Khi Tiểu Thuyết Gia Biến Chủ Nghĩa Phát Xít Thành Một Thứ “Thời Thượng”.

Ảnh: Sự khinh miệt kẻ thất bại của Malaparte, có lẽ, là sợi chỉ xuyên suốt duy nhất trong cuộc đời ông. (ullstein bild, qua Getty Images)

The NYT: The Novelist Who Tried to Make It Look Cool to Be Fascist

(Chuyển ngữ tiếng Việt: Gemini; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)

Bài viết của John Ganz (John Ganz là tác giả cuốn “Khi Đồng Hồ Hỏng: Kẻ Lừa Đảo, Thuyết Âm Mưu, và Cách Nước Mỹ Rạn Nứt Đầu Thập Niên 1990.”)

Khi Tiểu Thuyết Gia Biến Chủ Nghĩa Phát Xít Thành Một Thứ “Thời Thượng”.

Trong cuốn tiểu sử mới được dịch, Maurizio Serra đã phơi bày sự “tự huyền thoại hóa” của nhà văn nổi tiếng Curzio Malaparte, một phát ngôn viên hùng biện cho một hệ tư tưởng bạo lực.

MALAPARTE: Một Tiểu Sử, của Maurizio Serra; dịch bởi Stephen Twilley

“Chủ nghĩa Phát xít” nổi tiếng là một khái niệm khó định nghĩa. Nó nhấn mạnh sự tuân thủ nhưng lại thu hút những người phóng túng và nổi loạn, hòa trộn lý tưởng cuồng nhiệt với sự hoài nghi tàn bạo, và kết hợp các yếu tố của chủ nghĩa hiện đại với nỗi hoài niệm như một thứ tôn giáo. Nhà phê bình và triết gia Walter Benjamin từng viết rằng “chủ nghĩa Phát xít là sự đưa mỹ học vào đời sống chính trị.” Trong cuốn “Malaparte,” tiểu sử xuất sắc của Maurizio Serra về một quý ông hào nhoáng, nhà báo, nhà viết kịch, nhà ngoại giao không thành và nhà làm phim người Ý Curzio Malaparte, tác giả đã chứng minh rằng Benjamin đã đúng. Dù là gì đi nữa, chủ nghĩa Phát xít thế kỷ 20 là một dự án thiên về trí tưởng tượng hơn là lý trí; nó được thúc đẩy bởi những giới tinh hoa châu Âu đầy tham vọng, tự thể hiện mình là những người theo chủ nghĩa dân túy trong hành trình theo đuổi sự vĩ đại và quyền lực.

Malaparte đã hé lộ những tia sáng đầu tiên về tài năng văn chương phi thường của mình khi còn trẻ vào đầu những năm 1920, và mặc dù ông từng là một người ủng hộ nhiệt thành của nhà độc tài Phát xít Benito Mussolini, danh tiếng văn học của ông hầu như không bị giới hạn trong vòng vây của cực hữu. Những người hâm mộ các tiểu thuyết trường tồn của ông là “Kaputt” (1944)“The Skin” (1949) bao gồm Milan Kundera, Edmund White và Gary Indiana. Giải thưởng Malaparte, một giải thưởng của Ý mang tên ông, đã được các tiểu thuyết gia như Rachel Cusk và Karl Ove Knausgaard tự hào đón nhận.

Nhà xã hội học Michael Mann từng viết, “Chủ nghĩa Phát xít là một phong trào của giới trí thức cấp thấp,” nhưng Malaparte là một tài năng hạng nhất cả với tư cách nhà báo lẫn nhà văn. Tuy nhiên, ông lại chật vật trong việc sử dụng năng lượng sáng tạo của mình một cách xây dựng: Ông khinh thường những kẻ thất bại, nhưng trong những kế hoạch sai lầm và những dự án vô ích của mình, ông lại thấy mình nằm trong số họ.

