HOÀNG HƯNG: VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” – PHẦN I – HỒI ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (1)

 GIỚI THIỆU: HOÀNG HƯNG & VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC”

PHẦN I

HỒI  ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN

 “VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (1)

Xẩm tối 31/10/1985, tôi lặng lẽ tự mở cửa căn phòng lớn của bố tôi trên gác 2 ngôi nhà tổ phụ (14 Đường Thành Hà Nội). Thật bất ngờ: cả nhà đang ngồi quanh chiếc bàn ăn lớn gỗ lim gia truyền nạm đồng 100 chữ “Phúc”: bố và tất cả các anh chị em, các cháu trai cháu gái tụ họp ăn mừng sinh nhật lần thứ 83 của bố (31/10/1902-1985)!Vợ tôi từ Sài Gòn ra cũng có mặt, chắc em ra để chuẩn bị lên trại thăm tôi lần thứ hai!

(Thật tình cờ, tôi viết xong bản thảo hồi ức này cũng đúng vào lúc mình tròn 83 tuổi Tây (24/11/1942-2025).

Ngày hôm trước, 30/10/1985, là ngày kết thúc cuộc đời tù đày “lãng xẹt” của tôi sau hơn 39 tháng, qua 3 cơ sở giam giữ của Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam!

NHÀ THƠ HOÀNG CẦM VÀ TÔI – NHỮNG CHUYỆN TRƯỚC NGÀY BỊ BẮT

Trong các nhân vật của nhóm “Nhân Văn – Giai Phẩm”, quan hệ của tôi với nhà thơ Hoàng Cầmv ốn không có gì mật thiết.

Không chỉ “có vấn đề” về tư tưởng, Hoàng Cầm còn tai tiếng là con nghiện (thuốc phiện) và chủ quán rượu chui (tại nhà riêng 43 Lý Quốc Sư). Tôi – một nhà thơ trẻ đang được ưu ái, lại là nhà giáo và nhà báo của ngành giáo dục, báo Người Giáo viên Nhân dân (NGVND), cũng thấy ngại dây dưa! Mãi sau khi đã chuyển vào Sài Gòn công tác, tư tưởng ngày càng “diễn biến hòa bình” do tác động của cuộc sống và sách vở “tàn dư” của Sài Gòn xưa, trong một lần ra Hà Nội vào cuối những năm 1970 hay đầu 1980, tôi mới tìm đến Hoàng Cầm, do dịch giả-nhà thơ Dương Tường đưa dắt. Chính lần ấy, tôi được nhà thơ khoe một bản thảo tập thơ Về Kinh Bắc (VKB) do ông chép tay chữ rất đẹp, bay bướm uyển chuyển, có mấy phụ bản tranh của Bùi Xuân Phái vẽ các cô gái quan họ. Đó là tập bản thảo mà ông đã bán cho ông Lâm chủ quán cà phê chuyên sưu tầm tranh của các hoạ sĩ nổi tiếng ở Hà Nội; nay ông mượn lại, có lẽ để khoe với những người bạn mới, có thể là Việt kiều chăng? Nhân dịp, tôi đã xin nhà thơ chép cho ba bài Cây tam cúc – Lá diêu bông – Quả vườn ổi đem về Sài Gòn khoe vài người bạn văn nghệ “chui” vốn là dân Sài Gòn cũ.

Cũng nói thêm về chuyện thuốc phiện: Hoàng Cầm bị lệ thuộc nặng nề vào “nàng tiên nâu”. Anh có thể “đi mây về gió” trong bao nhiêu năm trời trong khi đời sống của mình cực kỳ khó khăn, là vì ở miền Bắc cho đến trước những năm 1990, thuốc phiện được buôn bán khá dễ dàng với nguồn từ Lào sang. Bản thân tôi một lần lên Điện Biên Phủ công tác, đã được anh hiệu phó trường cấp 3 thẳng thắn đề nghị đem gìum mấy kilo thuốc phiện về Hà Nội và nói sẽ được đặc cách vào sân bay bằng cửa riêng và lên khoang trên ngồi cạnh phi công! Anh còn đề nghị gửi thuốc phiện theo đường bưu điện vào Sài Gòn cho tôi bán! Thậm chí trong những ngày tôi ngồi bán đồ nghề chụp ảnh trên lề đường Sài Gòn, có kẻ từ Hà Nội vào còn thẳng thừng gạ gẫm bán thuốc phiện cho hết người này đến người khác!  Các quán hút thuốc phiện ở Hà Nội gần như công khai hoạt động, đi đến gần là mùi thơm ngào ngạt, ở đó có lúc giá một “bi” thuốc phiện rẻ hơn một điếu thuốc lá đầu lọc! Có lần Hoàng Cầm đã rủ tôi vào “thử một điếu” trong ngõ Tạm Thương (cạnh rạp xi nê Hồng Hà, chợ Hàng Da, trung tâm thành phố). Không thể quên cái “tiệm” nhếch nhác chỉ là một cái sạp tre lợp mái tôn có tấm bạt che làm cửa, mấy con người thay nhau lên nằm “bắn” chung một cái điếu. May mà tôi dị ứng với “nàng tiên nâu”. Chỉ một “bi” là lên bờ xuống ruộng, nó vật cho 2 ngày liền như say sóng biển, không ăn không ngủ được! Cho nên không mắc nghiện! Nhưng không ít người yêu thơ Hoàng Cầm, đến chơi với ông đã mắc phải món này! Sau “Đổi mới”, Hoàng Cầm lại được thoải mái hút, và được không ít người hâm mộ “tài trợ”, trong đó có chính Tướng Phạm Chuyên, Giám đốc Sở Công an Hà Nội. Theo lời ông, thì mỗi ngày ông phải bắn 10 “bi” mới đủ đô! Năm 2003, khi nhà thơ Pháp nổi tiếng Henri Deluy, Đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, Giám đốc Liên hoan Thơ quốc tế Val-de-Marne thăm Việt Nam, nhờ tôi giới thiệu người đi dự Liên hoan, tôi đã đưa ông đến chơi Hoàng Cầm. Ông lập tức bị nhà thơ hấp dẫn, và ông đã trực tiếp mời HC đi dự liên hoan kỳ sắp tới. Nhưng Hoàng Cầm thú thật là… đi xa mà không có “opium” thì chắc không chịu nổi. Vậy là tôi phải giới thiệu nhà thơ Thanh Thảo thế chân!

