Cao Ngọc Phượng
CHỊ TÔI
Bài thơ này tôi viết cho chị tôi, Cao Ngọc Phượng. Chị đã dâng hiến cuộc đời chị cho các em bé nghèo, cho tất cả những người thiếu may mắn, những anh em cải tạo trong chốn rừng thiêng nước độc, những đồng bào chơi vơi trên biển cả, những gia đình nghèo khó cơm bữa đói bữa no… bằng tất cả tình thương rộng lớn… Chữ nghĩa không thể nói hết tình thương rộng lớn của chị.
[Kính tặng chị Cao Ngọc Phượng thương yêu]
Trên những con đường mòn
Tôi âm thầm đi tới
Mái tranh nghèo xác xơ
Thăm bà mẹ xanh xao
Và đàn trẻ gầy còm
Mắt trũng sâu vì đói
Tôi ân cần thăm hỏi
Và giúp đỡ tận tình
Có những chiều nắng tắt
Tôi đã lặng lẽ ngồi
Bên cạnh giường bệnh nhân
Cầm tay em khẽ nói:
Xin trao tặng về em
Món quà bên phương trời
Mang đầy tình nhân ái.
Tôi đã đi vội vã
Xuyên qua rừng đêm khuya
Lá rừng reo giục giã
Sao rừng soi lối đi
Đưa tôi tới căn nhà
Nghèo nàn nơi thôn dã
Chuông chùa reo ngân nga
Trong đêm đen u tịch
Nghe hồn mình bay xa
Tôi đến thăm gia đình
Dì Tư nghèo vất vả
Suốt năm dài lam lũ
Cơm bữa đói bữa no
Mắt trũng sâu vì đói
Dì Tư thầm mơ ước
Có con heo nhỏ bé
Dì sẽ chăm sóc nó
Mỗi ngày heo lớn lên
Sẽ sanh đàn heo con…
Đôi môi gầy khô mét
Nở nụ cười héo hon.
Niềm ước mơ chợt tắt.
Tôi nắm bàn tay dì
Nhìn mắt dì thật lâu
Dì Tư ơi có biết
Cháu đã băng rừng sâu
Về xin trao tận tay
Dì Tư niềm mơ ước.
Dì Tư sững nhìn tôi
Như phép lạ trên trời
Dì đang mơ hay tỉnh
Tay tôi trong tay dì
Nụ cười tôi hiền dịu
Và dì Tư chợt hiểu
Dì rưng rưng nước mắt
Chắp tay cảm ơn trời
Và xin cảm ơn người
Ở phương xa xôi ấy
Đôi môi dì mấp máy
Nghẹn ngào không lên lời
Tôi giơ tay lên môi
Tròn như mắt chị tôi
Ra dấu: Thôi đủ rồi!
Tiếng gà trưa rộn gáy
Nắng chứa chan trên đồi
Nắng reo niềm mơ ước
Nắng chan hòa tim tôi
Chiều nay tôi âm thầm
Một mình trên đường vắng
Chợt nghe mùa thu đến
Mà nhớ chị mênh mang
Chợt nhìn lên trời cao
Chị tôi là mây trắng
Lang thang bốn phương trời
Đi kêu gọi loài người
Hãy mau mau thức tỉnh
Xin ngừng chiến tranh thôi
Cho nhân loại yên vui
Cho Việt Nam nhỏ bé
Ngừng máu chảy thịt rơi
Cho những bà mẹ già
Đón con về trước ngõ
Trong niềm vui bồi hồi
Cho những người vợ hiền
Bao năm dài chờ đợi
Ôm yêu thương tuyệt vời,
Cho tiếng cười trẻ thơ
Reo vang trong nắng ấm
Tung tăng đi đến trường
Cho ngày mai tươi sáng
Nhìn lên hàng cây cao
Chị tôi là nắng ấm
Nắng đang ươm sự sống
Cho nụ non đơm bông
Nắng đang sưởi tấm lòng
Những người đang khô héo
Và đang mang hy vọng
Cho những người khổ đau
Nhìn ra bốn phương trời
Hình chị tôi lồng lộng
Lòng chị tôi mở rộng
Cho yêu thương dâng đầy
Mắt chị tôi rạng ngời
Như vì sao Mai sáng
Tôi bước đi trong nắng
Thấy lòng mình ngây ngây
Yêu thương dâng vời vợi
Chan chứa khắp mọi người
Tôi thương từng em bé
Lang thang bên đống rác
Tôi thương bà Mẹ già
Lam lũ suốt quanh năm
Áo vẫn không đủ mặc
Cơm vẫn chẳng đủ ăn
Tôi thương người phế binh
Lê thân tàn khắp chốn
Xin bố thí cơm rơi
Ôi! Tôi thương cuộc đời
Bể dâu buồn đau quá
Tôi cúi đầu bước đi
Nước mắt tràn dâng mi
Long lanh hình ảnh chị
Giăng ngập cả đường đi!
