06/22/2017
Lê Mai Lĩnh: DU TỬ LÊ VỊ HOÀNG ĐẾ HAY TÊN NÔ LỆ TÌNH YÊU

toantap-01-w-content

Nếu trên cõi đời này không có người đàn bà, thì đã không có Du Tử Lê, nhất là Du Tử Lê thi sĩ.

Như thế cũng có nghĩa là, người đàn bà, một nhân tố cần thiết khủng khiếp, cho Du nói riêng và cho những người cầm bút nói chung.

Khủng khiếp ở đây tôi nói theo nghĩa tối cao, vĩ đại, muôn năm, vạn tuế, chứ không theo nghĩa con rắn độc khủng khiếp, con sư tử Hà Đông khủng khiếp hay con cọp cái khủng khiếp. Xin các mẹ bình tĩnh và tha tội cho con. Vâng, không có đàn bà thì không có Du Tử Lê, một Du Tử Lê thi sĩ.

Trên đây mới là phần nhập đề. Đối với tôi nhập đề là quan trọng. Xong được một cái nhập đề khoái chí, là từ đó tôi phăng phăng, tới luôn. Tôi bắt đầu đi vào phần thân bài.

Trước năm 1971, tôi không chơi thân với Lê. Thỉnh thoảng gặp anh ở các tòa soạn báo ở đường Phạm Ngũ Lão hay Võ Tánh, là lúc tôi đến giao bài và đòi tiền nhuận bút.. Tôi nói đòi tiền vì nhiều vị chủ báo thời bấy giờ kỳ cục lắm. Họ rất lười biếng trong việc thanh toán tiền nhuận bút. Trừ ông Quỳnh ở nhật báo Hòa Bình thì có siêng năng hơn. Nhiều lúc, năm lần mười lượt họ đãng trí hay tai điếc, tôi bỏ luôn coi như mình đã cúng cô hồn sống. Một Nguyễn Lý Tưởng tờ Da Vàng, tôi viết bình luận thời sự chính trị 5 tháng liên tiếp, ông hứa trả cho tôi 70,000 nhưng rồi qua một bữa ăn tại nhà ông phía sau lưng trường Lê Bảo Tịnh đường Trương Minh Giảng, rồi ông chở tôi trở lại tòa nhà Quốc Hội (bấy giờ ông là  dân biểu), tôi xuống xe và không nghe ông đề cập tới 70.000. Có lẽ ông lại quên hay ông nghĩ, tôi được ngồi ăn với Dân biểu, được Dân biểu làm tài xế một đoạn đường là “cha bộ đội” rồi. Bữa ăn đó, trừ vào 70,000 kia còn rẻ chán. Anh Tưởng ơi, giờ này anh ở đâu. Bến Hải hay cà Mau. Tôi nghe nói anh đang ở Cali. Vậy tôi đề nghị anh gởi trả cho tôi 7 đô la, tương đương 70,000 bấy giờ. Dù như thế tôi vẫn còn thiệt thòi, nhưng tính tôi vốn hào phóng, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ. Tôi lại lạc đề rồi.

Trở lại chàng Du.

Năm 1971, khi tôi đang phục vụ tại Đại Đội Chiến Tranh Chính Trị tại Phan Thiết, từ Sài Gòn ra công tác, anh có ghé thăm tôi, nhưng tôi không có mặt. Khi người Hạ sĩ quan trực đại đội cho biết như thế tôi cảm động và thương Lê lắm lắm. Tháng 7 năm 1971 tôi ra ứng của dân biểu theo lời xúi giục của ông Hà Thúc K. vì ông nhìn tôi như một lý thuyết gia của nhật báo Da Vàng của Đại Việt.

Với tư cách một ứng cử viên độc lập, tôi phang vào chủ trương 4 không của Nguyễn Văn Thiệu. Tại 18 địa điểm vận động, tôi có tới 16 địa điểm được cử tri vỗ tay hoan hô nhiệt liệt nhờ lối nói hùng biện của tôi. Nhưng than ôi tôi là người nói cho họ nghe sướng tai, nhưng không phải là người cho tay họ bỏ phiếu ông Thiếu Úy đẹp trai vào thùng. Tôi thất cử là cái chắc nụi.

