11/10/2018
Hòai Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (80 – phần II) – NHẠC PHIM – Eternally (Terry’s Theme, Limelight), Chaplin & Parsons, Turner, Ánh Đèn Màu

(Tiếp theo phần I và Hết)

Sau khi Modern Times được trình chiếu, Chaplin Charlie cùng Paulette Goddard chu du một vòng Viễn Đông, và kết hôn tại Quảng Đông. Tuy nhiên tới năm 1938, cuộc chung sống trở nên lạnh nhạt dần, dù vậy, Charlie Chaplin vẫn để Paulette Goddard thủ vai chính trong The Great Dictator (1940), một cuốn phim có nội dung chế nhạo Adolf Hitler, lãnh tụ Đức Quốc Xã có bộ ria mép “bàn chải đánh răng” giống hệt Charlie Chaplin!

Trong giải Oscar năm 1941, The Great Dictator được đề nghị tranh năm giải thưởng: phim hay nhất, kịch bản, nam diễn viên chính, nam diễn viên phụ, và nhạc phim nhưng không đoạt giải nào.

Năm 1942, Paulette Goddard đệ đơn ly dị tại Mễ-tây-cơ.

Tới đây, bắt đầu một loạt diễn tiến khiến Charlie Chaplin cuối cùng đã phải quay lưng lại với nước Mỹ. Nguyên nhân xa là lập trường chính trị thiên tả của Charlie Chaplin, nguyên nhân gần là quan hệ ái tình khá phức tạp của ông mà nhiều người lên án là “thích gái trẻ”, “thiếu đạo đức”.

Bắt đầu vào tháng 6 năm 1941, tức là trước khi Paulette Goddard đệ đơn ly dị, Charlie Chaplin đã bắt đầu một quan hệ tình dục sôi nổi với cô đào trẻ Joan Barry kém ông 30 tuổi. Quan hệ này chấm dứt vào mùa thu 1942, nhưng qua năm 1943, Joan Barry loan tin cô đã có thai với Charlie Chaplin trước khi hai người chia tay, nhưng ông ra sức bác bỏ.

Joan Barry còn tiết lộ trước khi có bầu lần này, trong thời gian thân mật với Charlie Chaplin, cô đã từng phá thai hai lần.

Trước tin giật gân này, những tờ báo Mỹ vốn không ưa Charlie Chaplin đã không bỏ lỡ cơ hội. Họ lên án ông đã dụ dỗ Joan Barry, hứa sẽ biến nàng thành một minh tinh màn bạc với mục đích lợi dụng tình dục.

Cùng lúc, FBI nhập cuộc. Về sau, không ít người tin rằng đích thân ông John Edgar Hoover, Giám đốc FBI, người từ lâu đã nghi ngờ lập trường chính trị của Charlie Chaplin, đã nhân cơ hội này ra tay triệt hạ.

FBI buộc Charlie Chaplin vào bốn tội danh, nhưng Công tố viện đã bác ba tội danh đầu để chỉ giữ lại tội danh thứ tư, cũng là tội danh nặng nhất: vi phạm đạo luật Mann Act “nghiêm cấm việc đưa phụ nữ từ tiểu bang này sang tiểu bang khác với những mục đích tình dục” (which prohibits the transportation of women across state boundaries for sexual purposes). Án phạt tối đa dành cho tội danh này là 23 năm tù!

Trên thực tế, Mann Act thường chỉ được áp dụng trong việc truy tố các đường dây gái mại dâm. Trong trường hợp Charlie Chaplin, ông bị buộc tội vì đã “trả tiền cho Joan Barry đi theo mình để quan hệ tình dục”.

Theo lời biện hộ của luật sư, ngày ấy Charlie Chaplin với tư cách giám đốc hãng phim Chaplin Studios, đã cho ký với Joan Barry một “hợp đồng có thể kéo dài” với tiền lương 75 Mỹ kim một tuần (tương đương 1.750 Mỹ kim hiện nay), và ông có ý định sẽ cho cô đóng một vai trong cuốn phim Shadows and Substance dự trù sẽ thực hiện vào năm 1942, nhưng rất tiếc công việc bị đình trệ.

Phiên tòa xử Charlie Chaplin về tội danh vi phạm đạo luật Mann Act diễn ra trong tháng 3/1944. Sau hai tuần xét xử, ông đã được trắng án.

