CHÂN Y NGHIÊM: NHƯ MỘT DÒNG SÔNG (HỒI KÝ) – KỲ 14: PHIÊN TÒA XỬ CÁC NHÀ SƯ/NHỮNG LẦN GẶP GỠ THẦY TUỆ SỸ

Cờ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

PHIÊN TÒA XỬ CÁC NHÀ SƯ

Tháng 9 năm 1988, Tòa án Sài Gòn bắt đầu xét xử nhóm Tu sĩ Phật giáo, người đầu tiên là Tu sĩ Đồng Văn Kha tức là Thích Đức Nhuận.

Phiên xử được tổ chức rất cẩn mật. Mỗi gia đình bị cáo chỉ được một tấm phiếu vào dự phiên tòa. Thầy Đức Nghiệp được hai tấm phiếu, thầy cho tôi một tấm và bảo tôi đến Tòa án Sài Gòn dự phiên xử thầy Đức Nhuận.

Tòa án được canh gác rất chặt chẽ. Công an đứng canh rải rác khắp ngã ba, ngã tư đường vào Tòa án. Người đến dự phiên xử là thân nhân ruột thịt của các bị cáo. Bước qua cổng, bảo vệ xét giấy CMND, họ nhìn tôi như dò xét, hỏi tôi thăm ai. Tôi thản nhiên trả lời:

– Tôi thăm thầy Đức Nhuận.

– Cô có liên hệ gì với ông thầy này. Ông ấy tội phản động. Âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân.

– Tội thì có Tòa xử. Tôi có giấy mời đến dự, yêu cầu ông để tôi vào.

Nói xong, tôi đi về phía tòa nhà. Trong sảnh đường, người đến dự khá đông, đa số người miền Trung, có lẽ chỉ có thầy Đức Nghiệp và tôi là người miền Bắc. Những phần thủ tục của phiên tòa đã xong.

Tôi thấy công an dẫn thầy Đức Nhuận, tiếp theo là một sư cô, khuôn mặt khá đẹp và thông minh, tiếp đến là hai vị Tăng sĩ, dáng gầy như bộ xương khô, chỉ có đôi mắt là sáng rực rỡ, quắc thước. Rồi nhiều người được công an dắt vào chỗ ngồi, khoảng hơn hai chục người, đa số là tăng sĩ.

Viên thư ký mở sổ, gọi tên  Đồng Văn Kha (Thích Đức Nhuận). Hai viên công an dắt thầy lên đứng vào vành khung dành cho bị cáo. Viên Chánh án hỏi thầy một số vấn đề có liên can đến Phạm Văn Thương -Thích Tuệ Sỹ, đến Hòa thượng Thích Đôn Hậu và một vài nhà văn và nhân sĩ. Thầy điềm đạm trả lời mình có liên hệ với những vị này, nhưng chỉ là vấn đề Phật sự, còn các vị nhà văn và nhân sĩ thỉnh thoảng có đến thăm thầy, chỉ là vấn đề nghệ thuật, văn học… Sau hai mươi phút đối đáp với viên Chánh án, thầy về chỗ ngồi.

Người thứ hai là sư cô Tôn Nữ Phùng Khánh -Thích Nữ Trí Hải. Bị gọi lên với tội danh là liên hệ mật thiết với Thích Tuệ Sỹ và Thích Trí Siêu, thường xuyên giúp đỡ tiền cho hai người này để tổ chức chống phá Cách Mạng. Sư cô có phong thái điềm tĩnh trả lời Chánh Án:- Tôi với thầy Tuệ Sỹ là huynh đệ đồng môn. Tôi coi thầy như em, chúng tôi thỉnh thoảng trao đổi về đạo pháp, cả hai chúng tôi đều nghiên cứu dịch thuật. Thầy Tuệ Sỹ sức khỏe yếu, thỉnh thoảng tôi có giúp thầy ít tiền để thuốc thang. Tôi không thích chính trị vì nó mang tính cách bạo động. Thầy Tuệ Sỹ là một vị chân tu rất giỏi, thầy thông thạo nhiều ngoại ngữ và cổ ngữ, là một bậc thông tuệ của Phật giáo. Tôi thường nói với thầy:

– Phật giáo gắn liền với dân tộc. Phật giáo còn thì dân tộc còn. Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và dân tộc. Nếu thầy vì thương đồng bào nhất thời, là thầy đã tự hủy diệt viên ngọc quý của dân tộc.