02-10-1985
VỤ XÉT XỬ HÒA THƯỢNG THÍCH ĐỨC NHUẬN
Thượng tọa Thích Đức Nhuận
Tôi thường đến chùa Giác Minh để sinh hoạt Gia đình Phật tử khi còn trẻ, Nơi ấy, đã ghi bao kỷ niệm tuổi thanh xuân. Nơi đó, tôi đã gặp những vị thầy uyên thâm, đạo hạnh dạy tôi đạo đức làm người, nhân cách thanh cao của một Phật tử.
Bẵng đi cả mấy năm trời tôi không đến chùa vì phải vất vả lo toan cho cuộc sống gia đình đang trên bờ vực thẳm. Một hôm, khi ghé vào chùa thăm quý thầy , tôi được biết tin đau lòng; thầy Đức Nhuận đã bị bắt hơn hai năm rồi, không được thăm nuôi, không được mang ra Tòa án xét xử.
Tôi ra về với niềm đau khắc khoải.
Thượng tọa Thích Đức Nhuận là một người có uy tín và đạo đức trong giới tu sĩ. Thầy là bậc chân tu, hiền lành đạo đức, một vị Tăng có uy tín thuộc Giáo hội Tăng già Bắc Việt tại miền Nam, là Chánh Thư ký viện Tăng Thống do đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết đứng đầu. Thầy còn là Trụ Trì của chùa Giác Minh.
Tôi tự hỏi: Thầy có tội gì mà bị bắt, bị giam giữ hơn hai năm, không cho người thăm nuôi gặp mặt? Thầy có bệnh đau dạ dày rất nặng, bị xuất huyết. Đã hơn hai năm qua, thầy bị đày ải nơi chốn lao tù, không được ai thăm viếng, không có tin tức sức khỏe của thầy, sống chết không ai hay biết.
Nỗi đau lòng trào lên khóe mắt. Đã nhiều đêm tôi không ngủ được, hình ảnh gia đình Phật tử sinh hoạt ở chùa Giác Minh. Thầy Đức Nhuận giảng đạo đức Phật pháp cho chúng tôi, tư thái thầy nhẹ nhàng, giọng thầy trầm ấm, đôi mắt sáng tinh anh nhìn chúng tôi, trao truyền cho lớp trẻ chúng tôi nguồn sống đạo đức thanh cao, một niềm tin vững chắc làm hành trang vào cuộc sống.
Tôi đau đớn hỏi Phật Trời, làm sao chúng con có thể cứu thầy đây? Trời thì cao thẳm, Phật thì lặng thinh. Trước thế lực cường quyền, ai dám đứng ra can thiệp cứu thầy?
Tôi hỏi Thượng tọa Đức Nghiệp đang làm Trụ trì chùa Giác Minh: Thưa thầy, thầy đã làm đơn xin công an cho thăm nuôi, gặp mặt thầy Đức Nhuận chưa?
Thầy trả lời: Tôi rất bận việc Phật sự, còn thân hữu thầy Đức Nhuận thì cao chạy xa bay hết rồi, không ai dám dính líu đến tù nhân chính trị.