Sau bầu cử, Đại tá Tỉnh trưởng Ngô Tấn Nghĩa bắn tiếng đề nghị tôi tự động xin thuyên chuyển ra khỏi Tiểu khu. Tôi lì. Đi đâu  bây giờ. Đi làm cái chi.

Một ngày kế tiếp, có người bạn làm ở phòng Tổng Quản trị nói với tôi, là tôi đã có sự vụ lệnh thuyên chuyển đi Ban Mê Thuột hay Tuyên Đức gì đó. Và tôi đã nhận Sự vụ lệnh sau đó. Trên Sự vụ lệnh, người đánh máy xóa chữ Đăc Lắc (Ban Mê Thuột) thay vào chữ Tuyên Đức (ĐàLạt).

Tôi nói với vợ tôi, Trần Thị Kim Hạnh (Hoa khôi khóa I Biên tập viên) rằng, người ta cho mình đi Du Lịch chứ không phải Đi Đày.

Ôi Đà Lạt, nơi những ngày đầu tôi và Kim hò hẹn, khóc, cười, mếu máo và yêu nhau. Ôi Đà Lạt, những ly cà phê đắng và những giọt rượu nồng cay chăn gối. Cảm ơn Bộ Tổng Tham Mưu. Cảm ơn Đại tá Ngô Tấn Nghĩa. Ta lại về vương quốc của tình yêu. Ta lại về dấu xưa kỷ niệm, đêm tân hôn cảnh sát vào kiểm tra giấy tờ khách sạn Duy Tân, đêm trăng mật dời phòng dù hai trái lửa ôm vào nhau cũng không đủ ấm với cơn lạnh mùa đông Đà Lạt. Đoạn văn này không lạc đề, vì chính đây là dịp tôi gặp lại Du Tử Lê thường xuyên, đều đặn, mỗi năm hai, ba lần.

Vâng, chính tại Đà Lạt làm tôi gặp lại Du Tử Lê.

Tôi gặp Du Tử Lê, ngồi chung bàn cà phê ở Tùng, bia 33 cổ lùn tu bằng miệng ở Mê Kông và lần nào bên cạnh Lê cũng có một “cô Bắc Kỳ nho nhỏ” hay một cô Nam kỳ “tuổi thích ô mai”. Và lần nào cũng vậy, Lê giới thiệu “đây là bà xã tôi”. Phản ứng tự nhiên tôi nói “xin chào chị”, dù chị thua tôi từ 7, 8 tuổi hay đôi khi cả một giáp từ mẹo, chó chuột, ngựa dê, gà, trâu, cọp…

Tôi ở Đà Lạt 4 năm từ đầu 72 tới ngày tan hàng. Trung bình mỗi năm hai lần, có năm Lê vượt chỉ tiêu là 3 lần, xòm xèm, Lê có mười bà xã để cho tôi chào chị. Có hay không một Lê với bà xã ở Vũng Tàu tôi không biết. Có hay không một Lê với bà xã trong những vườn cây ở Lái Thiêu, tôi không biết. Riêng Đà Lạt, tôi thấy Lê đã có, cộng với Lê là một tiểu đội bà xã. Như thế ta thấy rằng, với Lê, một tiểu đội là quá ít. Nhưng nếu bảo Lê có hơn một đại đội thì vô tình chúng ta đã đề cao Lê. Và nếu là một đại đội thì giờ này Lê đã sụm bã chè. Công bằng và đúng nhất, Lê có áng chừng khoảng một trung đội bà xã.

Tôi lại nghĩ rằng, các vua chúa ngày xưa, tính về số lượng, có thể hơn Lê, nhưng nếu thực sự khai thác tài nguyên, kể cả lực lượng tăng phái, các vua chúa cũng chỉ triển khai mặt trận ngang bằng  quân số của Lê, một trung đội.

Một kỷ niệm khác với Lê.

