06/12/2021
Châu Thạch: ĐỌC “VỀ LẠI CHỢ GIỒNG” THƠ TRẦN NGỌC HƯỞNG

      

Bến Bình Yên – Tranh: Mai Tâm                    

  

Về lại Chợ Giồng

Nhiều năm đi biệt không tăm tích

Về chẳng còn ai nhận được ta

Đường cũ thay tên nhà đổi chủ

Lối vào kỷ niệm… biết đâu là

 

Chợ Giồng đó buổi ta thăm lại

Ở ấp Đông mà nhớ ấp Tây

Ở ấp Thượng mà thương ấp Hạ

Lòng ta bởi thế cứ vơi đầy

 

Ta nhớ Vĩnh Bình thương Vĩnh Lợi

Chưa nguôi ngày cũ tuổi thơ hồng

Chiều nay trở lại bờ sông vắng

Biết kể cùng ai chuyện đục trong

 

Trôi giạt đâu rồi bao bạn lứa

Thời tươi thắm nhứt mái trường thơ

Đứa còn đứa mất ngàn dâu biển

Kí ức mù giăng lớp bụi mờ

 

Tóc thề ngả hẳn sang màu bạc

Bạn học giờ thành U60

Ai đứng bên nhà bồng cháu nội

Ngỡ vầng mây bạc… lặng lờ trôi

 

Phố mới dựng trên nền chợ cũ

Toà ngang dãy dọc Chợ Giồng ơi!

Đường thi xưa Hạ Tri Chương cũng

Về lại thăm quê phải hỏi người!

Trần Ngọc Hưởng

 

Nhà thơ Trần Ngọc Hưởng sinh ra ở xã Tân Thới thuộc cù lao Lợi Quan (nay là huyện Tân Phú Đông) giữa bộn bề sông nước Tiền Giang.

Trước năm 1975 nhà thơ là sinh viên Đại Học Sư Phạm và Văn Khoa Sài Gòn. Thời kỳ nầy nhà thơ đã cộng tác với một số tờ báo văn học ở miền Nam. Tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm sau mùa hè đỏ lửa 1972, nhà thơ làm nghề thầy giáo suốt 40 năm và viết văn làm thơ, đã xuất bản 9 tác phẩm.

Trần Ngọc Hưởng tâm sự rằng; “Chợ Giồng là chợ Giồng ông Huê, quận lỵ Hòa Đồng xưa, thị trấn Vĩnh Bình, nay của huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, cách Tân Thới quê tui mươi cây số. Năm chín tuổi tránh giặc giã tui qua đây học cuối lớp nhì và trọn năm lớp nhứt. Nơi đây có các ấp: Thượng, Hạ , Đông và ấp Tây.”

Kỷ niệm về tuổi thơ là kỷ niệm thắm thiết, nhớ rất lâu dài. Khung trời tuổi thơ thường hiện ra nhiều trong những giấc ngủ, làm cho ta nôn nao muốn quay lại để nhìn lại cảnh vật, để thăm lại người quen, để hít lại không khí của một thời xa xưa mà kỷ niệm còn đọng hoài trong ký ức của ta. Cũng bởi vì vậy mà nhà thơ Trần Ngọc Hưởng đã quay lại chợ Giồng, và đem đến cho ta một nỗi buồn đúng là “hồn thu thảo, bóng tịch dương”, nhưng không phải dấu tích của một hoàng thành xiêu đổ như thơ bà Huyện Thanh Quan, mà là dấu tích của một “quê hương chùm khế ngọt” trong tâm hồn tác giả.

Khổ thơ đầu, Trần Ngọc Hưởng đã đem đến cho ta sự lạc lõng tựa như Từ Thức ngày ấy đi xa ngàn năm, từ xứ tiên quay lại trần gian:

Nhiều năm đi biệt không tăm tích

Về chẳng còn ai nhận được ta

Đường cũ thay tên nhà đổi chủ

Lối vào kỷ niệm… biết đâu là

Đọc khổ thơ ta biết ngay tâm trạng thất vọng của tác giả, tâm trạng quay về háo hức mà sự đón chào thì lạnh nhạt. Người xưa không còn một ai, đường thay tên nhà đổi chủ, cho đến lối vào kỷ niệm cũng không biết là có đúng hay không, tất cả vẫn còn nhưng tất cả quay lưng, tất cả không có cảm xúc quen thân, khiến người quay lại ngỡ ngàng như nhìn vào khuôn mặt ai đó, giống người yêu của mình mà không phải người yêu của mình.

Bốn câu thơ chỉ bình dị thôi, rất dễ hiểu, nhưng bốn câu thơ truyền cảm xúc cho hàng vạn người bỏ quê hương ra đi, xa chốn cư ngụ một thời yêu mến, khi quay lại thấy niềm vui không như mong muốn, và khi rời đi lại, lòng bâng khuâng, nặng nề như một nỗi đau nhẹ quyện mãi trong lòng.