Trong chuyến ra Hà Nội tháng 8 năm 1982, định mệnh xui khiến tôi lại đến với Hoàng Cầm ngoài chủ ý. Một bữa tôi gặp Dương Tường trên phố, anh sốt sắng bảo tôi đến an ủi Hoàng Cầm vì nhà thơ vừa trải qua một bi kịch: con gái yêu của ông là nữ diễn viên kịch Hoàng Yến chết đột ngột – nghe đâu là tự tử. Tôi đến chơi, lại nghe ông than là vừa bị mất tập bản thảo VKB mượn lại của ông Lâm cà phê (chắc hẳn CA đã lấy đi làm hồ sơ cho vụ án VKB đang chuẩn bị). Ông tỏ ra rất tiếc xót, vì khó có cơ hội làm lại một tập đẹp như thế. Tôi hứng lên, nói sẽ làm lại cho ông một tập đẹp hơn thế. Ông bảo tôi đến gặp Trần Thiếu Bảo nhờ mua giấy và bút bi loại tốt để ông chép. Trần Thiếu Bảo nhận lời ngay. Ông cựu giám đốc NXB Minh Đức, người bỏ tiền in tập san Giai Phẩm đã bị kết án 10 năm tù, 5 năm quản chế trong vụ “Nhân Văn-Giai Phẩm”, sau khi ra tù thì bị chỉ định cư trú ở Nam Định. Ông đã được về lại Hà Nội từ lúc nào đấy, và vào năm 1982, ông đang chuẩn bị mở quán ăn để sinh sống tại số 5 Bát Đàn. Thế là việc chép tay VKB tiến hành. Tôi đồng thời đến xin Văn Cao một phác hoạ làm bìa tập thơ VKB, và xin Bùi Xuân Phái mấy phụ bản. Ít ngày sau, tôi vui sướng có trong tay một bức hoạ mấy cái lá bay (chắc là “lá diêu bông”) của Văn Cao và 4 phụ bản màu nước của Bùi Xuân Phái vẽ những cô gái quan họ nón quai thao áo tứ thân. Xin nói ngay là “nhuận bút”, thù lao của tôi cho các ông Hoàng Cầm, Văn Cao, Bùi Xuân Phái lúc ấy chỉ là… vài hộp sữa, cân đường, thời buổi nghèo đói ấy các ông cũng thấy vui!

Có một chi tiết mà những ngày đó tôi đã bỏ qua. Trong thời gian này, tôi hầu như ngày nào cũng đến quán rượu Hoàng Cầm để giục nhà thơ chép cho xong tập thơ. Một tối, tôi trông thấy trong quán có một người quen, anh Mão, nguyên là giáo viên thể dục cùng dạy học với tôi ở Hải Phòng vài năm, nhưng đã chuyển về Hà Nội, nghe đâu làm ở Bộ Nội vụ (tức bộ Công an), vì anh là cháu ruột ông tướng CA nổi tiếng Nguyễn Tài, thứ trưởng Bộ Nội vụ. Thấy tôi, anh cất giọng lè nhè như của người say rượu bảo: “Cái ông Hưng này đến là rách việc”. Tôi hồn nhiên không để ý, chỉ cười rồi đi ra. Sau khi bị bắt tôi mới đoán rằng anh bạn đồng nghiệp cũ có lòng tốt cảnh báo để tôi khỏi sa bẫy. Nhưng lúc đó tôi hoàn toàn ngây thơ và tự tin việc xin thơ Hoàng Cầm chẳng có vấn đề gì mà phải đề phòng!