Tới tháng 10 năm đó, Joan Barry sanh bé gái Carol Ann, và đệ đơn kiện Charlie Chaplin đòi tiền cấp dưỡng đứa bé.

Tòa bắt đầu xử vào tháng 2/1945. Charlie Chaplin đòi thử máu đứa bé. Kết quả cho thấy nó không phải con của ông nhưng truyền thông và dư luận lại “tố giác” ông đã dùng tiền bạc mua chuộc chuyên viên thử máu để che dấu sự thật. Trong số những người lên tiếng “tố giác” có cả cô vợ cũ Lita Grey, người trước đây đã tố cáo Charlie Chaplin ngoại tình, hành hạ vợ, và bạo dâm!

Rốt cuộc, cũng như trong vụ ly dị Lita Grey, để báo chí khỏi bơi móc thêm, Charlie Chaplin đồng ý cấp dưỡng bé Carol Ann cho tới năm 21 tuổi.

Nhưng xì-căng-đan tình dục liên quan tới Charlie Chaplin không chỉ có bấy nhiêu.

Hai tuần lễ sau khi Joan Barry đệ đơn kiện Charlie Chaplin để đòi tiền cấp dưỡng bé gái Carol Ann, người ta được biết ông đã kết hôn với Oona O’Neil, một cô gái 18 tuổi đang được ông đỡ đầu trên đường sự nghiệp. Mặc dù sau này Charlie Chaplin đã khẳng định đây là cuộc hôn nhân hạnh phúc nhất của mình, có với Oona tám người con, và chung sống cho tới khi ông qua đời, nhưng trước đó, trong bối cảnh bị kiện đòi tiền cấp dưỡng, cùng với thành tích hai lần lấy gái 16 tuổi, việc một “bố già 54 tuổi” lấy một nàng tiểu minh tinh 18 xuân xanh (Oona O’Neil) bị dư luận lên án cũng là điều dễ hiểu.

* * *

Xì-căng-đan liên tục đã ảnh hưởng tai hại tới nghề nghiệp của Charlie Chaplin. Tháng 4/1946, gần hai năm sau ngày bị Joan Barry kiện, ông mới bắt tay vào việc quay cuốn phim Monsieur Verdoux mà ông đã chuẩn bị từ năm 1942.

Monsieur Verdoux là một “hài kịch đen” trong đó Charlie Chaplin chỉ trích chủ nghĩa tư bản và nhận định rằng thế giới đang cổ súy giết chóc qua việc gây ra chiến tranh với các vũ khí có sức hủy diệt hàng loạt.

Trong buổi trình chiếu Monsieur Verdoux, Charlie Chaplin đã bị la ó, tiếp theo là những lời kêu gọi tẩy chay cuốn phim. Lần đầu tiên, một tác phẩm của Charlie Chaplin bị thất bại về cả mặt tài chính lẫn nghệ thuật. Trong giải Oscar năm 1947, Monsieur Verdoux chỉ được một xướng danh duy nhất cho kịch bản. Tuy nhiên Charlie Chaplin lại rất hãnh diện, cho đây là tác phẩm nhiều chất sáng tạo nhất trong cả sự nghiệp của mình!

Nhưng với dư luận nói chung, cuốn phim Monsieur Verdoux là một sự khẳng định lập trường thân cộng của Charlie Chaplin, vốn trước đó đã được thể hiện qua việc kêu gọi hỗ trợ Liên Xô trong thời gian Đệ nhị Thế chiến, việc giao kết với những thành phần bị tình nghi là cộng sản, việc tham dự các buổi tiếp tân của các giới chức ngoại giao Liên Xô tại kinh đô điện ảnh. Việc Charlie Chaplin sau hơn 30 năm thường trú và làm việc tại Hoa Kỳ vẫn không chịu gia nhập quốc tịch Mỹ cũng bị đặt dấu hỏi.

Vì thế, FBI đã tìm mọi cách để trục xuất Charlie Chaplin, và tới năm 1947, đã chính thức cho mở cuộc điều tra. Charlie Chaplin trong khi bác bỏ cáo buộc mình là một người cộng sản, đã công khai phản đối các cuộc xét xử các thành viên Đảng Cộng Sản Mỹ. Sau đó mấy năm, khi đã định cư tại Thụy-sĩ, Charlie Chaplin còn gặp gỡ các lãnh tụ cộng sản quốc tế như Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai, Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Liên Xô Nikita Khrushchev, và vào năm 1954 đã nhận lãnh Giải thưởng Hòa bình Quốc tế (International Peace Prize) của Hội đồng Hòa bình Thế giới (World Peace Council), một tổ chức tự nhận là phi chính phủ nhưng thực chất do Đảng Cộng Sản Liên Xô thành lập và chi phối.