Khi đến người thứ ba,  Lê Mạnh Thát (Thích Trí Siêu), thầy bị hỏi về liên hệ với Phạm Văn Thương và Đồng Văn Kha, rằng thầy có thấy Hòa thượng Thích Đôn Hậu, cấu kết với Phạm Văn Thương và đồng bọn  việc tổ chức  hung khí để âm mưu lật đổ chính quyền hay không? Giọng thầy nhỏ, tôi nghe tiếng được tiếng mất:

– Tôi là thị giả Hòa thượng Đôn Hậu, tôi có tháp tùng Hòa thượng đến chùa Giác Minh thăm Thượng tọa Đức Nhuận, tôi đã được nghe hai vị thường bàn luận với nhau về  Giáo hội Phật giáo Thống nhất.

Người thứ tư là Phạm Văn Thương – Thích Tuệ Sỹ. Tôi nhận ra chú Tuệ Sỹ ngày xưa đã gặp ở trường Cao đẳng Phật Học, tức chùa Pháp Hội cũ.  Lúc đó tôi làm Thư ký Ban Tu thư Phật học. Tôi nhìn thấy một vị tăng gầy còm, dáng người  cao, gương mặt xương xương để lộ đôi mắt tinh anh, sáng quắc, đang bước tới cái khuôn gỗ vòng cung dành cho bị cáo. Thầy bước đầu ngẩng cao, nét mặt ung dung bình thản của một thiền sư, và tư thế một con sư tử, thong thả mà dũng mãnh uy liệt. Thầy lắng nghe viên Chánh án đọc tội trạng của mình dài ba trang giấy. Đọc xong, ông ta hỏi thầy có thắc mắc, phản đối điều gì không.

Thầy nhìn thẳng mắt ông ta, dõng dạc trả lời:

 – Phần ông kết án tôi, tôi không hề chối hoặc phản đối. Bây giờ tới phần tôi trả lời, tôi yêu cầu ông không được ngắt lời khi tôi đang nói.

Phần một – Tôi là một tu sĩ Phật giáo chân chính của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Giáo hội này được thành lập ngày 31 tháng 12 năm 1963, đại diện 11 tông phái và hội Phật giáo Bắc tông và Nam tông đã cùng nhau họp tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn, để soạn thảo Hiến chương thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Cương lĩnh tổ chức Giáo hội rất nghiêm mật trong tinh thần đạo Phật, không có thế quyền can thiệp vào.

– Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa xâm chiếm miền Nam, các ông đã mang đến cho đồng bào rất nhiều đau khổ. Các ông đã dùng chính sách tàn ác, bóc lột nhân dân, cướp nhà cửa, tài sản của họ và phương tiện để xây dựng cuộc sống. Các ông đã áp dụng chính sách ngăn sông cấm chợ, áp dụng chế độ tem phiếu cho những người phục vụ chế độ được mua lương thực. Còn nhân dân họ phải mua giá chợ đen. Toàn dân nghèo lâm vào cảnh đói khổ.

– Về tôn giáo, các ông đã thành lập ra Giáo hội Quốc doanh để Ban Tôn giáo quản lý. Còn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất các ông đã cấm đoán bắt bớ, triệt tiêu những vị tu hành chân chính.

– Quốc gia suy vong, thất phu hữu trách. Tôi không thể ngồi yên tu hành khi thấy toàn dân thống khổ.

– Thế nên tôi đã cởi áo thầy tu, đứng ra vận động các anh em cùng nhau tranh đấu, đòi công bằng cho toàn thể nhân dân. Các anh em, họ chỉ ủng hộ tôi. Tất cả tội các ông quy trách, tôi xin nhận lãnh tất cả mọi trách nhiệm.