Nhân tiện cũng nói thêm đôi chút vài việc lặt vặt: Ở quán rượu Hoàng Cầm này tôi đã nghe Toán Xồm hát (anh Phan Thắng Toán mới được về sau 15 năm tù vì tội “cầm đầu nhóm Nhạc vàng đồi truỵ”, vụ án nổi tiếng về văn nghệ ở miền Bắc thời chiến tranh). Và cô Dung Hoà, một cô gái xinh đẹp và hát hay nhà ở cùng phố Lý Quốc Sư, cô này chuyên uống rượu hút thuốc đàn đúm xả láng với các chàng văn nghệ. Tôi vẫn không thể quên giọng hát “Chuyện phim buồn” (lời Việt của bài “Quand le film est triste”) của cô trong khói thuốc xanh um của quán! Sau đó lại gặp cô ở nhà người bạn mới quen là nhà thơ Nguyễn Thuỵ Kha (60 Hàng Bông), tôi đã chở cô bằng xe đạp của cô ra chợ Hàng Da mua vài món nhắm về nhà Kha uống rượu! Không thể ngờ là khi đó công an đã theo dõi từng bước đi của tôi, và khi vào Sài Gòn khám nhà, họ đã kể cho vợ tôi nghe chuyện ấy để “ly gián” hai vợ chồng tôi!

Sau này, từ một nguồn quen biết ở an ninh, tôi mới hay: tôi đã bị theo dõi, quay phim mỗi ngày từ lúc xin Hoàng Cầm chép tay bản thảo VKB! Vì đó sẽ là mắt xích cuối cùng trong “chuyên án VKB”mà họ đã mở từ vài tháng trước!

HC gặp HH tại Sài Gòn, 10 năm sau “vụ án VKB”

HH thăm lại HC trên gác xép nhà 43 Lý Quốc Sư những năm 1990 (ảnh Nguyễn Đình Toán)

HH về thăm quê HC những năm 1990 (ảnh Nguyễn Đình Toán)

VÌ SAO CÓ CHUYÊN ÁN “VKB”?

Về Kinh Bắc ra đời trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Vào cuối những năm 1950, bốn anh em chúng tôi (Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng) sau khi đi lao động cải tạo về, vẫn nằm trong thời kỳ bị kiểm soát chặt chẽ…

Trong tình cảnh ấy, tôi đề xướng với các bạn: lúc này chính là lúc bọn mình phải để tâm vào việc phá ra về thi pháp, phải phá ra khỏi kiểu thơ Tố Hữu, hay nói rộng ra là kiểu thơ cũ mà mình đã chán ngấy. Thế là bốn anh em thống nhất về đường lối sáng tác. Từ đấy hai anh Trần Dần, Lê Đạt ở Hội Nhà văn sáng sáng chỉ tán chuyện một lúc rồi mỗi người yên lặng cắm cúi viết lách. Trần Dần viết Cổng tỉnh dựa vào những kỷ niệm thời thanh niên ở Nam Định. Lê Đạt thì những kỷ niệm ở Yên Bái (thân phụ của anh làm xếp ga ở đó) cho anh loạt thơ sau in trong Bóng chữ. Đặng Đình Hưng, với sự “đỡ đầu” (dùng đúng từ anh nói) của Trần Dần, cũng viết được những bài thơ mới hẳn, lâu lâu anh lại đến khoe, rất hào hứng. Tôi rất thích những bài thơ ấy của Hưng, và học tập được khá nhiều ở tinh thần mới mẻ của anh.

Riêng tôi, như đã nhiều lần tự bạch, tôi viết Về Kinh Bắc hoàn toàn nhờ chìm đắm vào những kỷ niệm thời thơ ấu. Tôi luôn nghĩ rằng: với bất cứ anh thi sĩ nào, cái thời kỳ từ 5 đến 15 tuổi là thời kỳ quyết định hơi thơ, cốt cách thơ của cả đời anh ta. Từ năm 4 tuổi đến 14 tuổi (lúc đỗ certificat), tôi sống ở một phố nhỏ trên đường quốc lộ 1, cách thị xã Bắc Giang 6 km. Mười năm ấy ăn vào mình nhiều nhất…

Có lẽ vì thế mà toàn bộ tập Về Kinh Bắc chìm trong cái buồn, cái buồn của sự hoài vọng quê hương, bài nào cũng buồn, câu nào cũng buồn. Hồi trong Hoả Lò bị buộc phải viết kiểm điểm về tập thơ này, tôi cũng dễ dàng thừa nhận là tập thơ buồn quá. Nguyên cái buồn ấy hình như đã là chống lại đường lối văn nghệ của Đảng rồi, vì Đảng yêu cầu văn nghệ phải khấn khởi tươi vui. Nhưng ngoài cái đó ra, tôi còn phải nhắm mắt tự nhận tội với những từ nặng nề nhất như phản động, chống Đảng…”

(Tâm sự của HC, do HH ghi, đăng trên báo mạng talawas.org của Phạm Thị Hoài ở Đức năm 2007).