Có một khía cạnh đáng thương trong câu chuyện của Serra về cuộc đời Malaparte, một sự tự kỷ tuyệt vọng trong việc tìm kiếm bất cứ điều gì đáng giá trong cuộc sống ngoài sự chuyển động và phiêu lưu. Một trí thức chống trí thức, một người đàn ông mạnh mẽ nhưng lại trang điểm và chải tóc gọn gàng; dũng cảm về thể chất với tư cách là một người lính và phóng viên chiến trường nhưng lại hèn nhát về mặt đạo đức trong chính trị và đời sống cá nhân; một người chống cộng sản cực đoan nhưng lại bị cuốn hút bởi nước Nga của Lenin và cuối cùng là Trung Quốc của Mao; một kẻ hợm hĩnh tư sản nhưng lại ghét giới tư sản và lý tưởng hóa cả tầng lớp vô sản và quý tộc: Malaparte đã thể hiện gần như hoàn hảo những xung động mâu thuẫn của thế hệ Phát xít.

Malaparte không nằm trong hàng ngũ lãnh đạo cao nhất của chủ nghĩa Phát xít. Ông không phải là một trong những nhà tư tưởng chủ chốt, như người đồng nghiệp Giuseppe Bottai. Nhưng, khi danh tiếng văn học của ông lan rộng trong thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến, ông đã cho thấy mặt quyến rũ của chủ nghĩa Phát xít và duy trì một mối quan hệ căng thẳng với Mussolini kéo dài đến những năm 1930. “Malaparte” chứng minh rằng chủ nghĩa Phát xít không chỉ là một nỗ lực tập thể và sự tôn sùng lãnh tụ, mà còn là một nỗ lực cá nhân: một sự tự tôn sùng bản thân và một cơ hội cho những người trẻ đầy tham vọng từ các tỉnh lẻ, không hài lòng với vị trí của họ trong xã hội tự do, để bắt đầu một sự nghiệp.

Khách hàng quan trọng nhất của công việc tuyên truyền của Malaparte luôn là chính ông, và, trong những năm sau đó, ông đã cố gắng làm cho mọi việc có vẻ như ông là một người chống Phát xít bất đồng chính kiến suốt thời gian đó. Serra nói với chúng ta đừng tin điều đó: Những sự chuyển đổi chính trị rõ ràng của Malaparte là do cơ hội hoặc do ý muốn nhất thời. Và nếu ông rời bỏ Đảng Phát xít khi buộc phải làm vậy, ông vẫn là một người Phát xít trong tâm hồn. “Từ đầu đến cuối, người ta tìm thấy ở ông một khuynh hướng Phát xít mà ông chưa bao giờ từ bỏ dưới bất kỳ chế độ nào,” Serra giải thích, “đặc biệt là niềm yêu thích sức mạnh, hệ tư tưởng thực sự duy nhất của một người đàn ông khinh thường mọi hệ tư tưởng.”

Sự khinh miệt kẻ thất bại của ông, có lẽ, là sợi chỉ xuyên suốt duy nhất trong cuộc đời ông. Phẩm chất này giải thích tại sao ông dễ dàng từ bỏ Mussolini khi Il Duce sụp đổ, và gia nhập Vương quốc miền Nam theo phe Đồng minh. Và, tất nhiên, tài năng viết lách của ông thường xuyên cứu ông cũng như gây rắc rối cho ông. Malaparte sống sót qua các cuộc thanh trừng Phát xít thời hậu chiến vì bạn ông, lãnh đạo cộng sản Ý Palmiro Togliatti, hy vọng sẽ sử dụng tài năng của tiểu thuyết gia này cho đảng.

Curzio Malaparte tên thật là Kurt Erich Suckert, sinh năm 1898, có cha là người Đức và mẹ là người Ý. Cái tên “Malaparte,” cũng như nhiều điều khác về ông, là một tác phẩm nghệ thuật giả tạo, một cách chơi chữ từ “Bonaparte” bằng cách thêm tiền tố “Mal-” (ác hoặc xấu) mà ông đã sử dụng vào những năm 20, một phần theo gợi ý của Mussolini, người muốn nhà văn “Ý hóa” bản thân.

Đời sống chính trị ban đầu của ông gắn liền với Đảng Cộng hòa Ý cánh tả, chống giáo sĩ, chống quân chủ. Ông tình nguyện nhập ngũ trong Thế chiến I ngay cả trước khi Ý tham gia chiến đấu. Năm 1918, đơn vị của ông được gửi đi bảo vệ chống lại cuộc tấn công dữ dội của quân Đức trong rừng Bligny. Ở phía bên kia của những cuộc xung phong bằng lưỡi lê khốc liệt là nhà triết học Đức Ernst Jünger, người chia sẻ quan điểm chiến tranh được mỹ hóa của Malaparte.