– Thưa thầy, con có thể làm đơn xin Tòa án đưa thầy Đức Nhuận ra xét xử và xin gặp mặt, mới mong có án tù chính thức, để có ngày về. Còn cứ để tình trạng thầy bị giam cầm, không được gặp mặt, không có án, thầy ấy sẽ bị giam trong ngục thất, không được thả, sống chết ra sao không ai hay biết.
Thầy Đức Nghiệp nghiêm sắc mặt nhìn tôi:
– Cô có giỏi thì cô làm đơn đi. Tôi thì chịu.
Tôi thất vọng nhìn thầy, nhưng vẫn cố nài nỉ. Con sẽ về làm đơn xin Tòa sơ thẩm mang thầy Đức Nhuận ra xét xử, con chỉ xin thầy ký vào lá đơn đó với tư cách Trụ trì chùa Giác Minh, còn con sẽ ký đơn với tư cách đại diện Phật tử chùa Giác Minh. Con sẽ đích thân mang lên Tòa án nộp đơn.
Thầy Đức Nghiệp do dự, tôi lại tiếp tục xin Thầy: Vì thầy là Trụ trì. Chữ ký của thầy mới có giá trị. Con chỉ là Phật tử, không có tính cách pháp lý, con chỉ xin thầy chữ ký thôi. Mọi việc liên hệ, con xin làm hết.
Thầy Đức Nghiệp nhìn tôi, ánh mắt ái ngại: Cô có nghĩ đến hậu quả cô liên can đến phạm nhân tù chính trị, cô bị giam giữ để điều tra, ai sẽ nuôi đàn con bé bỏng của cô không?
Tôi giật mình, nhưng kịp trấn tĩnh, tôi thong thả thưa thầy: Con đã suy nghĩ đến điều này. Nhưng nếu con không làm, thì ai sẽ đứng ra làm việc này đây. Thầy Đức Nhuận có mệnh hệ nào thì lịch sử sẽ phán xét tình huynh đệ của thầy Trụ trì, của giáo đoàn Tăng già Bắc Việt tại miền Nam, thấy đồng môn bị nạn mà vẫn an nhiên, im hơi lặng tiếng. Còn phần con, con tin rằng Thiên Thần Hộ Pháp và đức Quán Thế Âm luôn che chở cho con. Ngày mai, con chỉ xin thầy đọc kỹ tờ đơn, ký tên là người Trụ trì , con sẽ ký tên phía đại diện Phật tử chùa và đem lên Tòa án nộp.
Sáng thứ hai, tôi cầm lá đơn đã viết sẵn xin thầy ký tên để tôi lên Tòa án nộp. Tòa án Nhân Dân nằm trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Cổng chính đóng kín, chỉ có cổng bên mở. Tôi bước vào cổng, gặp ngay hai viên công an bảo vệ, anh ta xẵng giọng hỏi tôi:
– Cô đi đâu, muốn gặp ai?
Tôi nhẹ nhàng nói:
– Anh cho tôi gặp ông Chánh án.
– Cô gặp ông Chánh án làm gì?
– Tôi trình ông lá đơn.
Anh ta giật lá đơn tôi đang cầm, cả hai người chúi đầu vào đọc. Đọc xong, hắn trừng mắt nhìn tôi.
– Đồng Văn Kha (Thích Đức Nhuận) tạo phản, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, Tòa án không cho phép.
Từ nhỏ đến giờ tôi chưa từng đến đồn công an, tôi hơi run nhưng kịp bình tĩnh. Nhìn viên công an bằng ánh mắt điềm tĩnh, tôi nói với hắn: Tôi đến gặp ông Chánh án, yêu cầu ông sớm đưa thầy ra xét xử, nếu thầy có tội thì cứ việc thi hành án lệnh theo pháp luật. Yêu cầu các anh chỉ cho tôi phòng ông Chánh án. Tôi cảm ơn hai anh.
Thấy giọng nói của tôi vừa cương quyết lẫn ngọt ngào. Hai viên công an gác cổng chỉ cho tôi đường đi đến phòng Chánh án.
