phẩm, có khi quên trước tác quan trọng , như Mưa Nguồn của Bùi Giáng, Ánh Đạo Vàng của Võ Đình Cường, Mẹ Á Châu của Kiêm Minh… Về các tác giả, ngoài những tên như Đinh xuân Cầu, Kỳ văn Nguyên, đã nhắc, có lẽ cần thêm Minh đăng Khánh tác giả kịch Hai màu áo, Vĩnh Lộc tác giả tập truyện Đôi cánh gãy của thiên thần, ông ấy còn làm thơ khá hay, cũng như Nguyễn Sỹ Tế làm thơ, ký Người Sông Thương. Sao lại không có Trần Hồng Châu ?

So với hai lần in trước (1986, 1988) danh mục lần này có bổ sung, sửa sai, trừ vài trường hợp như Mặc Đỗ tên là Đỗ Quang Bình, in ba lần đều sai thành Đỗ Quang Trình ( phải chăng vì vậy mà ông này bất bình ?). Tên Trần Phong Giao đã sửa lại đúng là Trần đình Tĩnh, bổ sung ngày sinh là 1/8/1930 tại Nam Định. Trần trọng Đăng Đàn ghi : Trần đình Thái, sinh 1946 (sđd, tr. 1029) : hồ sơ công an mà cũng sai: ví dụ Lữ Quỳnh tên là Phan Ngô sinh 1942, Hoàng Hải Thuỷ tên Dương trọng Hải, Trần hoài Thư tên Trần quý Sách, Hà như Chi sinh năm 1926, dễ kiếm thôi. Cuối cùng, xin thêm một điều xác quyêt: nhà thơ Hoàng Trúc Ly tên là Đinh đắc Nghĩa, sinh ngày 14 tháng 4,1933 chứ không phải là Đinh đắc Vị sinh năm 1937 như Võ Phiến và Trần Trọng Đăng Đàn đã ghi. Vị là tên người em ruột, hiện sống tại Hoa Kỳ ngay tại Cali.. Hoàng Trúc Ly qua đời ngày 23 tháng 12, 1983, và trên mộ chí ghi …Đinh đăc Vị (! ! !) Ngoài đề: gia đình này có quen biết với Võ Phiến, vì cùng gốc Bình Định !!!

Những sai sót như vậy, không nhiều và không trầm trọng, âu cũng là chuyện bình thường ở một cố gắng cá nhân. Hồ sơ công an còn sai sót, trách chi tư liệu của cá nhân ông Ba Thê Đông Thời ?

Một trước tác tâm huyết

Tóm lại trong bộ Văn Học Miền Nam, cuốn I Tổng Quan là một trước tác công phu, một ký sự văn học và xã hội học phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của một quần chúng đông đảo dới một chế độ xã hội đã đi qua. Một tác phẩm giàu tâm tình và tâm huyết, với nhiều nhận định sắc bén, qua giọng văn trò chuyện tự nhiên, thân mật, dí dỏm. Trong một đề tài rộng rãi và phức tạp như thế, dĩ nhiên là có điểm cần bàn lại, có chỗ cần bổ sung hay sửa sai, nhưng nói chung, Tổng Quan là một biên khảo thành tâm, đứng đắn, ngay thẳng, đáng tin cậy.

Về sáu cuốn sau, dành cho các bộ môn, Truyện, Ký, Thơ, Kịch, Tuỳ Bút, chúng tôi sẽ có dịp giới thiệu khi khác .

Đặng Tiến

Orleans , 23 tháng 9, 2000,

Đọc lại, sửa chữa, bổ sung 23 tháng 9, 2006,


Mừng Võ Phiến ngày sinh nhật 20 tháng 10 năm 1925

Ghi chú

[1] Văn học Miền Nam, 7 cuốn, nxb Văn Nghệ, California, 1999-2000, mỗi cuốn 18$

[2] Tô Hoài, Chiều Chiều, nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1999, tr. 209

[3] Võ Phiến trả lời phỏng vấn, báo Văn, Sài Gòn, số 118, 15.11.1968

[4] Văn Học, tạp chí California, số 169, tháng 5.2000, tr. 3

[5] Trần trọng Đăng Đàn, Văn Hoá Văn Nghệ Nam Việt Nam, 1954-1975, nxb Thông Tin, Hà Nội, 1993, tr. 85