Lần cuối cùng tôi gặp Lê tại Đà Lạt là sau Hiệp định Paris. Lê hỏi tôi để xin bài cho nguyệt san Tiền Phong của Tổng Cục.

Bấy giờ tôi có 5 bài đánh máy sẵn ở nhà do Uyên Thao trả lại. Chuyện rằng, sau khi giữa tôi và Uyên Thao nổ ra trận bút chiến trên báo ĐỜI của Chu Tử chung quanh vấn đề  do Uyên Thao đặt ra “Con Ngựa Gỗ Ấn Quang và Thành Troix Nam Việt Nam”, Uyên Thao ngán tôi lắm. Bấy giờ, tờ báo Sóng Thần, dù đứng tên chủ nhiệm là Trùng Dương, nhưng mọi chuyện Uyên Thao quyết định. tôi có cổ phần trong Sóng Thần, tôi trong Ban biên tập chủ lực, dù tôi ở Đà Lạt.

Theo yêu cầu của tôi khi về phép Sài Gòn hết tiền, Uyên Thao ứng trước cho tôi 30,000 đồng để viết bài. Sau đó tôi trả nợ cho Uyên Thao 5 bài: – Ấn Quang và Cộng Sản, – Ấn Quang và Giai Đoạn Đấu Tranh Chính trị Trong Tương Lai, – Việt Nam và Nhu Cầu Cách Mạng Xã Hội, – Tập Đoàn Lãnh Đạo Cộng Sản Hà Nội Đang Toan Tính Gì Ở Miền Nam, – Vai Trò Quân Đội Trong Thời Hậu Chiến.

Lý do Uyên Thao trả lại bài theo anh nói với tôi, vấn đề Ấn Quang chính quyền không muốn báo chí đề cập đến nũa. Vậy những bài kia sao Uyên Thao cũng trả lại, tôi không muốn đối chất, đối lượng làm gì.

Tôi đưa cho Du Tử Lê ba bài, giữ lại hai bài liên quan Ấn Quang.

Nguyệt san Tiền Phong đăng hết ba bài của tôi liên tiếp trong ba tháng.

Có một thú vị là Tiền Phong đã có lần cho tôi nằm trên phu nhân Trung tướng Trần Văn Trung, tên bà là Trần Hoài Nam thì phải (hay bút hiệu). Chuyện rằng, bài Tập Đoàn Lãnh Đạo Cộng Sản Hà Nội Đang Toan Tính Gì Ở Miền Nam Việt Nam của tôi đăng trước, tiếp theo là bài của bà ấy Thư Gửi Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Tên Lê Văn Chính ở cuối bài chồng lên tên bà Trần Hoài Nam ở trang sau. Vâng, tôi đã nằm trên như thế đó. Thích nhỉ. Cảm ơn ông Lê.

Mấy tháng sau tôi về Sài Gòn, ghé thăm Du Tử Lê vào trưa thứ bảy tại tòa soạn đường Hồng Thập Tự, số 2 Bis, Lê nói với tôi sáng thứ hai trở lại để nhận tiền nhuận bút. Tôi nói với Lê, rằng tôi đã mua vé máy bay về lại Đà Lạt sáng thứ Hai, nếu có tiền nhuận bút, anh cứ nhận thay tôi mà cà phê cà pháo, có dịp nào gặp lại, anh bao tôi.

Hồi còn ở trong nước khi nghe đài BBC giới thiệu bài thơ khi tôi chết hãy mang tôi ra biển, tôi chửi anh quá trời. Đ.M tôi tưởng anh còn sống để về giải phóng quê hương, giải cứu đồng bào, chứ xác chết anh về chỉ làm hôi thối mà thôi, ích lợi gì.

Bây giờ, sau nhiều năm ở hải ngoại, tôi thấy Du Tử Lê là người được báo chí nhắc nhở, nói tới nhiều nhất. Nói tốt cũng có, nói xấu cũng có. Rằng anh là trưởng môn phái làm thơ mới lục bát, rằng với những dấu ngang, ngắt trên computer anh sử dụng chấm, phết rất độc đáo, mới lạ, tân kỳ, rằng anh đã im lặng chịu đựng con đàn bà ca sĩ xỉ xói, la mắng như mẹ la con, U U, Lê Lê loạn cào cào trước mặt mọi người.