Tôi không gặp ông Chánh án mà chỉ gặp vài nhân viên văn phòng. Sau khi đọc lá đơn của tôi, họ nhìn tôi với ánh mắt khó chịu, giọng gay gắt: Ông này là nhà sư phản động, âm mưu lật đổ chính quyền với ý đồ làm quốc trưởng. Cô có quan hệ gì với ông ấy mà làm đơn xin cứu xét.
Tôi nhìn thẳng vào mắt viên công an, bình thản trả lời: Tôi chỉ là một Phật tử, tôi thấy thầy bị giam giữ lâu quá, không được gặp mặt, tôi chỉ thay mặt thầy Trụ trì chùa Giác Minh, làm đơn đề nghị Tòa án mang thầy ra xét xử, thầy có tội thì cứ thi hành theo pháp luật, thầy vô tội thì thả thầy ra.
– Cô cầm đơn này sang Viện Kiểm sát Nhân dân. Ở đây chỉ xử sau khi đã điều tra xong.
– Viện Kiểm sát ở đâu?
Họ chỉ tôi số 120 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa.
***
Thế là tôi đạp xe đến Viện Kiểm sát. Nơi đây tôi lại gặp những khuôn mặt hình sự, ánh mắt dò xét xem tôi thuộc đối tượng nào mà dám vác đơn xin cứu xét một tội phạm chính trị nguy hiểm thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Tôi vẫn giữ thái độ bình tĩnh, yêu cầu họ nhận đơn và cho tôi giấy hẹn. Cầm tờ giấy hẹn, tôi về chùa Giác Minh giao cho Thượng tọa Đức Nghiệp.
Năm tháng sau, quá kỳ hẹn một tháng mà không thấy Viện Kiểm sát hồi âm. Tôi cầm tờ giấy hẹn lên gặp ông Viện trưởng. Lần này thì tôi gặp ông. Tôi lễ phép chào ông rồi đặt vấn đề lá đơn tôi nộp lâu rồi, có ngày hẹn 15 tháng Tư trả lời mà nay 15 tháng Năm rồi vẫn chưa thấy Viện Kiểm sát báo tin trả giấy hẹn.
– Bà có quan hệ mật thiết gì với vị sư này mà sao năng nổ vậy?
– Thưa ông, tôi chỉ là Phật tử chùa Giác Minh, tôi đi liên hệ thay Thượng tọa Đức Nghiệp để biết kết quả về lá đơn xin quý vị Viện Kiểm sát và Tòa án đưa thầy Đức Nhuận ra xét xử. Nếu thầy có tội thì quý vị cứ đúng luật pháp mà thi hành, nếu thầy vô tội thì sớm thả thầy ra. Chúng tôi không có ý kêu gọi xin tha. Mong ông chấp hành lời hứa, tôi nghĩ rằng các ông sáng suốt công minh để cho nhân dân chúng tôi tin tưởng vào sự nghiêm túc của luật pháp.
Ông Viện trưởng nhìn tôi, rồi hứa hẹn. Thôi được, bà cứ về đi, hai tuần sau, tôi sẽ chuyển kết quả điều tra sang Tòa án. Họ sẽ thông báo về chùa Giác Minh.
Tôi về chùa báo tin cho thầy Đức Nghiệp, và thưa thầy khi có giấy báo của Viện Kiểm sát, thầy cho tôi biết, tôi sẽ lên Tòa án Sài Gòn nhắc nhở họ.
Một tuần sau thầy Đức Nghiệp trao cho tôi tờ giấy báo kết quả Viện Kiểm sát trả lời. Cầm tờ giấy của Viện Kiểm sát, tôi đến Tòa án hỏi họ về kết quả điều tra bên Viện Kiểm sát đã có một tuần rồi, vậy bao giờ Tòa án mới đem vụ án thầy Đức Nhuận ra xử. Bà chánh văn phòng rất khó chịu, bà gay gắt hỏi tôi:
– Cô có liên quan gì đến ông thầy này mà đến đây hối thúc chúng tôi. Vụ án chính trị này rất quan trọng, chúng tôi phải điều tra thật kỹ mới đem ra xử được.
