Tiếng Nam…
Vào đến trong Nam, tuy không nói ngọng phụ âm đầu từ, song họ lại nói trại phụ âm đầu từ. Cũng như đọc trại những mẫu âm, thay dấu làm thay đổi giọng nói, như:
“Nè, ăn Hai, tui qua đây là có chiện”.
Hay:
“Mèng đéc ơi, thằng chả thiệt dô diên”.
Hoặc giả như:
“Khi không nó làm như tui quen biếc nó hồi nảo”.
Và cuối chuyện thì:
“Thiệt lãng xẹc, thúi hoắc. Thôi tui dìa nghe ăn Hai”
(Đỗ Quang Vinh – Tiếng Việt tuyệt vời)
Văn học sử II
Văn học sử nhằm nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của nền văn học. Đó là cái đích cần được khám phá đưa đến việc trình bày trung thực toàn diện bộ mặt của văn học. Nhưng không chỉ có mô tả, liệt kê mà phải đi sâu vào việc hệ thống hóa, đúc kết và giải tích các xu hướng, các trào lưu cùng những thành tựu và nhược điểm của từng giai đoạn văn học.
Những bài hiệu đính cổ văn của Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố trên tạp chí Tri Tân mới chỉ là những mảnh vụn văn học sử.
Việt Nam Cổ Văn Học Sử (1941) của Nguyễn Đổng Chi tuy chưa hẳn là một quyển văn học sử đúng nghĩa nhưng đã cung cấp tài liệu văn học từ nguồn gốc đến đời Trần, Hồ. Đây là một tác phẩm về sử văn học đầu tiên. Bộ Văn Học Việt Nam của Ngô Tất Tố mới hoàn tất được Văn Học Đời Lý và Văn Học Đời Trần (1942) rất sơ sài và thiếu phương pháp. Việt Nam Văn Học Sử Yếu (1944) của Dương Quảng Hàm đề cập từ văn chương bình dân đến 1940, tuy rất khái quát nhưng là bộ văn học sử đầu tiên nghiên cứu công phu và có phương pháp.
Bộ Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên (1961-1965) của Phạm Thế Ngũ tuy soạn thảo đầy đủ nhưng còn sơ luợc. Bảng Lươc Đồ Văn Học Việt Nam (1967) của Thanh Lãng là sơ lược lịch sử văn học Việt Nam, một cái nhìn tổng quan về diễn tiến của văn học từ khởi thủy đến hiện đại (từ thế kỷ 13 đến 1945).
Ở hải ngoại, bộ Văn Học Miền Nam 1954-1975 (1986) của Võ Phiến tuy chỉ viết về lịch sử văn học của một thời kỳ nhưng nghiên cứu có phương pháp. Điều kiện sinh hoạt văn học như bối cảnh xã hội, chính trị, kinh tế, môi trường trong đó nhà văn sống và sáng tác lần đầu tiên được đem ra phân tích. Yếu tố độc giả, xuất bản, cũng như thành phần, phái tính, mức sống, lối sống, thế giá của các tác giả cũng được đề cập đến.
(Trần Bích San – Văn khảo khái luận)
Cải tạo tiếng Việt
Tiếng Việt có ưu điểm của nó nhưng cũng làm cho người ngoại quốc muốn nghiên cứu phải bối rối về việc sử dụng uyển chuyển các từ ngữ mà chẳng cần văn phạm và năm dấu Việt độc đáo không có trong ngôn ngữ nào trên thế giới. Có thể vì lẽ đó tác giả Phụng Nghi trong cuốn 100 Năm Phát Triển Tiếng Việt đã dành hẳn một chương để bàn chuyện có nên bỏ một trong hai dấu hỏi (?) ngã (~) trong tiếng Việt không?
Ông dẫn chứng ba khuynh hướng khác nhau về vấn đề này là khuynh hướng chỉ dùng một dấu trên toàn quốc, khuynh hướng dùng một dấu riêng tại miền Nam và khuynh hướng giữ nguyên trạng không cần thay đổi.