* * *

Trở lại với sự nghiệp điện ảnh của Charlie Chaplin, sau thất bại của  cuốn phim Monsieur Verdoux với nội dung thiên tả, ông quyết định cuốn phim kế tiếp sẽ hoàn toàn không mang màu sắc chính trị. Đó chính là Limelight (chúng tôi sẽ trở lại với nội dung cuốn phim này ở phần cuối bài viết).

Sau khi hoàn tất Limelight vào giữa năm 1952, Charlie Chaplin quyết định sẽ trình chiếu tại Luân-đôn, bởi vì, theo lời ông, bối cảnh không gian của cuốn phim là thủ đô Anh quốc. Tuy nhiên, không ít người tin rằng Charlie Chaplin không trình chiếu tại Los Angeles để tránh việc bị truyền thông và các thành phần hữu khuynh “phá đám”.

Khi rời Los Angeles, Charlie Chaplin có linh cảm ông sẽ không quay trở lại. Ngày 18/9/1952, ông cùng toàn bộ gia đình rời cảng Nữu Ước trên du thuyền RMS Elizabeth.

Qua ngày hôm sau, Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ James P. McGranery ký quyết định vô hiệu hóa giấy phép tái nhập cảnh của Charlie Chaplin, theo đó, muốn trở lại Hoa Kỳ, ông phải làm đơn để được phỏng vấn về lập trường chính trị và tư cách đạo đức.

Khi nhận được điện tín báo tin này, Charlie Chaplin đã quyết định sẽ không bao giờ trở lại Hoa Kỳ.

Sau này ông viết trong cuốn hồi ký tựa đề Chaplin (1964):

“Trở lại hay không trở lại xứ sở chán chường ấy chẳng mấy ảnh hưởng tới tôi. Từ lâu, tôi đã muốn nói thẳng vào mặt họ rằng thoát được cái bầu không khí đầy hận thù ấy càng sớm càng tốt cho tôi…”

Nhưng ngày ấy, Charlie Chaplin đã không dám nói thẳng ra như thế vì toàn bộ tài sản của ông còn nằm ở Hoa Kỳ, ông không muốn chọc giận dư luận, truyền thông Mỹ.

* * *

Tới đây, viết về cuốn phim Limelight do Charlie Chaplin viết kịch bản, đạo diễn, thủ vai chính, và soạn nhạc phim.

[Limelight nghĩa đen là luồng ánh sáng trắng xanh chiếu xuống sân khấu nhắm vào nghệ sĩ chính, được phát minh vào thập niên 1830 (khi chưa có đèn điện), sử dụng hỗn hợp khí oxyhydrogen để đốt một khối calcium oxide (lime, vôi). Nghĩa bóng là khoảng thời gian nổi bật trong sự nghiệp của một nghệ sĩ, tương đương chữ “spotlight” hiện nay]

Như chúng tôi đã viết ở một đoạn trên, Limelight là một cuốn phim hoàn toàn không mang màu sắc chính trị mà là một bi hài kịch về những phũ phàng của kiếp nghệ sĩ lúc hết thời. Tuy nhiên, không ít người vẫn cho rằng qua cuốn phim này, Charlie Chaplin muốn ám chỉ việc ông bị người Mỹ quay lưng sau hơn 30 năm đem lại niềm vui, tiếng cười cho họ.

 

Claire BloomCharlie Chaplin

 Limelight lấy bối cảnh Luân-đôn năm 1914, lúc thế chiến thứ nhất sắp bùng nổ. Calvero (Charlie Chaplin), một tay hề sân khấu hết thời, lúc nào cũng say mèm, tình cờ cứu được nàng vũ công ballet trẻ Thereza “Terry” Ambrose (Claire Bloom) đang tính tự tử. Sau đó, nhờ sự khuyến khích, nâng đỡ tinh thần của Calvero, Terry trở lại với nghề vũ và đạt thành công, nổi tiếng quốc tế. Nhân đó, Calvero cũng noi gương Terry để trở lại sân khấu hài kịch nhưng bị thất bại thê thảm.

