HOÀNG HƯNG: VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” – PHẦN I – HỒI ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (2)

 GIỚI THIỆU: HOÀNG HƯNG & VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC”

PHẦN I

HỒI  ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN

 “VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (2)

Lần này vào Sài Gòn, tôi đã chọn một hành trình mới: từ Hà Nội xuống Hải Phòng để đáp tàu thuỷ vào (đường thuỷ ven biển Hải Phòng-Sài Gòn mới có được ít lâu). Người giúp tôi mua vé tàu là hoạ sĩ Thọ Vân, phụ trách Mỹ thuật của Hội Văn nghệ Hải Phòng, bạn thân nhất của tôi trong 8 năm tôi sống ở thành phố này. Anh là một người tự học, rất ham học. Tôi đã dịch cho anh cả loạt sách hội hoạ tiếng Pháp anh mua ở cửa hàng sách ngoại văn. Trước ngày tàu khởi hành ít bữa, tôi đã chở sẵn hàng hoá mới mua (trong đó có bộ Bách khoa toàn thư Larousse) xuống nhà anh để sẵn. Khi tôi bị bắt, công an xuống Hải Phòng thu giữ hết đồ đạc của tôi và không bao giờ trả lại, mặc dù sau khi ra tù, tôi đã có đơn đề nghị trả! Đơn không có hồi âm, như xử sự thường lệ của các cơ quan công quyền đối với công dân! Mãi sau này, tôi mới biết khi vụ án đã xong, đến thời hạn “thanh lý”, họ đã đem bán tất cả “tang vật vụ án”, kể cả “tang vật chủ yếu” là tập thơ VKB mà Hoàng Cầm chép tặng tôi, số tiền bán được không biết vào công quĩ hay túi riêng của ai?

***

Bản chép tay Về Kinh Bắc mà Hoàng Cầm chép cho tôi rất đẹp, trang đầu ghi rõ: “Chép gửi Hoàng Hưng, cho mai sau của chúng ta”. Sau khi nhận được bản chép tay thơ, tranh bìa của Văn Cao, 4 bức phụ bản của Bùi Xuân Phái, tôi tổ chức một buổi “ăn mừng” trên gác xép nhà ông Trần Thiếu Bảo. Bữa ăn trưa có Hoàng Cầm, Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại. Buổi ấy cũng coi như khai trương quán ăn của ông Bảo, mà đầu bếp là Phan Tại, nhà viết kịch, một trong 5 người bị ra toà và lãnh án tù trong vụ Nhân Văn-Giai Phẩm (ông bị 6 năm tù). Trần Thiếu Bảo đã viết-vẽ tay một tờ menu rất đẹp các món ăn hôm ấy!

Trong bữa ăn vui vẻ tình cảm dạt dào giữa những người cùng tâm sự, ông Bảo khoe mọi người hai cái “bìa” cho tập VKB và tập thơ của tôi mà ông trình bày theo lối cắt-dán (collage) siêu thực (Trước đó ít lâu, tôi có khoe một tập bản thảo thơ “chui” của mình cho một số bạn văn nghệ ở Hà Nội, trong đó có Nguyễn Thuỵ Kha, Kha đã chép lại nhiều bài trong đó. Ông Bảo xin mượn ít hôm).

Sau liên hoan, ông Bảo đề nghị tôi cho ông mượn tiếp tập ấy cùng với tập VKB vừa mới hoàn thành.

Trang đầu bản chép tay VKB của HC

Bìa thơ Hoàng Cầm của Văn Cao

Bìa Về Kinh Bắc của Trần Thiếu Bảo

Bìa thơ HH của Trần Thiếu Bảo

Trần Thiếu Bảo và các Giai phẩm của NXB Minh Đức (ảnh trên mạng)

Mấy ngày trước ngày lên đường về lại SG, tôi quá bận, chủ yếu bận “gom hàng”, nên định để đúng ngày đi mới đến ông Bảo lấy lại 2 tập thơ. Ông Bảo sốt ruột, ngày nào cũng đến nhà chị tôi để “nhắc” tôi tới lấy! (Sau khi bị bắt, tôi mới hiểu vì sao? Hoá ra ông đã bị công an khống chế từ bao giờ, phải làm “chỉ điểm” bất đắc dĩ! Công an đã được ông báo cáo ngay từ hôm tôi đến nhờ mua giấy, bút để anh Hoàng Cầm chép VKB! Nếu vì lý do gì đó tôi không tới lấy tập thơ đem vào SG, thì… vụ án sẽ xẹp như bong bóng xì hơi!).