Hắn ngó dzậy nhưng không phải dzậy, các người đừng lầm một Du Tửi Lê im lặng. Hắn là Vua, là Hoàng Đế đó, chớ tưởng bở. Nô lệ chỉ là vai hắn đóng trong một chừng mực nào đó vì nhu cầu chiến thuật, chiến lược. Lúc lên ngựa, lúc ngự trên ngai vàng” giũa đêm tối, chỉ hai  người, một vua và một nô tì, dễ có mấy tay như ổng, như Du Tử Lê.

Im lặng. Chịu đựng. Các người cứ chửi, cứ cào, cấu, cắn, nhai, ta đi. Đêm xuống, giờ của nhà vua lên ngai. Mặt trời lặn, giờ của nhà vua hành động. Trong đêm đen hay sáng mờ mờ của ngọn nến, các người mới biết, ta là vua. Ta là vua, buồn tình, ta cúp “tiêu chuẩn”, các ngươi có quỳ mà lạy, khóc lóc mà van xin ân huệ của ta. Ta sẽ ban, nhỏ giọt. Nhỏ giọt và nhỏ giọt. Hãy chết đi. Hãy lịm người đi. Có rên la bai bải nhà vua cũng không tha. Trời lúc đó cũng vắng mặt, vì ta là Thượng đế, nên có gọi trời ơi, cũng vô ích. Tôi thừa sức viết thêm một trăm trang cho vụ việc này, nhưng thôi.

Tôi có đọc đâu đó rằng, “người đàn bà đến với tình yêu, họ ở lại, nhưng người đàn ông đến với tình yêu, rồi họ đi qua”. Đi qua một, hai lần không ăn thua. Với Lê, phải đi qua nhiều quần, cấp trung đội, mới vừa khả năng của anh và vừa tầm dài của “ngòi bút” của anh.

Không có đàn bà, không có Du Tử Lê. Không có cấp trung đội bà xã, không có Du Tử Lê thi sĩ.

Làm thơ tình, không thể có tình yêu hàm thụ. Cái sướng, cái khoái, cái khổ, cái vui, cái buồn. Ngồi tưởng tượng, không đẻ ra được thơ tình.

Lúc Lê đang đứng trước cổng trường Gia Long, Trưng Vương vào mỗi chiều tan học, chính là lúc Lê đang đi tìm cái sướng, cái ngây ngất, cái lịm người, cái đê mê, cái dày vò, cái ngồi trên lửa, cái nhói trong tim, rất kinh nghiệm bản thân, khởi đầu và kết thúc, từ những đường gân thớ thịt, đầu lưỡi cuối môi, cằm, râu, tóc, kể cả lỗ chân lông. Thiếu những thứ đó, làm răng mà có thơ tình đích thực, làm răng mà có Du Tử Lê.

Không có đàn bà, không có Du Tử Lê. Không có một trung đội bà xã, không có thơ tình Du Tử Lê. Chắc như bắp. Chắc như nụi. Chắc như đinh đóng vào cột.

Ấy. Ấy. Ấy. và Ấy.

Với tôi, trước sau, tôi thích tùy bút của Du Tử Lê hơn thơ Du Tử Lê. Ra hải ngoại, với cái gọi là làm mới hình thức, dấu chéo, dấu móc, tôi cho rằng Du Tử Lê đang tự giết mình.

Đâu đó tôi có đọc Du Tử Lê viết, “anh chỉ sáng tạo một nửa, nửa còn lại dành cho người đọc sáng tạo”. Tôi không đồng quan điểm này. Người đọc và người sáng tạo là hai loại người khác nhau. Người đọc chỉ thêm ý hay triển khai ý nghĩ từ tác giả cho chính nhận thức của họ (người đọc) chứ họ không làm công việc sáng tạo lại cho người khác đọc. Và người sáng tạo, nếu thực sự là người sáng tạo, họ sáng tác từ cái không có, chẳng ai sáng tạo tiếp từ người khác sáng tạo, như Du Tử Lê chẳng hạn.