Tại Rome thời hậu chiến, Malaparte đã lang thang trong các giới nghệ sĩ phóng túng, viết một bản tuyên ngôn tiên phong và “bắt đầu xây dựng hình ảnh một nghệ sĩ u uất.” Một cuốn sách chỉ trích Bộ chỉ huy quân đội cấp cao và sự bất tài của các cựu binh đã khiến ông bị loại khỏi quân đội, hoặc ít nhất là Malaparte tuyên bố như vậy. Dù thế nào đi nữa, điều đó đã mang lại cho ông danh tiếng và sự ưu ái từ những người bất mãn chính trị. Ông đã dao động với cực tả, nhưng cuối cùng chọn cực hữu. “Nguồn gốc của ông là và sẽ vẫn là người theo chủ nghĩa dân tộc,” Serra viết, “và đối với ông, Ý sẽ luôn là, dù tốt hay xấu, thước đo của mọi thứ.”

Vào những năm 1920, Malaparte đã đón nhận những yếu tố cực đoan nhất trong phong trào Phát xít, cánh “nghiệp đoàn dân tộc” hình dung một cuộc cách mạng do giai cấp công nhân quốc hữu hóa lãnh đạo chống lại giới tinh hoa suy đồi. Ông đã ca ngợi bạo lực đường phố trên báo chí, nhưng không rõ ông đã thực hành bao nhiêu: Ông không có mặt trong Cuộc tuần hành về Rome – sự kiện dẫn đến việc Mussolini lên nắm quyền vào năm 1922 – một sự thật mà ông sẽ che giấu ban đầu và sau đó sử dụng làm lợi thế sau khi chế độ sụp đổ.

Khi chính phủ của Mussolini cố gắng liên minh với các yếu tố bảo thủ hơn, Malaparte đã tự tách mình khỏi những phần tử cực đoan Phát xít ồn ào hơn với hy vọng thăng tiến sự nghiệp ngoại giao trong chế độ mới. Nhưng khi điều đó không thành hiện thực theo tham vọng của ông, một khía cạnh biến thái và tinh quái đã trỗi dậy, và ông bắt đầu châm chọc giới lãnh đạo Phát xít.

Những kế hoạch của ông cuối cùng đã đưa ông đến confino, một hình thức lưu đày nội bộ, trên đảo Lipari ngoài khơi Sicily. Malaparte sẽ viện dẫn việc bị giam giữ này để chứng minh lập trường chống Phát xít của mình sau chiến tranh, nhưng Serra đã làm rõ sự thật: Khi ông được thả sớm nhờ lòng khoan dung của Mussolini, ông vui vẻ giao du với giới thượng lưu Phát xít, với Bộ trưởng Ngoại giao Galeazzo Ciano và vợ ông ta, Edda, con gái của Mussolini.

Sau khi Ý đầu hàng, Malaparte tự xưng là một người chống Quốc xã kiên quyết, điều mà ông đã chứng minh bằng cách miêu tả Hitler như một kẻ hèn nhát và yếu đuối trong cuốn sách đình đám năm 1931 của mình Technique du Coup d’État. Nhưng việc ông chống Quốc xã không rõ ràng đến mức ngăn cản Đệ Tam Đế chế cho phép ông đưa tin về cuộc chiến ở phía đông và tiếp cận các nhân vật cấp cao của Quốc xã cho tờ báo Ý Corriere della Sera.

Hình ảnh: Curzio Malaparte vào những năm 1920. (Mondadori Portfolio qua Getty Images)

Những quan sát báo chí của ông đã tạo nền tảng cho “Kaputt,” một tài liệu trực tiếp đầy ảo mộng về chiến tranh, là một trong những tiểu thuyết đầu tiên nghiêm túc đề cập đến thảm họa châu Âu. Đến thời điểm đó, ông đã thay đổi phe, nhưng không phải không có sự oán giận: Năm năm sau, tiểu thuyết “The Skin” của ông cho thấy ông đối xử với sự chiếm đóng của Đồng minh trên quê hương mình bằng một giọng văn đầy mỉa mai chua chát.