– Thưa bà, Thượng tọa Đức Nhuận là bậc chân tu, thầy rất hiền lành đạo đức, thầy đã bị bắt hơn hai năm rồi mà không được chính thức thăm nuôi. Thầy bị bệnh rất nặng, chúng tôi không biết thầy sống chết ra sao, anh em thầy ở ngoài Bắc. Tôi là Phật tử chùa Giác Minh, cũng là con nuôi thầy, tôi phụ với thầy Trụ trì, làm đơn xin quí tòa đưa thầy Đức Nhuận ra xét xử. Nếu thầy có tội, xin quý vị cứ xử đúng pháp luật, nếu thầy không có tội thì thả thầy ra. Thầy bị bắt đã hơn hai năm rồi, tôi không tin là quý vị chưa điều tra xong.
Bà ấy mời tôi ngồi, rồi hỏi nhẹ nhàng hơn: Cô nói cô là con nuôi ông ấy, giấy tờ chứng minh con nuôi đâu?
Tôi nói: Thưa bà, con nuôi một vị sư làm gì có giấy tờ. Thầy có rất nhiều con nuôi, nhưng giờ phút này thầy bị bắt, họ xa lánh hết rồi.
– Vậy sao cô không chạy đi như họ. Cô có biết liên quan đến vụ chính trị lớn này rất nguy hiểm không?
– Tôi biết. Tình đời, lúc người ta vinh hoa phú quý, kẻ đón người đưa, lúc người ta gặp hoạn nạn thì cao chạy xa bay hết. Tôi biết thầy Đức Nhuận lúc tôi sinh hoạt gia đình Phật tử. Thầy là bậc uyên thâm, đạo đức, nhân hậu, thầy dạy dỗ đạo đức và thường giúp đỡ những bạn nghèo khó chúng tôi. Với niềm biết ơn đó, lương tâm không cho phép tôi làm ngơ trước nỗi thống khổ của thầy. Nếu tôi không làm đơn xin Tòa án xử, thầy có án rõ ràng để chúng tôi được thăm nuôi, lo thuốc men thực phẩm đầy đủ cho thầy sớm có ngày về, thì ai sẽ làm việc này đây? Tôi tin quý vị sáng suốt, công lý phân minh, quý vị sẽ không bắt nhầm một cô giáo gầy ốm, ngoài giờ dạy học, tôi phải buôn bán thêm đến tối khuya mới về, kiếm thêm chút gạo nuôi bảy đứa con còn nhỏ và người chồng bệnh hoạn đang trông cậy vào tôi.
Bà chánh văn phòng nhìn tôi thật lâu rồi ôn tồn nói:
– Thời bây giờ mà có một người trung hậu như cô thật hiếm lắm. Cách đây không lâu, Phật giáo cũng xảy ra một vụ lớn hơn bây giờ nhiều. Vậy mà chúng tôi không thấy một Phật tử nào đứng ra can thiệp. Mọi chuyện xảy ra êm thấm. Vụ này chỉ có một ông Thượng tọa thôi, cô tự nhiên ở đâu xuất hiện một cách kiên trì. Chúng tôi định bắt giữ cô để điều tra, nhưng xét hoàn cảnh cô quá khó khăn, cô lại có vẻ ngây thơ, hiền lành. Nếu cô là đồng bọn, thì cô đã cao chạy xa bay rồi. Thế nên chúng tôi để yên cho cô tự do đi lại. Thật lòng tôi rất quý mến cô, nhìn cô có vẻ chịu đựng, kiên trung, chân thật và có trình độ nữa. Tổ chức nào họ sử dụng cô, họ cũng khéo chọn người. Nếu tôi là Trưởng ban Tình báo, tôi sẽ chọn cô đầu tiên. Cô có vẻ ngây thơ, chịu đựng và nhẫn nại. Không ai có thể nghi ngờ cô lại can đảm và kiên cường đến vậy. Nhưng, cô còn ngây thơ lắm, cô không thể lường được sự khốc liệt khi dính vào chính trị đâu. Ông thầy này bị bắt, sẽ có nhiều người lo cho ông ấy. Còn cô, nếu cô bị bắt, thân hình gầy yếu của cô có chịu nổi cảnh tù đày không? Còn chồng con cô nữa, ai sẽ kiếm tiền nuôi nấng, chăm sóc, cho các con cô đi học. Cùng thân phận phụ nữ, tôi khuyên cô về đi, đừng tham gia vào vụ này nữa, để cho nhà nước họ giải quyết.