Duy một điều, tôi thấy Du Tử Lê thành thật, vô cùng thành thật khi anh nói: “Đây mới là điều tôi muốn khám phá, thử nghiệm. Có thể tôi sẽ thất bại”. Trong khi chính Du Tử Lê thành thật nói “có thể sẽ thất bại”, tức là chưa tin vào điều mình làm là thành công hay đúng, thì một số người khác đã bốc Lê lên chín tầng mây, gọi Lê là trưởng môn phái, là vua lục bát. Nói hay viết về một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, mình cũng nổi tiếng theo hay sao. Tôi không tin là vậy.

Tôi nhớ đêm ra mắt thơ Tô Thùy Yên tại Boston, khi đêm về uống rượu tại nhà nhà thơ Phan Xuân Sinh, nhà văn Lâm Chương có đặt vấn đề thơ tự do (theo nghĩa bí hiểm) và thơ vần điệu, nhờ Tô Thùy Yên trả lời, tôi nháy mắt với Lâm Chương và cắt ngang câu chuyện. Tôi biết, nói dai, nói dài, cũng không đi tới đâu, làm khó cho anh Tô Thùy Yên, mất không khí vui, thân mật của cuộc rượu.

Cho tới bây giờ, rõ ràng là, người ta vẫn nhớ tới một Thanh Tâm Tuyền thi sĩ hay một Tô Thùy Yên thi sĩ, từ và nhờ những bài thơ có vần điệu chứ không phải từ và vì những bài thơ tự do bí hiểm.

Một bài thơ đọc năm lần bảy lượt cũng không thuộc. Không thuộc tức là không nhớ ngôn ngữ. Không nhớ ngôn ngữ thì làm sao biết được tác giả diễn tả những gì qua chúng.

Cũng đêm tại nhà Phan Xuân Sinh, đêm có giọng ngâm thơ Phan Nhụy từ Houston sang. Nhiều người khen cô ngâm hay như Hoàng Oanh. Những người này họ hại cô Phan Nhụy mà họ không biết. Theo tôi, cô Phan Nhụy ngâm hay như cô Phan Nhụy. Đúng là Phan Nhụy. Có một điểm mà mấy thằng đàn ông hôm đó không biết, tôi biết. Cô Phan Nhụy là nhân viên bán vé máy bay cho một hãng hàng không Hoa Kỳ, cô Phan Nhụy còn độc thân, cô Phan Nhụy đẹp. Những yếu tố ăn tiền như thế không quan tâm, mà đi quan tâm thơ bí hiểm hay không bí hiểm. Hôm đó tôi có nói: “Ai loạng quạng bước qua xác chết của tôi” khi mấy người đến đứng chụp hình chung với Phan Nhụy. Thực tình thì lúc đó, rượu nói chứ không phải tôi nói. Và bây giờ, tấm hình tôi được chụp chung với Phan Mhụy ai chụp, giờ ở đâu, ai giữ, tôi cũng không biết.

Nói tóm lại, Du Tử Lê là tên nô lệ của tình yêu, chỉ là chiến thuật giai đoạn, làm vậy nhưng không phải vậy. Mà phải nói, Du Tử Lê là vị hoàng đế về đêm. Và, còn dài dài, đều đều những người đàn bà, con gái khác tình nguyện “nạp mình” cho hoàng đế. Chúng ta sẽ có thơ tình Du Tử Lê đọc, cũng đều đều, dài dài.

Điều sau cùng tôi muốn hỏi riêng Du Tử Lê, xin đừng ai nghe lén. Rằng thì là, bộ ra hải ngoại, đã có lần bạn nhờ bà Hạnh Phước sửa sắc đẹp, cắt móng tay hay “xâu lỗ tai” phải không???

Lê Mai Lĩnh

 

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2017