Lúc này Terry đang được nhà soạn nhạc trẻ Neville theo đuổi, nhưng cô lại muốn kết hôn với Calvero để trả ơn, bất chấp tuổi tác cách biệt. Calvero khước từ và khuyên Terry nên tiến tới với Neville. Để cô không còn sự lựa chọn nào khác, Calvero âm thầm ra đi.

Nhưng cuối cùng, Terry cũng tìm được Calvero khi ông đang làm hề trên hè phố để kiếm sống. Lúc này Terry đã trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng và có show riêng; cô thuyết phục Calvero trở lại sân khấu để cùng cô xuất hiện trong một buổi trình diễn gây quỹ từ thiện. Calvero không có lý do để từ chối.

Trong đêm diễn, Calvero xuất hiện ngay trong màn đầu và được hoan hô nhiệt liệt như thuở vàng son của mình. Nhưng tới khi Terry ra sân khấu trình diễn màn hai, Calvero đang đứng sau cánh gà chăm chú theo dõi, bỗng lên cơn đau tim và gục chết…

Sau khi phát hành, Limelight nhận được những lời khen chê lẫn lộn, trong đó hầu hết những người chê đã nhấn mạnh tới hai điểm: cuốn phim quá dài (137 phút) và đối thoại tràng giang đại hải!

Về mặt nghệ thuật, nếu xem đây là một cuốn phim mang tính cách tự thuật (autobiographical), Charlie Chaplin đã thành công trong việc trình bày triết lý sống của mình.

Nhà bình phim nổi tiếng John McCarten của tờ The New Yorker nhận xét:

“Bỏ qua mọi nhược điểm, Limelight là một cuốn phim đầy chất sáng tạo và nổi bật. Rất tiếc, ông Chaplin đã không đạt tới cái đích nhanh chóng cho bằng Shakespeare”.

Thời gian phát hành Limelight cũng là lúc giấy phép tái nhập cảnh  của Charlie Chaplin đã bị thu hồi vì lập trường thân cộng, đại đa số các rạp chiếu bóng ở Hoa Kỳ đã tẩy chay cuốn phim này, trừ một số rạp ở các thành phố miền Đông.

Mãi tới năm 1972, Limelight mới được phát hành trên toàn quốc Hoa Kỳ, trong đó có kinh đô điện ảnh Hồ-ly-vọng. Tuy nhiên, với số thu chưa tới một triệu Mỹ kim trên toàn quốc, Limelight phải được xem là một cuốn phim “ế khách”, trong khi ở các nơi khác thế giới, đặc biệt là Âu châu và Nhật Bản, Limelight đã được nồng nhiệt đón nhận. Hiện nay, Limelight đang được trang mạng bình phim Rotten Tomatoes ghi nhận số điểm 96% (do các nhà bình phim trên thế giới chấm), nghĩa là thuộc vào hàng bất hủ.

Sở dĩ Limelight được tái phát hành tại Hoa Kỳ vào năm 1972 là vì tình hình và bầu không khí chính trị lúc đó đã thay đổi 180 độ, các tổ chức cấp tiến, các thế lực thiên tả thao túng mọi mặt trong đời sống kể cả kỹ nghệ giải trí, cho nên người Mỹ muốn “làm hòa” với Charlie Chaplin – một người bị xem là có lập trường thân cộng.

Cùng với việc Limelight được chiếu trên toàn quốc Hoa Kỳ, Hàn làm viện Nghệ thuật và Khoa học Điện ảnh còn mời Charlie Chaplin trở lại kinh đô điện ảnh để vinh danh. Tại giải Oscar năm 1972, Charlie Chaplin đã được trao tặng giải Oscar Danh dự (Honorary Oscar) thứ hai trong sự nghiệp vì “những ảnh hưởng không thể so sánh mà ông đã tạo ra trong việc đưa điện ảnh trở thành một bộ môn nghệ thuật”.

Ông được cử tọa đứng dậy hoan hô (standing ovation) suốt 12 phút – cho tới nay vẫn là một kỷ lục trong giải Oscar.

Tới giải Oscar lần thứ 45 tổ chức vào đầu năm 1973, Limelight đã được dự tranh với lý do tuy phát hành năm 1952, nhưng mãi tới năm 1972, mới được chiếu tại Los Angeles.