Tôi chăm chú nghe bà ấy nói với ánh mắt biết ơn. Đợi bà ấy nói xong, tôi mới nhẹ nhàng trả lời:
– Em cảm ơn chị đã có lời khuyên bảo em, nhưng em phải trả lời câu nói của chị: Tổ chức nào đã khôn khéo sử dụng em – Không có tổ chức nào sai khiến hoặc sử dụng em cả. Em làm việc này là do tấm lòng biết ơn, lương tâm không cho phép ngoảnh mặt làm ngơ trước hoạn nạn của thầy. Tình cảm thầy trò chỉ thể hiện lúc khốn khó này thôi. Em mong chị nhắc nhở Tòa án sớm đưa thầy ra xét xử.
– Được rồi, cô về đi. Vụ án này sẽ sớm được đưa ra xét xử.
Tôi đứng lên lễ phép chào bà, không quên lời cảm ơn chân tình của bà.
– Tôi biết bề ngoài cô tỏ ra ngoan ngoãn nghe lời, nhưng ra khỏi đây, đường cô cô vẫn kiên trì tiến bước. Bà ấy nhìn tôi, mỉm cười.
Khoảng sáu tháng sau. Vụ án các nhà văn như Doãn Quốc Sĩ… được mang ra xử, mà vụ án thầy Đức Nhuận vẫn không thấy, tôi đến văn phòng Tòa án, xin gặp ông Chánh án. Họ từ chối, nói ông Chánh án đi họp. Tôi đợi cho đến khi tan sở. Ngày hôm sau, tôi đến phòng Tiếp Dân viết tờ đơn xin gặp ông Chánh án để xin ông giải thích: Tại sao vụ án chính trị các Văn Nghệ Sĩ được Tòa xét xử, mà thầy Đức Nhuận, một Thượng tọa uyên thâm, đạo đức lại bị giam cầm hơn ba năm rồi, không được gặp mặt, thăm nuôi mà Tòa vẫn chưa mang ra xét xử. Tôi tin tưởng luật pháp nhà nước sáng suốt, công minh, lo cho dân, vì dân, hãy giải thích sáng tỏ để cho chúng tôi tin tưởng.
Nửa tiếng sau, một nhân viên mời tôi vào văn phòng Thẩm phán. Trong phòng chỉ có mình ông ngồi sau chiếc bàn làm việc. Thấy tôi bước vào, ông đứng lên mời tôi ngồi xuống chiếc ghế tiếp khách. Ông ngồi ghế đối diện, rót nước mời tôi. Ông nhìn tôi, mỉm cười thân thiện rồi nhẹ nhàng hỏi tôi:
– Bà đến đây để xin gặp ông Chánh án về việc gì vậy?
– Thưa ông, tôi muốn biết Tòa bao giờ mới đem thầy Đức Nhuận ra xét xử, thầy bị bắt đã gần ba năm rồi, không được gặp mặt thăm nuôi. Chúng tôi không rõ tính mạng thầy ra sao, chúng tôi chỉ yêu cầu quí vị mang thầy ra xét xử. Nếu thầy có tội thì cứ thi hành theo pháp luật, nếu thầy vô tội thì thả thầy ra, chúng tôi không xin khoan hồng.
– Ông Chánh án vắng mặt, tôi sẽ thay ông trả lời bà. Trước khi trả lời về nhà sư Đức Nhuận, chúng tôi muốn biết lý lịch và sự liên hệ của bà với vị này.