Trong một hồi ức khác, HC có nhắc đến câu nói của Văn Cao: “Phục xuống mà sáng tác”. Chắc là ứng với thời kỳ sáng tác nói trên của các nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm. 

VKB đã được lưu truyền “bí mật” lai rai suốt từ những năm 1960, nhất là sau 1975 khi đất nước thống nhất. An ninh Hà Nội biết, có đôi lần gọi tác giả lên “cảnh cáo” nhưng chỉ coi đó là thứ thơ “ngoài luồng” không được lưu hành chính thống, chưa đến mức là “phản động, chống Đảng”.

Tôi đâu ngờ thời điểm 1982 ấy nó đã trở thành… “chuyên án”!!!

Chuyên án “Về Kinh Bắc” chắc đã được khởi động từ quãng giữa năm 1982, khi anh Nguyễn Mạnh Hùng, TS Kinh tế, GS đại học Laval, Quebec, Canada, cũng là nhà văn Việt Nam hải ngoại có bút hiệu Nam Dao, đang làm việc/thăm chơi ở Hà Nội, xin nhà thơ Hoàng Cầm một bản chép tay tập thơ Về Kinh Bắc để đem về Canada. Nguyễn Mạnh Hùng được chính quyền Việt Nam coi là “Việt kiều yêu nước”, đã đóng góp tích cực cho phong trào ủng hộ miền Bắc, chống Mỹ và chính quyền miền Nam từ khi còn là sinh viên ở Canada. Sau khi đất nước thống nhất, anh đã nhiều lần về nước làm việc theo lời mời của các Viện chuyên môn. Mặt khác, anh lại quan hệ thân thiết với các nhà văn trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm, đặc biệt với nhà thơ Hoàng Cầm mà anh yêu mến.

Việc Hoàng Cầm cho Nguyễn Mạnh Hùng một bản chép tay VKB chẳng có gì cần bí mật, khi chưa hề có văn bản hay chỉ thị miệng của cấp thẩm quyền nói rằng tập thơ bị cấm lưu hành. Vả lại, ở cái quán rượu 43 Lý Quốc Sư mà Hoàng Cầm sống nhờ vào đó từ nhiều năm, lúc nào cũng chật khách trầm ngâm say và âm u khói thuốc, trong đó hầu hết là những người yêu văn nghệ “ngoài luồng”, và không ít “đặc tình” (cộng tác viên, nói nôm na là chỉ điểm của CA), “cá chìm” (tiếng lóng để chỉ trinh sát công an thường phục), thì có gì liên quan đến ông Hoàng “thơ chui” này mà giữ kín được! Nhưng muốn hiểu vì sao có vụ án “Về Kinh Bắc”, phải ngược thời gian lên mười năm trước, khi một số bài trong bản thảo VKB bắt đầu được truyền tay hơi rộng trong giới yêu thơ, trong đó ba bài “Cây tam cúc”, “Lá diêu bông”, “Quả vườn ổi”(thường được gọi là bộ ba cây-lá-quả) được mến mộ nhất – phần quan trọng vì chúng được xì xầm diễn giải như lời oán trách của “em” (văn nghệ sĩ trí thức/ rộng ra là người dân) với “chị” (Đảng), đại khái “em” yêu “chị”, nhưng “chị” đã lừa “em”, cho “em” ăn toàn “quả rụng”, rồi bỏ mặc “em” bơ vơ để đi lấy chồng… Theo Hoàng Cầm kể, thì năm 1973, CA Hà Nội có kêu tác giả lên răn đe về việc lưu truyền những bài thơ “có nội dung xấu” ấy. Hoàng Cầm phải ngưng, nhưng sau 1975, với không khí hào hứng của những ngày “miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng”, VKB lại có thêm độc giả ở miền Nam; và đến 1979, sự giao lưu với nước ngoài bắt đầu được cởi mở hơn, một số Việt kiều đã có được một số bài thơ chép tay của nhà thơ, trong đó dĩ nhiên “bộ ba cây-lá-quả” vẫn đứng đầu bảng. Hoàng Cầm có kể đích danh một “nữ bác sĩ” xưng tên là Cần Thơ ở Pháp đã xin ông gửi cho một số bài thơ; sau này bà cho biết bà là đệ tử của thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Làng Mai (bà tên thật là Cao Thị Phượng, Cử nhân Sinh học, đệ tử ruột của thầy Nhất Hạnh từ những năm 1960 ở Sài Gòn, sau này là Sư cô Chân Không). Thầy Nhất Hạnh yêu thơ Hoàng Cầm từ thời kháng chiến chống Pháp và Nhân Văn Giai Phẩm, nên thông qua bà để liên lạc với nhà thơ. Bà thường xuyên gửi quà (chủ yếu là thuốc Tây để Hoàng Cầm dùng và bán lấy tiền sinh sống) và thư từ với ông. Bà lấy tên “Cần Thơ” có nghĩa là… cần có thơ! Chính Nam Dao là người đem một đĩa ghi âm Hoàng Cầm đọc thơ gửi sang Pháp cho bà.Trong khi xét hỏi bản thân tôi, một sĩ quan CA cho biết: VKB bắt đầu thành vấn đề nghiêm trọng chính là vì mấy bài thơ “Cây-Lá-Quả” được in trên một tờ báo ở Pháp kèm theo lời bình mang tính chống đối chính trị. Theo Hoàng Cầm thì CA có đọc cho ông nghe bài viết ấy trên báo Quê Mẹ. Gần đây tôi mới được biết tờ báo này là của nhà thơ và người hoạt động xã hội Thi Vũ Võ Văn Ái.