Hai dấu hỏi và ngã có nghĩa khác nhau, dùng trong những trường hợp khác nhau không thể đồng hóa thành một được. Nếu câu nói: “Anh nỡ bỏ cô ấy mà không nghĩ tới tình nghĩa những năm qua sao?” mà viết toàn một dấu hỏi là “Anh nở bỏ cô ấy mà không nghỉ tới tình nghỉa nhửng năm qua sao?” thì chắc cả trăm năm nữa cũng khó có thể quen tai. Nếu báo Tuổi trẻ chủ trương chỉ viết một dấu cho dễ thì cũng nên theo những anh bộ đội nói ngọng không phân biệt được hai chữ “L” và “N”, mà bỏ một chữ “L” đi. Khi đó học trò viết “Nu na nu nống cái Bống nằm trong cái Ong nằm ngoài” hoặc là “Não nính nệ nàng Náng nên nàng Nủ nấy nòng nợn nuôn nuôn” đều đựợc coi là đúng chính tả. Và nhân tiện cũng bắt chước giọng đọc của người miền Nam tất cả những chữ bắt đầu bằng V đều viết thành D cho tiện việc mặc dầu trong Nam đồng bào dù đọc là D nhưng vẫn viết V trúng phóc (la ve).
Học chữ hay muốn nói cho đúng thì cũng phải chịu khó nên không thể ngại khó mà đơn giản hóa quá mức đến thành thiếu sót, thiếu nghĩa. Không thể viện cớ đơn giản để mà đưa đề nghị bắt chước người Mỹ chỉ cần xưng hô bằng hai tiếng I, You cho tiện để bỏ hết những từ ông, bà, cô, bác, chú, thím, cậu, dì…thân thương, độc đáo của Việt ngữ.
(Đặng Trần Huân – Chuyện cải cách tiếng Việt)
Người Việt người Tầu
Người Việt đừng bao giờ tặng quà cho người Tầu cái đồng hồ treo tường.
Vì “đồng hồ treo tường” thì tiếng Hán là “tống chung”.
Mà “tống chung” là … đưa đám ma.
(Quách Xuân Sơn – Người Hoa, đồng âm và đầu óc dị đoan)
Giai đoạn phiên âm
Về nguồn gốc, có lẽ câu sau đây là “một dòng chữ xuất hiện đầu tiên”, trong tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ.
” Con gno muon bau tlom laom Hoalaom chian “.
Câu nầy, theo giáo sĩ Christofora Borri, là câu mà các giáo sĩ đàng trong đã dùng trước khi ông có mặt tại đây, nó có nghĩa là :
Con nhỏ muốn vào trong lòng Hoa Lang chăng?
Danh từ Hoa Lang, không rõ do đâu mà có, nhưng đó là từ do người Việt Nam thời bấy giờ dùng để chỉ cho người Bồ Đào Nha, và sau đó dùng để gọi chung các nhà truyền giáo Tây Phương.
Như vậy câu trên là câu các nhà truyền giáo Tây phương muốn hỏi một người Việt rằn : “Muốn vào đạo Thiên chúa chăng?” Vì lẽ câu nói không diễn tả được rõ ý nên Linh mục Buzomi đã sữa lại như sau: “Muon bau dau Christiam chiam?” (Muốn vào đạo Christiang chăng?). Đây là câu trích trong quyển sách của Christoforo Borris xuất bản năm 1631 tại La Mã, viết bằng chữ Ý.
(Huỳnh Ái Tông – Nguồn gốc chữ Quốc ngữ)
Trích…“Tập làm văn”
Đề: Tả con gà.
Nhà em có 1 con gà. Nó là giống gà Đông Cảo. Nó to bằng con gà gi. Nó nặng từ 8-10 kg… nên chả hiểu nó là giống gà gì. Cứ sáng sớm thức dậy, con gà trống nhà em nó đều nhảy phốc lên cây rơm, gáy ò ó o.
Gáy xong hồi dài nó lấy hai cánh vỗ phành phạch vào mông đít.