Qua khổ thứ hai, Trần Ngọc Hưởng diễn tả sự nôn nóng háo hức trong lòng mình, muốn thăm lại hết những chốn xưa, như muốn gặp lại tất cả niềm thân yêu mà mình ấp ủ trong lòng, qua năm tháng trở thành nhu cầu cấp bách chất chứa trong con tim:

Chợ Giồng đó buổi ta thăm lại

Ở ấp Đông mà nhớ ấp Tây

Ở ấp Thượng mà thương ấp Hạ

Lòng ta bởi thế cứ vơi đầy

      Khổ thơ thứ nhì cho ta hiểu, mặc dầu cảnh xưa đã đổi thay, gần như trở thành xa lạ, nhưng niềm vui trong lòng tác giả vẫn dậy lên bồng bột khi “Ở ấp Đông thì nhớ ấp Tây/Ở ấp Thượng mà thương ấp Hạ”. Niềm vui đó làm cho tác giả lúc “vơi” lúc “đầy” tùy theo sự còn hay mất, sự thay đổi ít hay nhiều của cảnh vật năm xưa mà tác giả gặp lại bây giờ. Điều nầy thật dễ hiểu, bởi ai quay lại chốn xưa mà lòng không rung động.

Dầu chốn xưa có đổi thay nhưng lòng ta đâu có đổi thay. Con đường đã thay tên nhưng con đường vẫn còn đó, ngôi nhà đã đổi chủ nhưng ngôi nhà vẫn còn đây, người không quen nữa nhưng người đang sinh hoạt trong khung trời cũ, tất cả đều đem đến cho người quay về niềm vui của sự đoàn tụ và nỗi buồn của sự mất mát mà không ai tránh khỏi được khi trở về sau tháng năm dài xa cách.

Qua khổ thơ thứ ba và thứ tư, là tiếng kêu trong lòng tác giả. Nỗi sầu ấp ủ trong lòng bao lâu nay, nhân cơ hội cảnh cũ đổi thay, người xưa không còn, tác giả thốt lên lời thở than buồn não nuột:

Ta nhớ Vĩnh Bình thương Vĩnh Lợi

Chưa nguôi ngày cũ tuổi thơ hồng

Chiều nay trở lại bờ sông vắng

Biết kể cùng ai chuyện đục trong

 

Trôi giạt đâu rồi bao bạn lứa

Thời tươi thắm nhứt mái trường thơ

Đứa còn đứa mất ngàn dâu biển

Kí ức mù giăng lớp bụi mờ

Trở lại bờ sông vắng, nhớ những người bạn tuổi thơ, nhà thơ than: “Biết kể cùng ai chuyện đục trong”. Chuyện đục trong là chuyện thăng trầm của cuộc đời không xảy ra tại nơi đây, nhưng nhà thơ ao ước tại nơi đây có bạn xưa để tâm sự.

Ở khổ thơ trên, nhà thơ hướng suy tư về cuộc đời chìm nổi bao nhiêu năm của mình. Vì sao? Vì nhà thơ đang đứng trước một khung trời bình an mà nhà thơ đã hưởng trong tuổi thơ ngây. Bây giờ, nhà thơ muốn kể cho nghe những năm lưu lạc của mình, nhưng cảnh cũ xa lạ còn người xưa thì không còn nữa. Cho nên câu thơ “Chiều nay trở lại bờ sông vắng/Biết kể cùng ai chuyện đục trong” khơi gợi lên sự cô đơn của tâm hồn trước khung cảnh bờ sông vắng vẻ, làm cảnh và tình thấm lạnh vào hồn, cho ta nỗi buồn mênh mang, điệp điệp của nước và nỗi ưu tư thầm lặng của người.

Ở khổ thơ dưới nhà thơ cất tiếng than về sự vô thường trong kiếp sống. “Thời tươi thắm nhất mái trường thơ” không còn nữa, bạn bè đứa còn đứa mất như chịu biến động của cả ngàn năm bãi biển hóa nương dâu, ký ức cũng bị lu mờ dưới lớp bụi thời gian. Bốn câu thơ là nỗi bi quan chứa đọng nỗi nhớ nhung, tiếc thương, bày tỏ một cõi lòng đông tuyết, bày tỏ cả dòng sông ký ức của nhà thơ đang chảy trước khung trời quá khứ, với sự cô đơn tận cùng, với sự chiêm nghiệm lẽ vô thường thấm thía trong con tim mình.