Đầu giờ chiều 17/8/1982, sau khi sắp xếp xong hành lý để đi chuyến tàu tối xuống Hải Phòng và sáng hôm sau đi tàu biển vào Sài Gòn, tôi đến nhà Trần Thiếu Bảo lấy lại 2 tập thơ. Vào trong quán, tôi thấy hai người đàn ông đang ngồi uống nước. Sau vào trại giam đi “cung” mới biết đó là ông Khổng Minh Dụ, Trưởng phòngAn ninh Văn hoá Cục An ninh Tư tưởng Văn hoá gọi tắt là A25 (sau này ông sẽ là Thiếu tướng Cục trưởng và cũng là “nhà thơ”), và anh Hoàng Phước Thuận, trợ lý của ông (sau này sẽ là Trung tướng Cục trưởng Cục An ninh mạng). Tôi cứ hồn nhiên cầm tập thơ đi ra.

Một chi tiết đáng lưu ý: khi ra cửa, tôi thấy nhà nhiếp ảnh Hà Tường (người chuyên chụp chân dung các văn nghệ sĩ Hà Nội) đứng sẵn gần đấy, anh đề nghị tôi cho anh chụp một tấm hình! Sau này, có dư luận anh cũng bị buộc phải “hợp tác” với an ninh!

HH và hoạ sĩ Trần Lâm trước nhà số 5 Bát Đàn ngay trước lúc HH bị bắt (ảnh do Hà Tường chụp)

Lên xe đạp đi được một đoạn, bỗng có hai anh thanh niên đèo nhau xe gắn máy ép tôi vào lề đường. Hai anh nhảy xuống, giữ tôi lại, bảo: “Cái xe đạp anh đang đi là xe của chúng tôi bị mất cắp”. Tôi kinh ngạc, vì tôi đang đi chiếc xe của bà chị ruột. Đang cãi qua cãi lại, thì một công an mặc sắc phục ở đâu tiến tới, nói: “Các anh lộn xộn gì thế, mời về đồn giải quyết”. Đồn CA gần đấy là đồn Hàng Bạc. Vào trong đồn, anh CA xưng là đồn trưởng, yêu cầu tôi bỏ hết các thứ trong túi xách ra. Thấy tập bản thảo của Hoàng Cầm, anh ta hỏi: “Cái gì thế này? Thơ à? Thơ của ai đây?”. Tôi đáp: “Của Hoàng Cầm.” “Hoàng Cầm là ai? Anh ngồi đây đợi, cái này tôi phải xin ý kiến cấp trên”. Tôi ngu đến mức vẫn chưa biết đây chỉ là một màn bi hài kịch dàn dựng sẵn.

Sau khoảng 20 phút chờ đợi, anh đồn trưởng bước vào, bảo: “Đây là ý kiến cấp trên”. Anh giở ra một tờ giấy, đọc: “Lệnh bắt và khám xét khẩn cấp” vì tội “lưu truyền văn hoá phẩm phản động”. Thế là nhanh như cắt, hai anh thanh niên “mất xe đạp” lúc nãy hiện nguyên hình là CA, áp giải tôi lên xe bịt bùng, đưa về… Hoả Lò!

Sau khi ra tù, tôi mới biết hồi đó dư luận râm ran về vụ án này. Thông tin truyền đi sai lạc lung tung, như cho rằng tôi bị bắt khi đang chuyển tập bản thảo VKB vào Sứ quán Pháp. Trong hồi ký của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Mạnh, có đoạn nói chính Hoàng Cầm kể cho ông: ông đã nghe lời Hoàng Hưng gửi VKB sang Pháp in!!! Trong tuyển tập “Black Dog, Black Night, Contemporary Vietnamese Poetry” (Chó đen, đêm đen -Thơ Việt Nam đương đại) xuất bản ở Mỹ năm 2008, người viết lời giới thiệu phần thơ của tôi là nhà thơ Paul Hoover cũng viết như thế! Và mãi cho đến nay, vẫn có một số nhà văn VN viết trên Facebook như thế!!! 