 Trên bàn bồi thẩm, viên Chánh án đập cái chày rất mạnh yêu cầu phạm nhân ngưng phát biểu, nhưng thầy vẫn dõng dạc tuyên bố:

– Các ông đã dùng những ngôn từ xảo trá để lừa dối đồng bào miền Nam. Các ông kêu gọi các sĩ quan, công chức đăng ký đi học tập 3 tuần, hiểu rõ chính sách khoan hồng của nhà nước để cùng nhau xây dựng đất nước giàu mạnh trong tinh thần đoàn kết dân tộc. Nhưng sau đó các ông đưa họ đi tù, đày ải những nơi rừng thiêng nước độc, họ sống không bằng chết. Có nhiều sĩ quan, công chức, Linh mục, Tăng sĩ đã bỏ xác nơi trại tù cải tạo.

 – Các ông đã cướp hết tài sản của nhân dân bằng cách đổi tiền khiến họ mất hết, nhiều người đã tự tử. Các ông đã thi hành chiến dịch đánh tư sản mại bản, cướp nhà, xô đuổi gia đình họ đi kinh tế mới…

Trên bàn chủ tọa, viên chánh án giận dữ đập cái chày xuống bàn, la hét công an kéo thầy về chỗ ngồi, ông tuyên bố ngừng phiên tòa, đến chiều họp tiếp.

Thầy gạt tay mấy viên công an, bình thản về chỗ ngồi, nét mặt không tỏ vẻ căng thẳng của một viên tướng vừa mới tranh đấu cho ý thức hệ nhân bản của toàn dân, mà khuôn mặt xương xương thoát lên vẻ thanh thản, từ ái.

Tôi ngồi trong đám thân nhân các phạm nhân, lắng nghe những lời phản biện của thầy nói thong thả, dõng dạc, uy lực của con voi chúa. Từng lời nói của thầy như lưỡi gươm kim cương chém từng nhát vào chính sách phi nhân tính của nhà nước bạo quyền cộng sản.

Thầy Tuệ Sỹ ơi, con rất hãnh diện về thầy, một Tăng sĩ còn trẻ, thân hình gầy ốm mà có trái tim yêu quê hương, dân tộc, hy sinh sự bình an của mình, chứng tỏ tinh thần UY VŨ BẤT NĂNG KHUẤT, để giành lại công bằng cho đồng bào miền Nam.

Phiên tòa buổi chiều, nhân viên Viện Kiểm sát đọc tội trạng của bốn phạm nhân:

1/ Đồng Văn Kha (Thích Đức Nhuận) phạm tội âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, nhận án 10 năm tù giam. Ba năm quản chế.

Thầy Đức Nhuận trong thời gian lao tù, bệnh xuất huyết dạ dày, không ăn uống. Ngồi trong phòng xử án, không có nước uống, nên thầy đã ngất xỉu. Mấy viên công an khiêng thầy ra ngoài.

 2/ Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh, tiếp tay với đồng bọn Phạm Văn Thương, hàng tháng cung cấp tiền bạc để củng cố chống phá Cách Mạng, bị 4 năm 160 ngày tù giam.

Tôi nhìn sư cô Trí Hải, thấy nhẹ lòng cho cô. Vì cô đã bị chúng bỏ tù trước đó hơn bốn năm nên ngày hôm đó cô cũng mãn hạn tù.

3/ Lê Mạnh Thát cùng Phạm Văn Thương có tổ chức âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân. Tòa tuyên án Tử Hình.

4/ Phạm Văn Thương, lãnh đạo nhóm Tu sĩ Phật giáo phản động, có tổ chức hung khí, có đề cương hoạt động với âm mưu lật đổ chính quyền Cách Mạng. Tòa tuyên án Tử Hình.

Như tiếng sét đánh nổ tung trong đầu, tôi muốn hét thật to để cả thế giới biết phiên tòa lịch sử này. Thầy Đức Nhuận của chúng tôi, một vị chân tu uyên thâm, đạo đức. Thầy đã dấn thân cả cuộc đời cho đạo pháp, dân tộc. Thầy chưa hề có lỗi với ai, mà sao nhà nước cộng sản lại kết án thầy mười năm tù khi thầy tuổi già sức yếu?