Kết quả Limelight đã đoạt giải Oscar cho phần nhạc phim bi kịch (Best Original Dramatic Score). Đây là giải Oscar dự tranh (competitive Oscar) đầu tiên và duy nhất trong sự nghiệp của Charlie Chaplin; hai giải Oscar trước đó của ông đều là Oscar Danh dự.

Nhạc phim của Limelight do Charlie Chaplin hợp soạn cùng Raymond Rasch và Larry Russell.

Raymond Rasch (1917-1964) là một nhà soạn hòa âm phối khí kiêm nhạc sĩ dương cầm; Larry Russell (1913-1954) là một nhà soạn nhạc phim và cũng là một trong ba tác giả của ca khúc “Western” nổi tiếng Vaya Con Dios.

VIDEO:

“Vaya con Dios” Les Paul and Mary Ford

Nhạc phim của Limelight gồm 15 ca khúc, nhạc khúc, trong đó nhạc khúc mở đầu (opening) là Terry’s Theme (Chủ đề Terry) nổi tiếng và phổ biến nhất.

VIDEO:

Charlie Chaplin’s Limelight theme (original)

Phụ lục 1: Terry’s Theme (Limelight), Mantovani Orchestra

Cùng thời gian phát hành cuốn phim Limelight, Terry’s Theme đã được hai tác giả Geoff Parsons và John Turner đặt lời hát với tựa Eternally (Vĩnh cửu), có khi còn được viết một cách chi tiết là Eternally (Terry’s Theme), hoặc Eternally (Terry’s Theme – Limelight).

[Geoff Parsons và John Turner cũng là tác giả lời hát ca khúc Smile đã nhắc tới ở một đoạn trước]

Eternally

 I’ll be loving you
Eternally
With a love that’s true
Eternally
From the start within my heart it seems I’ve always known
The sun would shine when you were mine and mine alone

I’ll be loving you
Eternally
There’ll be no-one new, my dear, for me
Though the sky should fall remember I shall always be
Forever true
and loving you
Eternally (bis)

Eternally được nam ca sĩ Anh Jimmy Young thu đĩa năm 1953, lên tới hạng 8; cùng khoảng thời gian phiên bản do Vic Damone thu đĩa đã đứng hạng 12 trên bảng xếp hạng nhạc phổ thông ở Hoa Kỳ.

VIDEO:

 Jimmy Young – Eternally ( 1953 )

Khoảng cuối thập niên 1960, Eternally đã đem lại đĩa vàng cho nam ca sĩ Anh Engelberg Humperdink (chúng tôi đã nhắc tới trong bài viết về ca khúc The Last Waltz) và nữ ca sĩ Anh Petula Clark.

Eternally cũng rất được các ca sĩ nhạc jazz, opera, classical ưa chuộng, trong số đó có “Nữ hoàng nhạc jazz” Sarah Vaughan (1924-1990) của Mỹ, nam danh ca tenor Plácido Domingo của Tây-ban-nha…

VIDEO:

 Plácido Domingo “Songs” – Eternally (Charlie Chaplin’s Limelight)

Về phần các danh ca của châu Á, người đầu tiên thu đĩa Eternally nguyên tác lời Anh, lời Nhật, lời Hoa không ai khác hơn là Li Xianglan (Lý Hương Lan), mà đường đời và sự nghiệp đã được chúng tôi nhắc tới trong bài viết về ca khúc Shina No Yoru (Chiều Tô Châu).

Li Xianglan (1920-2014), tên Nhật là Yoshiko Yamaguchi, sang Hoa Kỳ lập nghiệp vào đầu thập niên 1950 với nghệ danh Shirley Yamaguchi.

Sau khi ca khúc Eternally ra đời, Li Xianglan có dịp gặp gỡ Charlie Chaplin tại Luân-đôn, và đã được ông chấp thuận cho độc quyền sử dụng ca khúc này tại toàn cõi Á châu. Li Xianglan liền nhờ một tác giả Nhật đặt lời để bà thu đĩa. Rất tiếc, chúng tôi không thể tìm ra một phiên bản nào của đĩa hát này.

Sau đó, Li Xianglan đã nhờ Chen Shi (Trần Thức) đặt lời tiếng Phổ thông với tựa 心曲 (Heart Song, Tiếng hát con tim) và thu đĩa năm 1957 – một năm trước khi bà giải nghệ vĩnh viễn vào tuổi 38 để về nâng khăn sửa túi cho nhà ngoại Hiroshi Otaka.