Thậm chí còn có “phiên bản” tôi bị bắt vì… mang thuốc phiện lậu! Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, một cựu tù nhân lương tâm ở Hải Phòng thì kể rằng: có người nói với Hội Văn nghệ Hải Phòng là HH bị bắt vì… ăn cắp xe đạp, và nhiều người tin sái cổ!!!

Sau này, Phó TBT báo Lao Động là nhà báo Trần Đức Chính còn nói có một bài báo trên báo Công an (?) mang tên: “Vụ án hai ông Hoàng” với nhiều tình tiết li kỳ (và chắc là không ít thêu dệt, bịa đặt).

LÝ DO BỊ BẮT KHÔNG NGỜ NHƯNG NGUYÊN NHÂN SÂU XA THÌ CÓ!

(“Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật”)

Khi nghe đồn trưởng công an Hàng Bạc đọc lệnh “Bắt và khám xét khẩn cấp” vì tội “lưu truyền văn hoá phẩm phản động” là bản thảo tập thơ VKB mà nhà thơ Hoàng Cầm chép tặng, tôi hết sức bất ngờ! Vì ông đã từng chép tặng nó cho hàng trăm người trước tôi! Vì tôi với ông chưa có quan hệ gì thân thiết ngoài vài lần giao hảo!

Nhưng trong quá trình hỏi cung kéo dài hơn một năm rưỡi ở Hoả Lò rồi Trung tâm Thẩm vấn của Bộ Nội vụ – tiền thân của Bộ Công an, bí danh B14 (ở Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội), tôi nhận ra chân lý trong câu thơ Nguyễn Trãi: “hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật” (hoạ hay phúc đến không phải từ một ngày)!

Nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc tôi bị bắt và “tập trung cải tạo” từ ngày 17 tháng 8 năm 1982 đến 30 tháng 10 năm 1985 chính là là “sự suy thoái tư tưởng, lối sống” như kết luận của ông Nguyễn Trọng Liễu, Cục trưởng An ninh Điều tra Xã hội Bộ Nội vụ trong thông báo ngày 23/1/1984 gửi cho Tổng biên tập báo Người Giáo Viên Nhân Dân của tôi:

“… biến chất, sống không có lý tưởng, lao vào con đường buôn bán kiếm lời, sa đoạ về sinh hoạt, không còn phẩm chất của người cán bộ” (trích thông báo).

(Khi tôi về thăm cơ quan Báo sau “Đổi mới”, khoảng 1998, bạn đồng nghiệp đồng lứa Nguyễn Ngọc Chụ, Tổng Biên tập mới của báo đã cho tôi bản sao của Thông báo ấy).

Song, muốn hiểu tận gốc quá trình “biến chất” ấy, phải truy nguyên lịch sử gia tộc và bản thân tôi từ rất xa xôi.

Xin tóm tắt như sau:

Tôi xuất thân trong một gia đình trí thức Tây học nổi tiếng ở Hà Nội.

Ông nội là Tổng đốc Bắc Giang (Hoàng Thuỵ Chi), cuối đời làm việc ở Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (hình như phụ trách Phòng Xuất bản báo chí). Nhưng quan trọng hơn, Cụ là nhà nho lớp cuối (cử nhân trẻ tuổi nhất của kỳ thi Hương cuối cùng năm 1900, tác giả nhiều công trình nghiên cứu Hán-Nôm với bút hiệu Tạ Ngọc hiện được lưu trữ trong thư viện Viện Hán Nôm), bắt đầu chuyển sang Tây học (Cụ đã ở trong phái đoàn quan lại Việt Nam sang thăm nước Pháp từ năm 1906, đã dịch truyện ngụ ngôn Ésope sang tiếng Việt thành “Y Sách ngụ ngôn” đăng trên tập san Tứ Dân Văn Uyển của Toà Tu Thư Phủ Thống sứ Bắc Kỳ năm 1936).

Bố tôi, Hoàng Thuỵ Ba, là 1 trong 2 bác sĩ đầu tiên (cùng với ông Đặng Vũ Lạc) của trường Y Đông Dương (l’École de Médecine de l’Indochine) mà 2 năm cuối phải sang Pháp học Khoa Y, Viện Đại học Paris (Académie de Paris) để lấy bằng Docteur en Médecine (năm 1928) của Bộ Giáo dục nước Cộng hoà Pháp.