Còn hai thầy Mạnh Thát và Tuệ Sĩ, hai vị Tu sĩ uyên bác của Phật giáo và dân tộc, hai vị này chưa hề sát hại một ai, họ chỉ thay mặt đồng bào, đứng lên yêu cầu nhà nước Cách Mạng thi hành chính sách công bằng, cởi mở mà họ đã hứa hẹn với  dân, lo cho đời sống toàn dân có tự do, hạnh phúc và ấm no, cho tôn giáo được sinh hoạt theo đúng nội quy giáo lý mà không bị quản chế bởi thế quyền.

Họ có kêu gọi nhân dân biểu tình lật đổ chính quyền Cách Mạng đâu, mà sao các ông lại tuyên án tử hình hai vị Tăng sĩ trẻ, tài trí vẹn toàn của dân tộc và Phật giáo? Phiên tòa này sẽ đi vào lịch sử, là vết nhơ của chế độ bạo quyền, sẽ bị nguyền rủa ngàn vạn năm sau, các ông có biết không.

Tiếp những ngày sau, Tòa tiếp tục xử những vị tu sĩ đã tham gia vào tổ chức của hai thầy Mạnh Thát và Tuệ Sỹ, người bị nhiều nhất là 8 năm, người nhẹ nhất là 3 năm.

Ôi, tiếng kêu thống thiết của đồng bào miền Nam, của hàng vạn tù binh sĩ quan cải tạo, của những gia đình doanh nhân, tư sản… kết tủa thành âm thanh thê thiết tản mạn khắp bầu trời quê hương mẹ Việt Nam.

 Ngày hôm sau, (xảy ra vụ xét xử án Sơ thẩm), tôi vào khám Chí Hòa xin thăm thầy Đức Nhuận.

Công an coi sóc những tù nhân bị xét xử ngày hôm qua tại Tòa án Nhân dân Thành phố, vụ Tăng sĩ Phật giáo Phản đối Chính sách Đảng Cộng Sản. Họ vào trại điểm danh không có tên Đồng Văn Kha. Họ ra bãi xe tìm xe chở tù nhân thì phát giác ra thầy đang nằm thở mệt mỏi trên ghế cuối xe.

Thì ra tối qua, chở tù nhân về khuya quá, họ quên điểm danh nên bỏ quên thầy trên xe.

Tôi về, báo tin cho sư cô Trí Hải và thầy Đức Nghiệp biết. Sư cô nhờ tôi mang vào khám Chí Hòa cho thầy thuốc bổ của Pháp, hộp sữa bột và hộp thuốc cảm cúm.

Chỉ ngần ấy thôi, tình đồng môn đã gắn kết quý vị tu sĩ thành một bó đuốc keo sơn, một khối đoàn kết bảo vệ Phật giáo và dân tộc. Nhưng, hỡi ôi, bó đuốc trong đêm đen u tối mênh mông, đã không chống đỡ nổi cơn cuồng phong đang tàn phá Phật pháp quê nhà.

NHỮNG LẦN GẶP GỠ THẦY TUỆ SỸ – TẠO NÊN MỐI THÂM TÌNH

Mọi người đều tôn vinh ngài Tuệ Sỹ là Trưởng lão Hòa thượng, nhưng tôi đã xin phép được  gọi ngài là thầy Tuệ Sỹ, với niềm tôn kính, ấm áp, thương yêu. Bởi vì tôi đã gặp thầy hơn 60 năm về trước, trong khuôn viên trường Cao đẳng Phật học, do Hòa thượng Thích Trí Thủ và Hòa thượng Thích Nhất Hạnh sáng lập năm 1964 tại chùa Pháp Hội.