[Theo chú thích trên Internet, hình ảnh chàng trai trong video clip dưới đây là nam ca nhạc sĩ jazz Mỹ gốc Hoa Harry Haw, sinh năm 1897, nổi tiếng từ thập niên 1920]

VIDEO:

 Li Xianglan – Heart Song (Eternally ) 李香兰-心曲 1957

Về phiên bản lời Việt của Eternally, chúng tôi được biết có ít nhất năm (5) phiên bản của bốn (4) tác giả: Nguyễn Xuân Mỹ, Nguyễn Huy Hiển, Anh Hoa, và Phạm Duy.

Chính vì có nhiều phiên bản do nhiều tác giả soạn, trong đó ba tác giả Nguyễn Xuân Mỹ, Nguyễn Huy Hiển, Anh Hoa tương đối ít được người thưởng ngoạn biết tới, cho nên ngay từ trước năm 1975 đã có những sự lẫn lộn, râu ông nọ cắm cằm bà kia, hết sức phi lý. Nay nhân dịp viết bài này, chúng tôi cố gắng tìm hiểu, đối chiếu các nguồn tài liệu cũ mới để làm sáng tỏ.

Trước hết viết về phiên bản đầu tiên tựa đề Ánh Đèn Màu do nhạc sĩ Nguyễn Xuân Mỹ soạn năm 1955 (mà ông nói là “dịch), cũng là phiên bản phổ biến nhất.

Nguyễn Xuân Mỹ sinh năm 1926 và qua đời tại Sài Gòn năm 2014. Ông là nhạc sĩ kèn saxo, clarinet và accordeon, chuyên chơi nhạc tại các nhà hàng, vũ trường và sau này tại các club của người Mỹ.

Ánh Đèn Màu là tác phẩm duy nhất của ông, trước năm 1975 đã được Hà Thanh, Thanh Thúy, Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu, Julie, v.v… thu âm.

 Ánh Đèn Màu của Nguyễn Xuân Mỹ gồm hai phiên khúc (verses), và một điệp khúc.

Ánh Đèn Màu

 (1)

Đời ca hát ngày tháng cho người mua vui
Đời son phấn làm mất bao ngày thơ ngây
Cùng bên ánh mầu sắc lạc lõng trong tiếng đàn hát đêm khuya
Rồi bao nếp nhăn về với tháng năm đời lãng quên rồi


Buồn trong tiếng nhạc lắng cho đời mê say

Cười trong ánh đèn sáng cho người mua vui
Rồi khi ánh đèn tắt lặng lẽ cô đơn
Chìm trong bóng đêm, người ta lãng quên bẽ bàng

Điệp khúc:

Giờ đây vắng tan rồi khách ra về ơi ánh đèn
Nhìn cảnh vắng hoang tàn kiếp con ve khi cuối mùa
Nào đâu phút huy hoàng phút say xưa theo tiếng đàn vui ca


(2)

Kìa khi ánh đèn tắt ơi đời vui ca
Đời thương khóc làm mướn ánh đèn ban đêm
Nào ai biết đời sống bạc bẽo sau tiếng đàn hát trong đêm
Đời ca hát thuê Đời qua phấn son Đời sống không nhà


Về theo nét tàn úa đâu còn duyên xưa
Người năm trước nào nhớ bóng người đêm xưa
Đời cam sống một bóng lặng lẽ cô đơn
Đời xa tiếng ca nào ai tiếc thương bẽ bàng.

 Ngày ấy, Hà Thanh là người đầu tiên hát bản Ánh Đèn Màu của Nguyễn Xuân Mỹ; rất tiếc hiện nay chúng tôi không tìm được băng hay đĩa hát cũ của Hà Thanh.

Còn trong số những băng nhạc thu âm trước năm 1975 hiện vẫn được phổ biến, cũng như những băng cassette, CD được thu âm sau này tại hải ngoại, chúng tôi không thấy có ca sĩ nào hát điệp khúc. Trong số này, Lệ Thu hát (trước và sau 1975) đủ 2 phiên khúc, trong khi Vũ Khanh chỉ hát phiên khúc 1.