HH về thăm bố vài năm sau khi HH ra tù

Từ những năm tiểu học (thời chính quyền Quốc gia) cho đến hết phổ thông cấp 3 (thời “nhà trường xã hội chủ nghĩa”), ngoài những giờ Pháp văn ở trường, tôi đã được bố cho học tiếng Pháp với các thầy, cô giáo dạy tư, và đã có 1 năm học trường Tây (Lycée Honoré de Balzac ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm). Hơn thế, vì sớm mê văn chương thơ phú, tôi đã mày mò tra từ điển để dịch những tiểu thuyết trinh thám tiếng Pháp trong tủ sách của bố. Tôi đã dịch những bài thơ tiếng Pháp đầu tiên ngay trong giờ học tiếng Pháp hồi lớp Nhất (cuối cấp tiểu học) từ cuốn sách giáo khoa Le livre unique de Français. Những dịch phẩm từ tiếng Pháp đầu tiên của tôi đăng trên tạp chí Trăm Hoa của nhà thơ Nguyễn Bính từ năm tôi học Đệ Lục (lớp 6-7 bây giờ)! Trong những năm học ở trường cấp 3 (Việt-Đức), tôi được bố cho đi học tiếng Pháp với cô Đỗ Thị Xuân (học cùng với Tôn Thất Triêm, bạn học cùng lớp với tôi, là con trai của bác sĩ nhãn khoa Tôn Thất Hoạt và luật gia kiêm pianist Vũ Thị Hiển, bạn của bố tôi. Sau này Triêm là pianist nổi tiếng). Cô là sinh viên của nhà tâm lý học hàng đầu thế kỷ là Jean Piaget (Thuỵ Sĩ), sau khi tốt nghiệp Cử nhân cô đã tình nguyện về xây dựng đất nước, làm việc ở Viện Tâm lý Giáo dục; cô đi dạy kèm tiếng Pháp, tiếng Anh để đủ sống.

Vì thế, khi lớn lên, là một trong số những nhà thơ trẻ nổi bật của “thế hệ chống Mỹ” (như Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương…), được giải thưởng Thơ của báo Văn Nghệ từ năm 1965 (bài “Gửi anh”), nằm trong số khoảng 10 người làm thơ trẻ được in tập thơ tại Nhà xuất bản Văn Học (tập “Đất nắng” in chung với Trang Nghị, năm 1970), nhưng vì “trót” đọc được tiếng Pháp, nên khác hẳn các nhà văn nhà thơ cùng thế hệ, tôi sớm giác ngộ về “Chủ nghĩa xã hội với bộ mặt người” qua những sách báo tiếng Pháp ở ngay trong Thư viện Quốc gia (Nhà nước cho rằng rất ít người biết tiếng Pháp nên không kiểm duyệt bỏ những ấn phẩm tiếng Pháp “nhạy cảm” được nhập vào đó theo con đường viện trợ, trao đổi). Đó là thuyết “chủ nghĩa hiện thực không bờ bến” (Réalisme sans rivage) của Roger Garaudy, một nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp, những tư tưởng “xét lại” của George Lukács, nhà lãnh đạo Cộng sản Hungary, tiểu thuyết Docteur Jivago của nhà văn Liên Xô Boris Pasternak, các tài liệu về Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX, về những biến động ở Hungary, Tiệp Khắc… Những sách vở ấy cộng với thực tế nhiều phũ phàng mà tôi va chạm trong mấy năm dạy học và “đi thực tế sáng tác” ở vùng công nghiệp Hải Phòng, Quảng Ninh, cộng với sự đổ vỡ niềm tin chiến thắng sau Tết Mậu Thân và cái chết của Cụ Hồ, lãnh tụ Đảng duy nhất mà tôi kính yêu thực lòng, cũng như cái chết của người em cùng cha khác mẹ với tôi là Hoàng Thuỵ Lạng trên đường hành quân vào Nam, khiến tôi ngày càng hoài nghi sự đúng đắn của con đường “tiến lên chủ nghĩa xã hội” mà chế độ đang theo.

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search

t-van.net © 2024
All images © their rightful owners