Mặc dù đề cập đến một số thảm họa tồi tệ nhất của thế kỷ 20, cuốn “Malaparte” không thiếu những chi tiết hài hước, đó là kết quả của cả sự hóm hỉnh của Serra và sự vô lý trong cuộc đời của nhân vật chính. Chẳng hạn, mô tả của Serra về cảnh tượng trong bệnh viện nơi Malaparte trải qua những ngày cuối đời: Hai thế lực lớn của nước Ý thời hậu chiến, Giáo hội Công giáo và Đảng Cộng sản, đã “bao vây” căn phòng của ông, cố gắng thuyết phục ông cải đạo trên giường bệnh. Cả hai bên đều tuyên bố mình đã thành công.

Serra, tác giả của nhiều cuốn sách về các nhân vật Phát xít khác, bao gồm Mussolini, nhà văn theo chủ nghĩa Tương lai Filippo Tommaso Marinetti và nhà thơ dân tộc chủ nghĩa Gabriele d’Annunzio, từng là một thành viên của ngành ngoại giao Ý. Lời văn, được Stephen Twilley dịch từ tiếng Ý, thể hiện sự tinh tế; nó chặt chẽ về mặt trí tuệ nhưng lại dí dỏm và vui tươi. Sự tài tình của một nhà ngoại giao giàu kinh nghiệm hóa ra lại là một lợi thế khi xem xét cuộc đời Malaparte. Serra đánh giá cẩn thận những bước ngoặt chính trị trong sự nghiệp của Malaparte, phân tích cách ông dùng lời tâng bốc và chế giễu của một người nịnh thần với một sự chính xác đầy lôi cuốn.

Ông cũng cảnh báo chống lại điều mà ông gọi là cách diễn giải “opera buffa” (hài kịch opera) về chủ nghĩa Phát xít Ý như một điều gì đó buồn cười, và không ngừng vén màn những sự thật đằng sau một người đàn ông đã đặt mình phục vụ những xu hướng chính trị tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại. Kết quả là một bức chân dung về một kẻ đạo đức giả thăng tiến xã hội, người đã làm giả cuộc đời mình. Ngày nay, ông ta có thể cảm thấy quen thuộc với chúng ta khi chúng ta chứng kiến những kẻ cưỡi lên cơn bão, theo đuổi quyền lực và danh tiếng mà không màng đến nguyên tắc hay thậm chí là sự thận trọng. Serra làm rõ rằng có một sự nhất quán và mạch lạc trong cuộc đời Malaparte, nhưng đó là sự nhất quán về phong cách chứ không phải đạo đức.

Hitler, người mà Malaparte coi thường như một kẻ thô tục, đã thất bại với tư cách một nghệ sĩ nhưng lại thành công với tư cách một chính trị gia; Malaparte đã thất bại với tư cách một nhà hoạt động chính trị nhưng cuối cùng lại thành công với tư cách một nghệ sĩ. Dù Malaparte có cố gắng đến mấy, Serra làm rõ rằng đóng góp lớn nhất của nhân vật này là đã làm chứng một cách trung thực cho những thảm họa lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Đây là một kẻ nói dối không thể không nói sự thật.

Đọc Thêm:

Curzio Malaparte: Gã Văn Sĩ Phức Tạp Với Cuộc Đời Đầy Mâu Thuẫn

Curzio Malaparte (1898-1957), tên thật là Kurt Erich Suckert, là một trong những nhà văn, nhà báo, và nhà tư tưởng gây tranh cãi nhưng đầy tài năng của Ý thế kỷ 20. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là một tấm gương phản chiếu đầy sống động những biến động chính trị và xã hội phức tạp của châu Âu trong thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến và sau đó.

Thân thế đầy mâu thuẫn

Malaparte sinh ra ở Prato, Tuscany (Ý), có cha là người Đức và mẹ là người Ý. Ngay từ cái tên ông chọn – “Malaparte” (nghĩa là “phần xấu” hay “mảnh đời tệ bạc”), một cách chơi chữ từ “Bonaparte” – đã thể hiện phần nào tính cách và triết lý sống của ông: một sự pha trộn giữa ngạo mạn, khiêu khích và tự nhận thức về sự “khác biệt” của mình.