VIDEO:

 Ánh Đèn Màu (Charlie Chaplin) Lệ Thu (pre 1975) – VCH

Phụ lục 2: Ánh Đèn Màu, Vũ Khanh

Về phần Khánh Ly, trước cũng như sau năm 1975, không những chỉ hát phiên khúc 1, mà còn đổi lời hát của 4 câu cuối trong phiên khúc này; Kim Loan, trong một video thu năm 1992 tại hải ngoại, cũng hát giống Khánh Ly.

Nguyên tác của Nguyễn Xuân Mỹ:

 Buồn trong tiếng nhạc lắng cho đời mê say

Cười trong ánh đèn sáng cho người mua vui
Rồi khi ánh đèn tắt lặng lẽ cô đơn
Chìm trong bóng đêm, người ta lãng quên bẽ bàng

thành:

Về đâu hỡi người gái giang hồ đêm nay

Đời như hoa tàn úa ai thèm mê say

Và khi ánh đèn tắt lặng lẽ trong đêm

Người ta lãng quên đời son phấn ôi bẽ bàng.

Theo suy nghĩ của chúng tôi, việc đổi lời này (thêm nhân vật “người gái giang hồ”) có thể khiến nội dung ca khúc thêm phần lâm ly bi đát, nhưng vô lý và vô nghĩa. Chưa kể việc thay đổi lời hát trong nguyên tác là một việc dứt khoát không nên làm.

Tuy nhiên, nếu đích thân Khánh Ly hay vị tác giả nào đó đã xin phép nhạc sĩ Nguyễn Xuân Mỹ cho đổi lời hát, chúng tôi xin miễn bàn thêm!

Phụ lục 3: Ánh Đèn Màu, Khánh Ly

Phiên bản lời Việt thứ hai của Eternally là của tác giả Anh Hoa, soạn năm 1957 với tựa đề Tình Tôi, gồm 2 phiên khúc.

Tình Tôi

(1)

Tìm đâu những giờ phút êm đềm bên em,
Ngồi bên nhau mà hát theo đàn thâu đêm.
Trời về khuya vầng trăng lạc lõng nhìn em cặp mắt mơ màng,
Lòng tôi xốn xang, dìu em bước sang bờ cõi thiên đàng.


Tìm đâu thấy hình bóng yêu kiều năm xưa,
Kề bên nhau mà lắng nghe đàn say sưa.
Giòng thời gian lặng lẽ bạc bẽo, em ơi!
Thời gian vẫn trôi, mà riêng lứa đôi lỡ làng.

(2)

Chiều hôm nay ngồi nhớ bao ngày xa xôi,
Dạo vài cung đàn hát mơ màng trên môi.
Để lòng mơ hình bóng người cũ giờ đây ở chốn xa vời.
Người trinh nữ ơi! Còn chăng nét môi giọng hát yêu đời?


Chiều hôm nay gửi đến phương trời xa xôi,
Vài lời ca lả lướt, nỗi lòng của tôi.
Dù thời gian tàn ác bạc bẽo, em ơi!
Mà riêng có tôi tìm em khắp nơi, khuất rồi.

Rất tiếc, chúng tôi không tìm được băng, đĩa nào thu âm phiên bảnTình Tôi của Anh Hoa.

Khoảng năm 1960, phiên bản lời Việt thứ ba, cũng mang tựa đề Ánh Đèn Màu, của tác giả Nguyễn Huy Hiển, được thu băng với tiếng hát Ánh Tuyết.

Ánh Tuyết (1935-2017)

Ánh Tuyết (1935-2017) nhắc tới ở đây là Ánh Tuyết sinh ở Hải Phòng, nổi tiếng tại miền Nam trong hai thập niên 1950-1960, với những ca khúc như Trăng Sáng Vườn Chè, Giấc Mơ Hồi Hương, Ánh Đèn Màu… chứ không phải Ánh Tuyết sau này, sinh 1961 tại Hội An, chuyên hát nhạc Văn Cao.

Ánh Đèn Màu của Nguyễn Huy Hiển gồm một phiên khúc và một điệp khúc; sau điệp khúc, ca sĩ sẽ hát lại đoạn hai của phiên khúc với một câu kết khác.