Sáu khắc
Bài phú Gái nhớ thì của một tác giả vô danh có câu:
“Buồn bã nhé, trăng thâu bóng lọt, đêm năm canh, ngày sáu khắc, những mơ màng. – Rầu rĩ thay nhị rữa hoa tàn, xuân một khắc nghìn vàng không đổi lạ”.
Sáu khắc tức là sáu giờ của ta ngày xưa. Theo cách tính giờ xưa kia thì nửa đêm bắt đầu giờ Tý đến giờ Hợi. Một ngày chia làm 12 giờ, theo tên 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Do đó mỗi ngày từ sáng đến tối có sáu khắc.
Nét đặc biệt trong tiếng Huế
Xin được thêm một câu ngăn ngắn gần như rặt thổ ngữ của Huế mà, nếu không có . . . thông dịch viên gốc Huế hoặc Huế rặt, e rằng khó mà…đả thông cho được:
“Thưa cụ mự, bọ tui vô rú rút mây về đươn trẹt, bọ tui chộ con cọt, rứa mà nỏ biết ra răng, con cọt lủi, lủi năng lắm, bọ tui mờng rứa thê ! Chừ mạ tui cúng con gà, cụ mự qua chút chò bui .”
(Thưa cậu mợ, bố con vào rừng rút mây về đan rá (hoặc nia), bố con thấy con cọp, vậy mà chẳng biết sao; con cọp chạy trốn, chạy lẹ lắm; bố con mừng quá. Giờ mẹ con đang cúng con gà, cậu mợ qua chút xíu cho vui)
Khó hiểu chưa ?!
(Nguồn ĐatViet.com)
Văn học miền Nam (VII)
Gần đây, chúng tôi cố gắng đưa vấn đề Văn học miền Nam trở lại văn đàn, vì có những người thực sự yêu văn chương ở trong nước muốn tìm hiểu về những tác giả và tác phẩm đã bị loại trừ sau 30/4/1975. Chúng tôi xin giới thiệu Vương Trí Nhàn, một trong những nhà phê bình miền Bắc đã không ngừng tiếp cận với văn học miền Nam từ thời kỳ phân chia Nam Bắc đến ngày nay.
***
Thụy Khuê: Chắc anh cũng đồng ý là mặc dù giới trẻ trong nước hiện nay không có cơ hội trực tiếp tiếp xúc với Văn học miền Nam, nhưng nếu chúng ta nhìn kỹ, thì chúng ta vẫn thấy có một vài ảnh hưởng nào đó của Văn học miền Nam trên một số tác giả trẻ hiện nay. Vậy anh có thể lý giải cụ thể thế nào về hiện tượng này?
Vương Trí Nhàn: Mặc dù có bị đẩy vào bóng tối, những phần tốt đẹp trong Văn học miền Nam vẫn như mạch nước ngầm len lỏi xuyên thấm vào đời sống văn hóa trong nước. Ví dụ như thơ, các hội thơ gần đây đã thường đưa Thanh Tâm Tuyền lên thành một tìm tòi của thơ thế kỷ XX ở Việt Nam và trong dư luận miệng tức là trong các cuộc trao đổi, mọi người trông vào các tìm tòi của các nhà thơ ở miền Nam trước 75 như những bước khai phá tiếp tục Thơ Mới, để tìm tới một giai đoạn mới của thơ.
Đi với thế giới đang là chuyện sinh tử của nền thơ trong nước nhất là thơ trẻ. Tôi cho là việc này đã được các nhà thơ ở miền Nam trước 75, giải quyết một cách tự nhiên, một cách liên tục, một cách rộng rãi, nó như một lối đi đã mở, ai có sức thì đi tiếp. Mà đâu chỉ riêng có thơ. Nhiều vấn đề lớn như thế nào là tiểu thuyết, văn xuôi đi về đâu, chấp nhận phương Tây thế nào thể hiện quan hệ cá nhân, xã hội ra sao – trước các vấn đề ấy các nhà văn miền Nam trước 75 đều đã thể nghiệm, các nhà văn trẻ bây giờ nếu đọc hẳn sẽ có nhiều gợi ý.