Có lẽ khi Nam Dao đem bản VKB mà Hoàng Cầm chép tặng anh vào Sài Gòn thì chưa có quyết định mở “chuyên án”. Nhưng sau đó ít lâu, anh nhận được thư của Hoàng Cầm và nhạc sĩ Hồng Đăng vào Sài Gòn chơi cũng kịp nhắc anh cẩn thận. Vậy là anh không dám mang theo, mà gửi nó cho nhà ngữ học Cao Xuân Hạo cất giữ, nên khi ra sân bay bay về Canada, an ninh khám xét hành lý không thấy! Tuy nhiên, trong “tang vật” bắt được trong túi xách của tôi có một lá thư của Hoàng Cầm nhờ đem vào Sài Gòn gửi cho anh, thư dán kín nên tôi không biết nội dung! Vì thế, Nam Dao bị cấm về nước trong suốt 6 năm sau đó. Mãi đến năm 2002, lần đầu tiên hai người “đồng phạm” bất đắc dĩ chúng tôi mới gặp nhau ở Hà Nội khi anh nhờ tôi đưa đến chơi nhà nhà văn Nguyễn Xuân Khánh.

Năm 2015, khi tôi công bố bài viết “Vụ án “Về Kinh Bắc” – một sự kiện hậu Nhân Văn” trên website talawas.org của nhà văn Phạm Thị Hoài ở Berlin (Đức), Nam Dao có gửi mấy lời “cước chú”:

“… từ vụ án VKB tôi phải đợi 6 năm, đến 1988, mới được về Việt Nam trong một phái đoàn GS Đại Học Canada được Bộ Ngoại Giao tiếp đón. Đến năm 1990, mặc dầu có giấy mời của Viện Nghiên cứu Kinh tế Quản lý Trung ương, về đến Nội Bài thì tôi được lịch sự mời ra…với lý do gì đến nay tôi cũng chưa biết, nhưng đoán là sau khi bức tường Berlin sụp đổ thì phải cấp tốc xây hàng rào bảo vệ Hà Nội. Xin Visa vài lần sau đó mà không được, tôi biết thân mình, nhưng khi Trịnh Công Sơn viết thư nói: “… mình hết thời gian rồi”, tôi có gặp bà Đại Sứ Việt Nam thuở đó, xin và được phép về năm 1998… Cái oái oăm là có những nghịch lý khó chấp nhận: khi Sơn đến Quebec thăm tôi năm 1992, anh biết tôi ấm ức, bảo: “… cứ coi họ là những đứa bé nghịch ngợm lấy chân di một đàn kiến…”. Ngẫm nghĩ, anh an ủi cả anh lẫn tôi, tiếp: “… nhưng rồi đứa bé ấy cũng phải lớn lên chứ”. Lớn lên thế nào không biết, nhưng lớn đủ để chính thức nói một lời xin lỗi những con kiến càng cỡ Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm… thì chưa!”.

HH thăm Nam Dao tại Quebec Canada năm 2018

Tóm lại, chậm nhất là vào mùa thu 1982, một chuyên án VKB đã được mở ra, với mục đích ngăn chặn việc đưa bản thảo này ra nước ngoài và bắt tội tác giả của nó, hoặc đơn giản chỉ là mượn cớ việc chuyển bản thảo này ra nước ngoài để trừng trị tác giả cho bõ ghét.

Theo Hoàng Cầm thì khả năng 2 là chính, ông nhất định cho rằng chính Tố Hữu là người chủ trương, vì căm ghét Hoàng Cầm đã dám chê thơ ông ta (vụ phê bình tập Việt Bắc năm 1956), chưa kể đã “dám nổi tiếng” hơn ông ta trong kháng chiến! Và cũng theo Hoàng Cầm, để làm việc này, Tố Hữu đã sử dụng một số “CA riêng” của mình (viên trưởng phòng điều tra xét hỏi của Sở CA Hà Nội Nguyễn Doãn Nhạ là người Huế, có lẽ là người như thế).