Lúc đó thầy Nhất Hạnh giao cho tôi phụ trách Ban Tu thư Phật giáo do thầy chỉ đạo. Nơi ấy tôi đã sống những ngày thật hạnh phúc trong tình đạo vị. Thầy Nhất Hạnh đã chỉ dạy tôi rất nhiều trong nghiệp vụ thư ký, soạn thảo những văn bản, tác phẩm văn hóa, đạo học do các học giả từ ngoại quốc gửi về. Nơi đó tôi đã gặp các vị tu sĩ hiền hòa, thông minh như thầy Châu Toàn, thầy Thanh Tuệ, thầy Thanh Văn… và thầy Tuệ Sỹ. Lúc ấy tôi gọi thầy là chú Tuệ Sỹ, bởi vì thân hình chú gầy ốm, mặc bộ áo lam cũ, khuôn mặt nhỏ, chỉ có đôi mắt sâu thẳm, sáng quắc, lộ vẻ tinh anh.

Thầy hiền và ít nói. Thỉnh thoảng thầy có ghé bàn giấy tôi làm việc để gửi bài cho báo Hải Triều Âm. Tôi có ngồi nói chuyện với giáo sư Phạm Công Thiện – lúc đó đang là Tăng sĩ Phật giáo- được  vài lần . Thầy Phạm công Thiện và cả thầy Nhất Hạnh hay nhắc đến chú Tuệ Sỹ với những lời khen ngợi. Thời gian ấy tôi và chú chưa giao thiệp nhiều.

Lần thứ hai tôi gặp thầy Tuệ Sỹ ở trại cải tạo Hàm Tân, khi tôi vào thăm nuôi thầy Đức Nhuận. Lúc đó tôi chỉ chào thầy với ánh mắt kính ngưỡng, không nói được điều gì.

Lần thứ ba tôi gặp thầy ở chùa Già Lam, năm 2003, nhân ngày tôi đi viếng đám tang Ni sư Thích Nữ Trí Hải, tôi ghé thăm thầy. Chúng tôi rất mừng khi gặp lại nhau, dù trước đó cả hai chưa hề nói chuyện với nhau.

Thầy cười rạng rỡ khi nhìn thấy tôi. Tôi chắp tay chào thầy, câu đầu tiên tôi nói với thầy:

– Thưa thầy, trước đây con gặp thầy ở chùa Pháp Hội, lúc đó con gọi thầy là chú Tuệ Sỹ một cách thân thương. Bây giờ sau mấy chục năm, con vẫn thấy thầy nhỏ con và gầy như vậy. Hôm gặp thầy trong phiên xét xử ở Tòa án, con rất kính ngưỡng và thương thầy. Hôm nay gặp lại thầy, con mừng lắm. Con vẫn muốn gọi thầy là chú Tuệ Sỹ, để ghi nhớ mãi tình cảm kính trọng và ấm áp con dành cho thầy. Thầy có vui lòng để con gọi thầy là chú Tuệ Sỹ không?

Thầy cười rất tươi, gật đầu.

– Được lắm chứ. Tôi muốn trẻ mãi như ngày xưa ấy.

Thầy rót nước mời tôi. Thầy bắt đầu hỏi chuyện tôi:

– Sư cô xuất gia lâu chưa, sao không thấy sư cô Trí Hải nhắc về cô xuất gia.

– Thưa thầy, con xuất gia được năm năm rồi. Sư ông Làng Mai đón con sang Pháp và thế phát cho con. Pháp danh của con là Chân Y Nghiêm. Con về Việt Nam hơn một năm. Hiện giờ con cất cái Am ở Long Thành, con tiếp tục làm chương trình học bổng cho Tăng ni và các cháu sinh viên học sinh nghèo hiếu học, ngoài ra chúng con giúp cho các cụ già cô đơn và các cháu mồ côi tàn tật.

Vẫn ánh mắt sáng rỡ, ẩn chứa tấm lòng độ lượng, khí phách của bậc thiền sư nhập thế, thầy kể tôi nghe về Hòa thượng Thích Đức Nhuận, bậc thầy đạo hạnh, chân tu.