Tôi khai báo cho ông ta nghe lý lịch của tôi, của toàn bộ gia đình và hoàn cảnh sống của chúng tôi. Sau đó tôi trình bày lý do tôi khiếu nại cho thầy Đức Nhuận. Tôi kể rằng tôi quen biết Thượng tọa Đức Nhuận lúc tôi còn nhỏ, khi tôi sinh hoạt gia đình Phật tử chùa Giác Minh. Nơi đó, chúng tôi quen biết nhiều thầy. Thầy Đức Nhuận phụ trách dạy giáo lý, đạo đức cho Gia đình Phật tử chúng tôi. Thầy rất nhân từ, hay giúp đỡ những người nghèo khó, nhất là các học sinh có hoàn cảnh khó khăn, có tôi trong đó. Lòng biết ơn thầy đã thôi thúc tôi làm đơn xin quý vị sớm đưa thầy ra xét một cách công minh.
Tôi nhìn ông thành khẩn: Hôm nay được gặp ông tôi rất mừng. Vì phong cách của ông toát ra vẻ phóng khoáng, nhân từ và quang minh chính đại. Tôi hy vọng ông lắng nghe những lời chân thật của tôi, mau đưa vụ án này ra xét xử. Chúng tôi cầu nguyện cho gia đình ông gặp nhiều điều tốt lành, phúc đức.
Ông ta chăm chú nghe tôi nói. Khi tôi dứt lời, ông nhìn tôi thật lâu rồi nhẹ nhàng hỏi:
– Bà có nhận xét gì về ông Đức Nhuận, bà có hay đến thăm ông ấy không, ông ấy quan hệ với những ai, tình cảm của bà đối với ông ấy thế nào.
– Thưa ông, thầy Đức Nhuận là bậc chân tu, trí tuệ uyên thâm về Phật pháp, nghiêm trì giới luật, thầy gần như không tiếp xúc với Phật tử và khách đến thăm. Hồi còn sinh hoạt gia đình Phật tử, tôi hay đến thăm thầy để nghe thầy giảng về giáo lý Phật đà, được nghe thầy đọc thơ và những bài thầy viết, bình luận văn học và Phật học. Khi tôi lớn lên, đi làm để phụ giúp gia đình và nhất là khi đã lập gia đình, tôi không đến thăm thầy, nên không biết gì về sinh hoạt của thầy.
– Còn thầy quan hệ với những ai, tôi không hay biết. Sau năm 1975, tôi không liên hệ với người thân quen, vì cuộc sống quá khó khăn, tôi phải dồn hết sức vào việc dạy học và buôn bán nuôi các con tôi.
– Còn tình cảm của tôi đối với thầy, chỉ là tình thầy trò, một vị thầy tinh thần dạy dỗ, hướng dẫn chúng tôi về đạo lý, chân thiện mỹ. Thầy đã giúp chúng tôi thời học sinh, lúc chúng tôi gặp nhiều khó khăn. Bây giờ, thầy bị nạn, tôi mang hết chân tình ra đền đáp ơn thầy. Chuyện giữa tôi với thầy chỉ có bấy nhiêu thôi. Mong ông lắng nghe và thực hiện những lời yêu cầu chân thành của chúng tôi.
Ông rót trà mời tôi, với nét mặt cởi mở, giọng nói ấm áp của người Hà Nội, ông nói cho tôi nghe về chính sách của nhà nước đối với nền giáo dục, về an sinh xã hội, nhất là đối với tôn giáo. Nhà nước luôn thực hiện tinh thần đoàn kết, tình thương xóa bỏ hận thù, thực hiện tinh thần công bằng và dân chủ, một nền pháp trị sáng suốt, công minh… tuy nhiên không bỏ lọt tội phạm, vân vân.
Ông ta nói về Phật giáo một cách hăng say, như một vị giảng sư lỗi lạc. Ông ta còn nhắc đến nhà Lý, nhà Trần. Ông ta hùng hồn: Bây giờ đất nước đã thống nhất, Đảng và nhà nước cũng mong xây dựng một đất nước hòa hợp, hòa bình trong tinh thật Phật giáo thống nhất về một mối. Nét mặt ông rạng rỡ, bừng sáng, thao thao bất tuyệt khi nói về Đảng, Tôi mỉm cười cảm ơn ông và nhắc lời ông hứa sẽ mang thầy Đức Nhuận ra Tòa án xét xử. Ông nói với tôi ra giêng trong thời gian sớm nhất.