Tháng 2 năm 2022, dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Hoàng Cầm với sự kiện ra mắt cuốn sách “Hoàng Cầm Về Kinh Bắc” ở Viện Pháp (Institut Français) Hà Nội do tôi chủ trì, nhà báo Nguyễn Thành Phong kể trên FB: Hồi đó anh làm việc ở NXB Công an, ông Khổng Minh Dụ trưởng phòng Văn hoá Văn nghệ của Cục An ninh Tư tưởng Văn hoá (A25) có đến NXB khoe là mới “phá” được vụ trọng án Hoàng Cầm, Hoàng Hưng âm mưu chuyển văn hoá phẩm phản động VKB ra nước ngoài! Anh Phong có ý cho rằng vụ này chẳng qua là do ông họ Khổng bơm lên để “lập công”!

Cũng trong dịp này, trong buổi cùng tôi trò chuyện với đài BBC thì cựu đại tá Thái Kế Toại, nguyên trưởng phòng Văn nghệ Cục An ninh Tư tưởng Văn hoá (A25) sau thời ông họ Khổng, lại cho rằng vụ VKB nằm trong chủ trương chung của ngành ngăn chặn mọi việc chuyển các tác phẩm bất lợi cho chế độ ra công bố ở nước ngoài. “Trở lại bối cảnh xã hội Việt Nam đầu những năm 80, Phạm Duy làm Ngục Ca phổ nhạc một chục bài thơ viết trong tù của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đang bị giam giữ. Ngục Ca và Cầm Ca của Phạm Duy càng làm cho không khí văn nghệ hải ngoại và phong trào kháng chiến hải ngoại phức tạp thêm. Từ các căn cứ, chiến khu ở Thái Lan những toán quân biệt kích của Hoàng Cơ Minh, của Võ Đại Tôn tìm cách xâm nhập vào Tây Nam Bộ, vào Tây Nguyên. Miền Trung thì có Phong trào Phun rô. Nhiều toán phản động gây bạo loạn. Làn sóng người vượt biển tỵ nạn. Các đài phát thanh tâm lý chiến, sách báo, băng nhạc, băng video hải ngoại chống Việt Nam. Bối cảnh chung đó ít nhiều là lý do cho việc ngăn chặn ý định đưa một tập bản thảo như Về Kinh Bắc ra nước ngoài”.

(Câu hỏi vẫn phải đặt ra: những ai đã quyết định rằng VKB có nội dung nguy hiểm đến mức phải dựng lên thành “chuyên án” điển hình để ngăn chặn việc chuyển ra nước ngoài các tác phẩm không có lợi cho chế độ?)

Thế là trong lúc cái lưới của “chuyên án VKB” đang giăng ra xung quanh quán rượu Hoàng Cầm ở 43 Lý Quốc Sư, thì tôi ở Sài Gòn ra, vô tình chui vào đó, trở thành con cá cuối cùng để CA cất vó!

Tôi bị bắt chiều 17/8/1982 thì sáng 20/8/1982 công an đến bắt Hoàng Cầm tại nhà.

***

Chuyến đi “định mệnh” của tôi năm ấy còn có thêm vài chuyện cần kể lại.

Nguyên là mùa hè năm 1982, do lãng trí khi đi đường, tôi đâm xe honda vào một chiếc xe tải đang đậu trên đường, kết quả là gãy cả 7 chiếc răng hàm dưới, phải nằm bệnh viện cả tháng trời! Đến tháng 8 thì bị vào tù! Nhiều người phán rằng: Tam hợp (Dần-Ngọ-Tuất) biến tam tai! Tôi tuổi Nhâm Ngọ (1942), năm 1982 là Nhâm Tuất. Mà gãy răng là điềm xui lắm! Lại còn gãy đến 7 cái!

Chuyến ra Bắc lần này cũng có cái chưa từng có: tôi đi theo chiếc xe tải của Nhà máy xe đạp Hải Phòng! Người rủ tôi đi là Đồng Đức Bốn, nhân viên cung ứng của nhà máy vào SG mua các phụ tùng xe đạp đem ra, nhà máy chỉ có việc lắp ráp! Bốn đang tập làm thơ. Anh vốn mê thơ từ lúc rất trẻ. Bốn mới học xong cấp 2 (phổ thông cơ sở) ở trường làng, suốt thời gian tôi dạy môn Văn ở trường cấp 3 An Dương (Phố Rế, Hải Phòng), gần như chiều nào anh cũng đạp xe đến chỗ tôi ở trọ để nhờ tôi góp ý cho những bài thơ anh viết, và truyền cho những kiến thức chung về thơ, dịch cho nghe một số bài thơ nước ngoài! Về sau, Bốn thành nhà thơ rất nổi tiếng với những bài lục bát “nửa quê nửa giang hồ” độc đáo!

Cũng như mọi chuyến đi “công tác” kết hợp đi buôn, lần này tôi giắt trong túi quần jean 10 chỉ vàng nhẫn để mua hàng ở Hà Nội!