– Thầy Đức Nhuận có kể cho tôi nghe về cô Thuần, một phật tử kiên trung với đức Phật và Đạo Pháp. Cô ấy đã xả thân vào chốn pháp đình, làm đơn yêu cầu nhà cầm quyền đưa vụ án Phật giáo ra xét xử, nhờ vậy họ mới đưa chúng tô ra tòa để kết án. Thầy nhắc đến sư cô Trí Hải, cô ấy gọi cô là: Thuần điếc không sợ súng.

– Tôi cười, thưa thầy: – Con cũng sợ súng đạn lắm chứ, nhất là con sợ người ta đánh con đau. Nhưng con có niềm tin vào đức Quan Âm, con tin ngài sẽ che chở cho con. Mỗi lần gặp họ, con đã nhìn sâu vào lòng bàn tay, niệm chú Tâm Kinh Bát nhã, xin ngài truyền cho con đức Vô úy và sự bình an, nhờ tâm chí thành mà con đã vượt qua bao hiểm nguy, thuyết phục được họ. Họ nói nhiều lần họ muốn bắt con để điều tra, nhưng thấy con chân thật, nghèo mà đông con quá, nên họ bỏ qua cho con.

– Bây giờ con đã đạt được ước mơ đi xuất gia để giúp đỡ các trẻ mồ côi, con vui lắm. Con được làm học trò của Sư ông Làng Mai, con thấy mình thật may mắn. Dù sống xa thầy bổn sư, nhưng con vẫn cố gắng tu học, để mãi mãi con được làm đệ tử của Sư ông.

Thầy lắng nghe tôi kể chuyện một cách hồn nhiên. Trước mắt thầy, tôi vẫn như cô Thuần ngày nào làm Ban Tu thư Phật giáo, quanh năm mặc chiếc áo dài màu tím, nét mặt phảng phất buồn.

Thầy kể tôi nghe những ngày tháng thầy ở trong tù, tuy bị đày ải, nhưng tâm hồn thầy vẫn bình an. Ngoài giờ lao động, thầy vẫn ngồi thiền, quán tưởng về kiếp sống nhân sinh. Thầy vẫn sáng tác, làm thơ. Đời sống trong tù cũng có nhiều ý nghĩa, thầy giúp được nhiều sỹ quan hướng về giáo lý uyên thâm của đạo Phật, chỉ  họ ngồi thiền giải thoát nỗi đau…

Chúng tôi nói chuyện với nhau thật thà, như là tri kỷ. Thầy kể tôi nghe, trong thời gian thầy bị tù đày, những tác phẩm dịch thuật có giá trị của thầy bị sang tên đổi chủ… Câu chuyện chúng tôi kể cho nhau nghe chân tình, tưởng chừng như không muốn chấm dứt. Nhưng sợ làm mất thì giờ của thầy, tôi xin phép thầy về. Vừa mời đứng lên thì, cơn mưa rào trút xuống, thầy nhìn tôi cười, đọc câu thơ cổ:

– Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách. Sắc bất ba đào dị nịch nhân.

Thế là tôi đành ngồi xuống tiếp tục câu chuyện với thầy. Nói chuyện với bậc thiền sư khả kính, phóng khoáng như thầy, tôi rất vui. Tôi đã được thầy trao đạo lý đơn giản làm người, lý tưởng sống thanh cao, tinh thần vô úy trước những bất công, đối xử với con người. Tôi trân trọng lắng nghe những câu chuyện của thầy, nó đơn giản, chân thật, cao thượng, giúp tôi thêm hành trang vào cuộc sống, tô điểm cho khu vườn quê hương thêm xán lạn.

Lần thứ tư tôi gặp thầy ở Đồi Thông Phương Bối (8/1/2007)

Thời gian đó tôi lưu trú tại thành phố Bảo Lộc, trồng cà phê, sống ẩn tu, hạn chế tiếp xúc với mọi người. Điện thoại chú Lão, con trai út của ông Nguyễn Đức Sơn, báo tin, chú sẽ chở thầy Tuệ Sỹ đến thăm tôi. Tôi trả lời chú:

– Không được đâu, chú đừng chở thầy đến đây. Tôi sẽ nhờ Tâm Không chở tôi đến thăm thầy  sáng nay.