Bước qua khổ thơ áp chót, Trần Ngọc Hưởng chợt nhớ đến mình đã ở tuổi 60, chợt hoài niệm về người con gái ở tuổi còn thơ chưa yêu, cũng có thể đã yêu mà chưa biết:

Tóc thề ngả hẳn sang màu bạc

Bạn học giờ thành U60

Ai đứng bên nhà bồng cháu nội

Ngỡ vầng mây bạc… lặng lờ trôi

Bài thơ đến đây, nhờ khổ thơ nầy mà trở nên man mác, tình yêu phơn phớt nhưng nhớ mãi không thôi chắp đôi cánh cho bài thơ bay vào không gian tinh khôi, trong trắng, đánh động tâm hồn những ai đọc thấy, đều liên nghĩ đến tuổi thơ của mình cũng có những bóng dáng đáng yêu đáng nhớ và một chút đáng buồn như hình ảnh “Ai đứng bên nhà bồng cháu nội/ Ngỡ vầng mây bạc…lặng lờ trôi”. Câu thơ không nhắc đến tóc bạc màu, chỉ nhắc dáng ai như vầng mây bạc, vầng mây bạc đó lặng lờ trôi, lặng lờ trôi trong cuộc đời và trôi trong nỗi nhớ cúa thi nhân. Câu thơ đẹp làm dáng người năm xưa trở nên thi vị, như là hình tượng của sự phôi pha, của màu thời gian nhuộm lên con người, tựa như nhuộm lên vầng mây bay trong không gian vô định.

Bình về hai câu thơ trên, nhà thơ ZuLu DC đã viết:

Ai đứng bên nhà bồng cháu nội

Ngỡ vầng mây bạc ….. lặng lờ trôi”

“Chữ “ai” đa đoan, duyên nợ. Chữ “ai” hờ hừng, đáng thương hay đáng ghét đây – chữ ai này nó gieo vào người đọc sự tò mò, ai là cô hàng xóm, là bạn học hay người yêu mà “Tóc thề ngả sang màu BẠC” , màu bạc làm tác giả “Ngỡ vầng mây BẠC”. Dụng hai lần chữ BẠC trong một khổ thơ thì nhất định có lý do: bạc bẽo bạc tình, nghĩa là “AI” chính là người yêu năm xưa của chàng.

Hai câu thơ độc đáo, vượt lên “Hồi hương ngẫu thư “ của Hạ Tri Chương xưa!”

Tác giả cho biêt đến chợ Giồng hồi còn 9 tuổi, hai năm sau ra đi, thì tình sâu đậm hay sự bạc tình, bạc bẽo chắc không có. Thế nhưng với một đứa bé có tâm hồn thi nhân, thì dầu 9 tuổi sự rung cảm của quyến luyến tự nhiên hay rung cảm của ái tinh buổi sơ khai đã có trong hồn. Tác giả dùng chữ “Bạc” trong thơ ở tuổi 60, chữ bạc nầy dầu thật hay là hư cấu thì nhận định của nhà thơ ZuLu DC vẫn chính xác, bởi câu thơ độc đáo mang nhiều ý nghĩa, nói hộ cho chúng ta, những người có một “ai” nào đó không bạc tình cũng bạc tóc mà dáng xưa còn ở mãi trong lòng.

Qua khổ cuối bài thơ, Trần Ngọc Hưởng mô tả sơ về chợ Giồng ngày nay. Nhà thơ nhắc lại bài thơ của một thi nhân thời xa xưa ngàn năm trước, để nhấn mạnh cái lẽ vô thường luôn luôn xảy ra, như một lời an ủi cho mình, cho người, làm vơi đi bao nhiêu trăn trở vì những đổi thay xảy ra trước mắt, hầu cho cõi lòng dịu xuống khi quay bước ra về, bỏ lại chốn xưa trong tương lai sẽ còn thay đổi nhiều hơn thế nữa:

Phố mới dựng trên nền chợ cũ

Toà ngang dãy dọc Chợ Giồng ơi!

Đường thi xưa Hạ Tri Chương cũng

Về lại thăm quê phải hỏi người!

      Khổ thơ nhắc đến Hạ Tri Chương, một thi nhân nổi tiếng thời Đường, để lại cho đời bài thơ thất ngôn tứ tuyệt tựa đề là Hồi Hương Ngẫu Thứ mà Trần Trọng Kim đã dịch ra quốc âm như sau:

Về Quê Tự Dưng Viết

Bé đi, già mới về nhà,

Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa.

Trẻ con trong thấy hững hờ,

Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao.

Tất nhiên tâm sự người xưa và Trần Ngọc Hưởng ngày nay thật giống nhau. Bé đi, già mới về, và chắc chắn Hạ Tri Chương thuở ấy cũng như Trần Ngọc Hưởng ngày nầy: “Về thăm lại quê phải hỏi đường”. Câu thơ cuối khẳng định quy luật của trời đất, tất cả sẽ lui về quá khứ và quá khứ sẽ tồn tại trong tâm hồn, còn mọi vật thì vô thường, sẽ biến đổi với thời gian.

Bài thơ “Về Lại Chợ Giồng” của nhà thơ Trần Ngọc Hưởng là tâm sự một cuộc trở về, lời thơ bình dị, nhẹ nhàng, thế nhưng từ tâm sự đó, đã mang về cho mỗi người chúng ta một khung trời quá khứ của mình, một tuổi thơ ngây của mình, để yêu, nhớ và trân trọng những tháng ngày ta có. Những tháng ngày đó không bao giờ có nữa cho dẫu ta đi tìm khắp trên thế gian nầy ./.

Châu Thạch

 

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2021