HH trước ngày bị bắt

Lần này, ngoài một số “hàng”, trong đó có chiếc máy rửa ảnh, phim giấy ảnh… tôi tình cờ mua được một món rất quý cho riêng mình: Bộ Bách khoa toàn thư (Larousse Encyclopédique) 20 tập mới nhất của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện! Bộ này do một Việt kiều ở Pháp mới gửi về tặng, bác sĩ không giữ riêng cho mình mà rao bán để “cứu đói” cho anh chị em cơ quan (tạp chí Études Vietnamiennes) nhưng chưa bán được (Viện Bách khoa toàn thư của Nhà nước trả rẻ quá!). Người giới thiệu tôi đến mua là ông Nguyễn Kiến Giang, người anh thân thiết với tôi từ năm 1975. Khi đó, tôi mới sinh con đầu Hoàng Ly, cả nhà đói ăn đói sữa, tôi tìm được mối dịch thuê tư liệu cho Viện Thông tin Khoa học Xã hội (trưởng phòng dịch là vợ của Bác sĩ Trần Hữu Tước, một trí thức ở Pháp đã theo Cụ Hồ về nước năm 1946 sau Hội nghị Fontainebleau). Tôi gặp người cựu tù nhân của vụ án “Xét lại” tại đấy!

Nguyễn Kiến Giang là nhà cách mạng hiếm hoi có tri thức uyên thâm. Từng là Phó Giám đốc NXB Sự Thật của Đảng Lao động, ông bị 6 năm tù, 3 năm quản chế trong vụ “Xét lại”. Sau khi ra tù, ông kiếm sống hoàn toàn bằng việc dịch thuê tư liệu. Anh rất tốt, đã nhường cho tôi dịch cả một cuốn sách về sử học, lần đầu tiên tôi kiếm được món tiền kha khá như thế ở Viện! Từ đó, tôi thường đến chơi với anh ở ngôi nhà tập thể phố Tuệ Tĩnh. Anh thường chia sẻ cho tôi nhiều ý tưởng về chính trị xã hội mang tính “xét lại”! Khi tôi vào Sài Gòn, anh còn gợi ý cho tôi đến Tổng Lãnh sự quán Liên Xô (mà không biết là tôi đã chán ngán mọi lý thuyết xã hội chủ nghĩa, kể cả “Chủ nghĩa Xét lại” hay “CNXH Dân chủ”!). Lần này ra Hà Nội thăm anh, anh cho tôi mang về nhà đọc bản đánh máy “Góp ý về đường lối kinh tế của đồng chí Lê Duẩn” phê phán chủ trương xây dựng “Pháo đài Huyện” của ông Tổng bí thư! May mà trước hôm về Sài Gòn tôi đã đem trả lại anh, nếu không công an bắt được tài liệu ấy trong hành lý của tôi thì “tội phản động” còn nặng đến đâu!

HH thăm Nguyễn Kiến Giang tại Hà Nội những năm 1990

Cũng lại may hơn, là tôi đã quyết định không mang theo người vào SG bản thảo cuốn tiểu thuyết “Trư cuồng – Porcinomanie” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh theo đề nghị của anh! Từ thực tế phải sống bằng việc nuôi lợn trong ngôi nhà nát bên con sông Kim Ngưu chảy qua làng Thanh Nhàn thối hoắc vì ô nhiễm, anh Khánh đã viết ra cuốn tiểu thuyết “ngoài luồng” lạ lùng nhất lúc ấy, trong đó phơi bày cuộc sống u tối và cười ra nước mắt của một xã hội đói ăn, tri thức bị rẻ rúng, chiến thắng của lối sống thực dụng, sự theo dõi đầy ám ảnh của an ninh đối với trí thức văn nghệ sĩ! Ghê hơn nữa, cái chuồng lợn của anh đã trở thành hình ảnh một xã hội toàn trị điển hình nơi “tính lợn” hung tàn đã lấn át tính người!

Xin đọc ở đây bài viết về “Trư cuồng” cho bản Ebook mà tôi đã làm năm 2012, tức 30 năm sau đó:

Trư cuồng – lời cảnh báo 30 năm

30 năm, đọc lại Trư cuồng, cảm xúc vẫn như lần đầu. Lần đầu, chuyến đi Hà Nội mùa thu 1982 đầy sự cố, trong căn nhà nhỏ bên dòng Kim Ngưu đen và thối anh trao cho tôi tập bản thảo viết tay mới chỉ lưu truyền trong một nhúm bạn chí cốt. Cuốn truyện đã làm tôi mất ngủ.