Tâm Không chở tôi đến gặp thầy. Thầy vẫn ngồi trên đồi thông đợi tôi. Sau bao năm xa cách, phút giây hội ngộ thật cảm động. Tôi cúi đầu chào thầy, rồi ngồi xuống chiếc chiếu manh trên thảm cỏ. Cả hai chúng tôi đều yên lặng. Những hàng thông cao vút đứng yên giữa bầu trời xanh, xuyên qua kẽ lá những cụm mây trắng bay. Tia nắng ban mai lấp lánh trên từng vạt cỏ chen lấn gốc thông già. Tôi nhìn thầy thật lâu, vẫn thân hình xương xương, đôi mắt ngời sáng vẻ xa xăm, từ ái, vầng trán trí tuệ trên khuôn mặt bậc thiền sư, thoáng chút lãng tử.

Tôi mở lời trước:

– Thưa thầy, đã lâu rồi, hôm nay con thấy thầy vẫn như ngày xưa, không mấy thay đổi.

– Thì tôi vẫn là sư chú đó thôi.

Thầy cười, nét mặt rạng rỡ trong sáng, như bầu trời Phương Bối sáng nay.

 Hai thầy trò chúng tôi nói chuyện với nhau rất nhiều. Chuyện xưa, chuyện nay, chuyện văn học, thơ ca, chuyện đời sống nhân sinh, chuyện về những tác phẩm thầy mới dịch xong, nhiều đến nỗi tôi không nhớ nổi. Duy chỉ có một điều tôi nhớ mãi đến bây giờ:

– Thưa thầy, năm 2005, thầy Nhất Hạnh về thăm Việt Nam, thầy có biết không.

– Lúc đó tôi nhập thất không hay biết chuyện gì xảy ra bên ngoài.

– Thời gian sau thầy Nhất Hạnh cùng vài đệ lớn đến thăm thầy, mà thầy không tiếp.

– Lúc đó tôi vẫn còn đang nhập thất, tôi không thấy ai báo cho tôi biết. Nếu tôi biết thầy Nhất Hạnh đến thăm, tôi sẽ xả thất để gặp thầy, vì thầy là bậc ân sư, tôi rất kính trọng.

Nỗi hoài nghi, băn khoăn đã buông xả hết trong tôi. Tôi không tin những bậc Chân sư tôi kính trọng lại còn vướng mắc những rắc rối thế gian mà quên đi tình Thầy trò Huynh đệ.

Lần gặp thầy thứ năm chiều ngày 9/1/2007

Như còn nhiều điều chưa thông tỏ, chiều hôm sau tôi nhờ Tâm Không chở tôi đến Phương Bối gặp thầy.

Thầy vẫn ngồi trên manh chiếu bên gốc thông già đợi tôi. Đôi mắt thầy ẩn chứa niềm vui.

Tôi chắp tay chào thầy rồi ngồi xuống, cả hai chúng tôi đều im lặng. Cái giây phút im lặng ngọt ngào, thấu hiểu tâm tư trong sáng, như mây trắng bay xuyên qua cành lá thông xanh, thật hạnh phúc. Thầy kể tôi nghe ngày còn nhỏ, vào chùa nhìn thấy đức Phật nét mặt ngài bình an, giải thoát, thầy muốn đi tu. Bố mẹ thầy không cho phép, nhưng thầy vẫn thường đến chùa tụng kinh, ngồi thiền.

Sư trụ trì khuyên bố mẹ thầy nên cho thầy xuất gia do thầy có căn duyên sâu dày từ những kiếp trước. Thấy thầy thông tuệ, làu thông kinh sách, Sư Trụ trì khuyên bố mẹ thầy nên về Việt Nam, trao gửi thầy cho những vị Cao tăng Thạc Đức hương dẫn thầy tu học.

Năm 1961, 16 tuổi, thầy thọ giới Sa-di với Hòa thượng Thích Hành Trụ tại Sài Gòn.