Lúc đó là gần Tết, khoảng ngày 23 tháng chạp, tôi xin ông ký cho tôi tờ giấy vào khám Chí Hòa thăm nuôi, được gặp mặt thầy Đức Nhuận. Ông từ chối, nói rằng thăm nuôi một phạm nhân chính trị tội nặng như thầy phải là Tứ thân phụ mẫu, còn tôi chỉ là một Phật tử, không được phép gặp mặt. Tôi nài nỉ hết sức mà ông cương quyết không nghe.
Cuối cùng, tôi nhìn thẳng vào mắt ông, giọng chùng xuống, nói một cách tha thiết:
– Thưa ông, khi bước chân vào đây, nhìn ông có nét mặt nhân từ, có phong cách thanh cao, lịch lãm của người trí thức Hà Nội, tôi rất ngưỡng mộ ông, tôi thầm cảm ơn Trời Phật đã cho tôi gặp một vị cán bộ chân chính, sáng suốt, có nhân cách phục vụ nhân dân. Tôi tin thầy Đức Nhuận sắp được ánh sáng công lý soi xét rồi. Bây giờ tôi chỉ xin ông một tờ giấy thăm nuôi, gặp mặt thầy, tiếp tế thuốc men và thực phẩm cho thầy đầy đủ, để đến khi ra Tòa án trông thầy khỏe mạnh, các ông sẽ được tiếng khen là nhà tù xã hội chủ nghĩa đối xử với phạm nhân chu đáo. Hơn nữa, thầy bị đau dạ dày, xuất huyết rất nặng. Nếu ông cố chấp, tiếc một chữ ký, không cho chúng tôi gặp mặt thầy, thầy có mệnh hệ gì, nhà nước sẽ chịu trách nhiệm và gia đình ông sẽ không được hưởng một cái Tết hạnh phúc đâu.
Sau khi nghe tôi nói câu ấy, ông tái mặt nhìn tôi rồi chấp thuận cấp cho tôi tờ giấy phép thăm nuôi thầy vào ngày mồng năm Tết. Lạy đức Bồ Tát Quán Âm, ngài đã ứng hiện vào lời nói của con. Tôi mừng đến rưng rưng nước mắt, cầm tờ giấy rồi cảm ơn ông. Tôi trở về chùa Giác Minh, trao cho thầy Đức Nghiệp tờ giấy được gặp mặt thầy Đức Nhuận vào ngày mồng năm Tết.
Tháng giêng năm 1987, Ngày mồng năm Tết, Thượng tọa Đức Nghiệp và tôi vào khám Chí Hòa thăm thầy Đức Nhuận. Thầy bước ra từ căn phòng đã cũ, không có bàn ghế. Chúng tôi đứng dưới mái hiên, gặp thầy qua song sắt đã hoen rỉ. Dáng thầy đi liêu xiêu, thân hình gầy ốm như cây sậy, nước da trắng bệch, nhưng ánh mắt thầy sáng rỡ khi nhìn thấy chúng tôi. Thầy xúc động, không nói thành lời, chỉ thấy nụ cười của thấy hiền lành nở trên đôi môi tái mét. . Tôi chắp tay chào thầy, nhìn thật lâu. Ánh mắt chứa ngàn lời, như muốn san sẻ nỗi đau tinh thần và thể xác thầy đã chịu đựng suốt ba năm bị giam cầm trong ngục tối. Hai thầy nói chuyện khoảng mười phút thì người công an báo tin đã hết giờ. Tôi đứng lặng yên nhìn thầy mà nước mắt rưng rưng. Một nỗi chua xót trào dâng qua vần thơ:
Thầy đứng trong song sắt,
Con đứng dưới mái hiên
Chỉ xa nhau gang tấc
Mà ngăn cách vô biên.
(Còn Tiếp)