(Thụy Khuê: Nói chuyện với nhà phê bình Vương Trí Nhàn)
Trích…“Tập làm văn”
Đề: Tả ông nội
Nhà em có nuôi một ông nội, ông nội suốt ngày chẳng làm gì cả chỉ trùm chăn ngủ, đến bữa ăn ló đầu ra hỏi: Cơm chín chưa bây?
Ca dao lơ mơ lỗ mỗ
Cô kia, cô kỉa, cô kìa
Người cô thế ấy, cái kia thế nào?.
Đã được bên kia trả lời:
Nó xìnhh, nó xỉnh, nó xinh
Nó cũng như mình, nó đã có ria!
Giai thoại làng văn: Ba Giai Tú Xuất
Ba Giai, Tú Xuất là hai nhân vật có thật ở Hà Nội và Hà Tây vào những năm đầu thế kỷ XX. Trong cuốn Lược truyện các tác giả Việt Nam (1972), đã khẳng định Nguyễn Nam Thông là người đầu tiên biên soạn Ba Giai – Tú Xuất. Căn cứ vào bản in năm 1934 do Tân Dân Thư Quán (93 Hàng Bông, Hà Nội) được lưu giữ tại thư viện Paris, Pháp.
Việc trả lại tên cho tác giả Nguyễn Nam Thông là cần thiết theo đúng tinh thần công ước Berne. Đáng tiếc, cuốn sách không nêu rõ họ tên, quê quán hay hình ảnh của Ba Giai Tú Xuất. Hy vọng lần tái bản bổ sung hình ảnh hay phụ bản in năm 1934 cũng như ảnh cố nhà văn Nguyễn Nam Thông.
Vài nét về nhà văn Nguyễn Nam Thông:Tên thật là Nguyễn Xuân Thông quê ở làng Động Dã, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây cách làng Tú Xuất không xa. Theo nhà báo Bích Ngọc, con gái nhà văn, ông sinh năm 1906 trong một gia đình nhà Nho. Năm 1937, Nguyễn Nam Thông là chủ bút tờ Đông Tây tiểu thuyết, thường viết tiểu thuyết lịch sử.
Tác phẩm đã xuất bản:Ba Giai (Tân Dân Hà Nội 1931); Tú Xuất (Tân Dân Hà Nội 1930); Đàn bà dễ có mấy tay (Tân Dân Hải Phòng 1930); Trung Nhật chiến tranh yếu nhân (Thụy Ký Hà Nội 1938); Nga Nhật chiến ký (Báo Nam Ký 1939); Vợ lẽ của tôi (Tân Dân Hà Nội 1933)…
(Nguyễn Ty – Ba Giai, Tú Xuất đã có tác giả)
Hồn bướm mơ tiên
Tựa đề Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng đã có trong bài thơ của vua Lê Thánh Tông, khi vua ghé qua chùa Ngọc Hồ ở thôn Thanh Ngô. Tới chùa vua thấy cảnh trí u nhã, hoa cỏ xanh tươi, lại nghe ni cô tụng kinh giọng trong như nước suối, uyển chuyển lạ thường, khiến người nghe như phiêu diêu trong miền cực lạc.
Vua cảm xúc, đề lên vách chùa hai câu thơ:
Chày kinh một tiếng tan niềm tục
Hồn bướm ba canh lẫn sự đời
Ni cô xem, chê hai câu thiếu ý tả cảnh thực và sửa lại:
Gió thông đưa kệ tan niềm tục
Hồn bướm mơ tiên lẩn sự đời
(Trần Văn Sơn – Những giai thoại văn học VN)
Chữ nghĩa Bắc, Nam
Bắc ngồi bia bọt, Nam nhậu lade
Bắc bùi bùi lạc rang, Nam thơm thơm đậu phụng
Ngộ Không
(Sưu Tập)