Năm 1964, thầy theo học trường cao đẳng Phật học chùa Pháp Hội và năm đó thầy gặp cô thư ký Ban Tu thư Viện Đại học Phật giáo. Thật không ngờ, năm 1987, cô ấy lại xả thân làm đơn kêu gọi nhà nước đưa Vụ án Phật giáo ra Tòa. Rồi chiều nay, 2007, lại được gặp cô ấy trong Rừng Thông Phương Bối, kể chuyện ngày xưa. Thầy đọc hai câu thơ cổ:

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ.

Vô duyên đối diện bất tương phùng.

Lần gặp mặt chiều nay chúng tôi ít nói chuyện, chỉ ngồi lặng im nghe tiếng thông reo. Rừng Thông Phương Bối rất thơ mộng, mang nét thiền tĩnh lặng. Gia đình ông Nguyễn Đức Sơn đã đổ nhiều mồ hôi, công sức và cả máu nữa để gây dựng, gìn giữ đồi thông thánh địa này. Tôi gọi là Thánh Địa, bởi vì nó được xây dựng bằng tâm huyết, sức lao động và niềm ước mơ của thầy Nhất Hạnh.

Năm 1959, thầy mua miếng đất 25 mẫu này với ý định sẽ tạo nên một Rừng Thiền, mời các vị thiền sư, các vị thức giả về đây cùng nghiên cứu tu học. Thầy sẽ xây dựng một Tăng đoàn mới, gồm các vị tu sĩ trẻ, tu học pháp môn Thiền Chánh Niệm, hành trì nghiêm mật, có mặt trong từng bước chân, trong lúc rửa chén, quét nhà, luôn tỉnh giác mọi lúc, mọi nơi trong phút giây hiện tại.

Thầy sẽ xây dựng Tăng thân Cư sĩ, học hỏi giáo lý của đức Phật Thích Ca. Thầy sẽ tổ chức những khóa tu cho sinh viên, học sinh, hướng dẫn các bạn ấy có một lý tưởng sống vị tha, hiếu thuận với ông bà, cha mẹ và giúp ích cho xã hội…

Lý tưởng cao đẹp chưa kịp thực hiện thì chiến tranh tàn khốc xảy ra. Thầy phải rời bỏ quê hương, và sống lưu vong từ đó.

Gia đình ông Nguyễn Đức Sơn có duyên may được tiếp nhận khu rừng thông này, từ đó họ khai thác trồng thông, gìn giữ mảnh đất rừng với bao nhiêu công sức gian khổ để có được khu rừng thơ mộng như bây giờ. Trong tác phẩm Nẻo về của ý, thầy Nhất Hạnh đã diễn tả những xúc cảm chân thực của thầy, về Phương Bối Am như rừng thánh địa, một huyền thoại văn học tâm linh.

Tôi nói với thầy: Những năm trước, sư cô Chân Không nhờ con về đây, giúp đỡ gia đình ông Sơn. Nên con thường xuyên lui tới, con coi bà vợ ông Sơn và các cháu như người thân thương. Nhờ cháu Lão mà con giữ được sự liên hệ với thầy. Tất cả vạn sự do nhân duyên kết nối. Con cảm ơn Trời Đất đã cho con được gặp gỡ thầy.

Nét mặt ngời sáng, giọng nói mang âm hưởng miền Trung, thầy kể tôi nghe nhiều chuyện buồn vui của nếp sống thiền môn, những thao thức của thầy về đạo pháp, về quê hương đất nước. Tôi cũng đã từng có những thao thức ấy, nên chúng tôi hiểu nhau, dễ cảm thông tâm ý nhau, như dòng sông chảy về một hướng.

 Nhìn vạt nắng đã ngả màu, tôi xin phép thầy ra về. Thầy đứng lên tiễn tôi ra mé rừng. Nhìn thầy thật lâu, tôi nói: Đối với con, thầy là bậc Chân Nhân. Thầy cho phép con được viết về thầy.

Thầy nhìn tôi, cười nhẹ, gật đầu.

Đó là lần cuối, tôi gặp Thầy. Nhưng hình ảnh Thầy mãi ở trong tôi, chưa bao giờ là lần cuối.

Tháng 12-2013.

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search