Thời trẻ, Malaparte thể hiện rõ khuynh hướng nổi loạn và tìm kiếm sự kịch tính. Ông tình nguyện tham gia Thế chiến I khi còn rất trẻ, thậm chí trước khi Ý chính thức tham chiến. Sau chiến tranh, ông nhanh chóng bị cuốn vào vòng xoáy chính trị và xã hội ở Rome, ban đầu có xu hướng cực tả, nhưng sau đó lại nhanh chóng chuyển sang ủng hộ mạnh mẽ chủ nghĩa Phát xít của Benito Mussolini. Sự thay đổi này không xuất phát từ niềm tin sắt đá vào một hệ tư tưởng cụ thể, mà dường như là sự kết hợp giữa chủ nghĩa cơ hội và khao khát khẳng định bản thân trong một thời đại đầy biến động.

Ông được miêu tả là một “trí thức chống trí thức”, một người đàn ông mạnh mẽ nhưng lại chú trọng vẻ ngoài, dũng cảm trên chiến trường nhưng lại hèn nhát về mặt đạo đức trong chính trị và đời sống cá nhân. Malaparte là hiện thân cho những mâu thuẫn nội tại của thế hệ Phát xít: một người hợm hĩnh tư sản nhưng lại ghét bỏ chính tầng lớp mình, lý tưởng hóa cả tầng lớp vô sản lẫn quý tộc.

Các tác phẩm tiêu biểu và ảnh hưởng

Dù mang nhiều tai tiếng về mặt chính trị, tài năng văn chương của Malaparte là không thể phủ nhận. Ông là một nhà văn và nhà báo bậc thầy, sở hữu lối viết sắc sảo, trực diện và đôi khi gây sốc. Các tác phẩm của ông thường mang đậm tính quan sát cá nhân, phản ánh chân thực (dù đôi khi mang màu sắc giả tạo) những sự kiện lịch sử mà ông trực tiếp chứng kiến hoặc tham gia.

Hai tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông là:

  • “Kaputt” (1944): Được coi là một trong những tác phẩm đầu tiên và quan trọng nhất khắc họa thảm họa chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu. Dựa trên những quan sát báo chí của chính Malaparte khi ông đưa tin về cuộc chiến ở mặt trận phía Đông cho Đức Quốc xã (mặc dù ông cho rằng mình chống Quốc xã), “Kaputt” mang đến một cái nhìn ám ảnh và siêu thực về sự hủy diệt và những hành vi tàn bạo của con người trong chiến tranh. Cuốn sách phơi bày sự tàn khốc mà không tô vẽ, qua giọng kể đầy mỉa mai và đôi khi lạnh lùng của một người quan sát.
  • “The Skin” (1949): Là phần tiếp theo của “Kaputt,” cuốn tiểu thuyết này tập trung vào giai đoạn Ý bị Đồng minh chiếm đóng sau khi Phát xít sụp đổ. Với giọng văn châm biếm chua cay, Malaparte miêu tả sự suy đồi đạo đức, sự tha hóa và những nghịch lý của xã hội Ý dưới sự ảnh hưởng của lực lượng Đồng minh. Cuốn sách cho thấy sự khinh miệt của ông đối với những kẻ thất bại và cách ông nhìn nhận thời cuộc một cách khắc nghiệt.

Ngoài ra, Malaparte còn nổi tiếng với cuốn sách “Technique du Coup d’État” (Kỹ thuật Đảo chính) xuất bản năm 1931, trong đó ông phân tích các cơ chế quyền lực và cách thức thực hiện các cuộc đảo chính, bao gồm cả việc chỉ trích ngầm Hitler và Mussolini (dù lúc đó ông vẫn ủng hộ Phát xít).

Di sản và tính cách nhất quán

Malaparte là bậc thầy trong việc “tô vẽ” bản thân và sự thật. Sau chiến tranh, ông cố gắng xây dựng hình ảnh một người chống Phát xít, bất chấp những liên hệ mật thiết của ông với chế độ này. Tuy nhiên, theo Maurizio Serra, sự nhất quán duy nhất trong cuộc đời Malaparte chính là “sự khinh miệt kẻ thất bại”niềm yêu thích sức mạnh. Ông dễ dàng thay đổi phe phái để tồn tại và thăng tiến, cho thấy một sự “nhất quán về phong cách hơn là đạo đức”.

Dù là một kẻ nói dối, Malaparte lại có một khả năng kỳ lạ là “không thể không nói sự thật” trong các tác phẩm văn học của mình. Ông đã trở thành một “nhân chứng trung thực” cho những thảm họa lớn nhất của lịch sử, mang đến những cái nhìn chân thực về bản chất con người và xã hội trong thời kỳ hỗn loạn.

Bài Mới Nhất
Search