Ánh Đèn Màu  (Nguyễn Huy Hiển)

 (1)

Màn đêm buông dần xuống ánh đèn bừng lên
Là em đem điệu hát cho người vui thêm
Đời em đã là món quà quý đẹp trong làn mắt của ai
Mà khi nếp nhăn vùi theo tháng năm đời chóng quên dần

 Đàn buông khúc trầm lắng tâm hồn mê ly
Người mơ theo nhịp bước quên thời gian đi
Để mình em thầm tiếc ngày tháng xa xưa
Nhìn theo bóng đêm niềm vui khó quên dáng hình

 Điệp khúc:

Ngày ngày ấy muôn màu tóc huy hoàng còn rỡ ràng
Mình em với tháng năm sắc hương hầu đã phai nhòa
Còn đâu phút ban đầu tiếng ca u hoài nức nở muôn thương

 Đàn buông khúc trầm lăng tâm hồn mê ly
Người mơ theo nhịp bước quên thời gian đi
Để mình em thầm tiếc ngày tháng xa xưa
Nhìn theo bóng đêm lòng em xốn xang lỡ làng.

Trước khi giới thiệu Ánh Đèn Màu của tác giả Nguyễn Huy Hiển với tiếng hát Ánh Tuyết, chúng tôi cũng xin lưu ý độc giả về hai cái sai trong các video clip Ánh Đèn MàuÁnh Tuyết trên Internet hiện nay:

Một số video clip đã ghi sai tên tác giả là Nguyễn Xuân Mỹ, trong khi một số khác không hề ghi tên tác giả; và một số đã sử dụng hình nữ ca sĩ… Giao Linh!

Phụ lục 4: Ánh Đèn Màu (Nguyễn Huy Hiển), Ánh Tuyết

Cuối cùng là hai phiên bản của Phạm Duy.

Theo lời kể lại của chính ông, vào năm 1973, ông đã soạn lời Việt cho ca khúc Eternally với tựa đề Ánh Đèn Sân Khấu, do nhà xuất bản Bút Nhạc ở Sài Gòn ấn hành tháng 8/1973. Sau khi ra hải ngoại, cô cháu Ý Lan muốn thu đĩa bản này nhưng ông đã quên lời hát cũ, bèn đặt lời hát mới với tựa đề Đời Ca Nhi.

 Đời Ca Nhi gồm hai phiên khúc, không có điệp khúc, nhưng sau khi hát xong phiên khúc hai, Ý Lan đã nói mấy câu “Tôi hát cho đời, tôi hát cho người, tôi hát cho tôi…”  trước khi kết thúc bằng bốn câu sau cùng của phiên khúc hai với một câu kết khác.

Đời Ca Nhi

 

(1)

Màn nhung đen mờ với ánh đèn màu soi
Để em tung mờ tiếng ca ngọt làn môi
Đời thiêu thân thèm lao vào ánh đèn soi đầm ấm đêm nào
Để đom đóm kia nhiều khi cháy tan cả xác lẫn hồn. 


Đời ca nhi mờ tối dưới mặt trời vui
Chỉ bừng lên vào lúc ánh đèn màu soi
Toả hào quang rực rỡ vào mắt môi ai
Người ca sĩ mong đừng tan bóng đêm suốt đời

 

(2)

Màn nhung đen mờ với ánh đèn màu soi
Để em tung mờ tiếng ca ngọt làn môi
Đời thiêu thân thèm lao vào ánh đèn soi đầm ấm đêm đầu
Để đom đóm kia nhiều khi cháy tan cả xác lẫn hồn. 


Còn xuân xanh để khiến cho đời mê man
Rồi nhan sắc giọng hát phai cùng thời gian
Người ca sĩ chờ khi đèn tắt trong đêm
Màn buông xuống cho đời quên lãng mau dáng huyền 

(Người ca sĩ mong đừng tan bóng đêm suốt đời).

 LƯU Ý:

Mặc dù tựa đề chính thức của ca khúc lời Anh là Eternally nhưng hầu hết phiên bản lời Việt đều chỉ ghi tên cuốn phim (Limelight); và tựa đề Đời Ca Nhi do Ý Lan hát cũng bị ghi là… Ánh Đèn Màu!

Phụ lục 5: Đời Ca Nhi, Ý Lan

Cuối cùng, theo một số người, trước đây nữ ca sĩ Thanh Lan cũng từng đặt lời Việt cho ca khúc Eternally; cách đây mấy năm còn thấy phổ biến trên YouTube, nhưng nay không còn nữa.

HOÀI NAM

 

 

 

©T.Vấn 2018