Chỉ riêng những trang tả thực cảnh sống thảm thương của một gia đình nhà văn – nhà báo nháo nhác xoay quanh cái chuồng lợn, khi sức khỏe và sự tăng trọng từng ngày của lợn là mục tiêu sống của cả nhà, lũ lợn “nhai gau gáu” hết xương ông Tchekhov đến sọ ông Dos, “nỗi lợn” làm người chồng thành bất lực trên giường… đã đủ sức đánh gục người đọc bởi sự chân thực đầy cảm xúc những trải nghiệm sống của cây bút già dặn. Những trang sử – văn một thời cười ra nước mắt khi cả Hà Nội lao vào nuôi lợn như con đường duy nhất thoát đói nghèo (không chỉ Hà Nội, ở Sài Gòn lúc ấy nhiều hộ ở chung cư nuôi lợn đến nỗi làm tắc hết đường thoát nước!). Xung quanh đó là những câu chuyện bi thương của người lính “B quay” bị dồn đến bước đường cùng, là nỗi chua chát của những trí thức vỡ mộng sau cả tuổi thanh xuân hy sinh cho một lý tưởng cao vời giờ mới thấy không phải dành cho con người sống thực, là nỗi ám ảnh “hình ngục nan đào” với những thẩm vấn, theo dõi, gài bẫy, phản bội… mà ngành an ninh dùng để khủng bố những người viết có tư tưởng “chống đối”. (Tôi nhớ từ lâu mình đã đùa bảo các ông anh Dương Tường, Xuân Khánh, Châu Diên… ở Hà Nội bị cái “flicisme” nó ám – thấy chỗ nào cũng “flic”, thấy ai cũng “flic” (cớm chìm). Trong bài thơ Người đi tìm mặt năm 1973 của tôi có hình ảnh “Mặt ga đêm/miệng mở ngủ/ Giật thức/ mắt kinh hoàng” chính là ám ảnh “flic” ở mọi nơi. Đến khi bị bắt trong vụ Về Kinh Bắc, tôi mới biết các anh không hề tưởng tượng).

Riêng sức mạnh tả thực xã hội ấy của Trư cuồng đã vượt hẳn tầm “hiện thực phải đạo” chung của văn chương chính thống mấy thập kỷ. Nhưng chưa đâu! Cái chưa từng thấy trong rừng văn làng nhàng kia, chính là nỗi suy tư đau đáu về xã hội, về lý tưởng, về cuộc đời… Từ hiện thực của “lợn và người”, anh Khánh suy tư, những suy tư không chút tư biện mặc dù nhiều chỗ “nghĩ thành lời”, độc thoại, đối thoại (kể cả trong những cuộc thẩm vấn).

Ai cũng biết có một thuở suy nghĩ là việc nguy hiểm ở nước ta. Suy tư về lý tưởng chính trị có thể coi là hành động dũng cảm nhất của mấy thế hệ trí thức dấn thân ở miền Bắc Việt Nam. Ở đây dùng từ “hành động” là theo nghĩa triết học, nhưng cũng theo nghĩa rất thật mà an ninh dùng để buộc tội họ. Chỉ cần mấy kẻ gặp nhau, xới lên câu hỏi Que faire? (theo tiêu đề cuốn sách của nhà Cách mạng Dân chủ Nga TK 19) đã là “hành động”, thậm chí “hành động có tổ chức”, đủ để lĩnh một cái “án cao su” có thể kéo dài hết đời người. (Chắc những blogger, những nhà bất đồng chính kiến thời nay thấy từ thưở đó đến giờ câu chuyện có khác về mức độ nhưng vẫn y xì về bản chất!).

Cũng vẫn chưa! Điều day dứt nhất của tác giả Trư cuồng mà hiện thực “lợn” thúc ông đi đến tận cùng của suy tư: đó là “sự ô nhiễm” của chuồng lợn vào xã hội người. Thực ra “tính lợn” đã tồn tại trong con người qua hàng ngàn năm. Bản chất của nó là gì? Theo tác giả, “lợn sinh quan” chính là:

“Hãy chỉ biết ăn – Ăn toàn bèo cũng được. Cứ ăn cho đến lúc cái bụng ta to bằng cái thúng, và thế là cảm giác no nê, thỏa mãn, hạnh phúc sẽ đến. Tuyệt đối chớ nên suy nghĩ, vì suy nghĩ là mầm tai ương”.

Chế độ chính trị hiện đại đã tạo điều kiện cho “tính lợn” trở thành “bái trư giáo”, khi những tên đồ tể lên ngôi với triết lý sống “cắt tiết cuộc đời” rùng mình của chúng. Càng nguy hiểm khi bọn đồ tể, hoặc con cháu mang máu huyết của chúng, hết cần mặc áo máu và cầm dao lá lúa mà vẫn “cắt tiết cuộc đời” một cách êm ả trong bộ thời trang có khi “made in USA” hẳn hoi với những mối quan hệ dằng dịt và đặc quyền hiến định.

Nguy hiểm cao độ khi chính những người trẻ tuổi một thời tâm huyết, có ngày tặc lưỡi tự biện minh việc quẳng những Tchekhov, Dos, Sartre… cho lợn ăn vì nhu cầu “cái bụng trước đã” (có khác gì những khẩu hiệu “vivre d’abord” – sống cái đã – hay “kinh tế cái đã”, “ổn định cái đã”?), để rồi trở thành “con rể” và học trò của bọn đồ tể lúc nào không biết!

Nguyễn Xuân Khánh dạo ấy thật sự bi quan. Ám ảnh “Trư cuồng” (Porcinomanie – danh từ ông bịa ra, nghĩa đen là thói tật sống kiểu lợn) không lối thoát đã đưa anh vào cơn ác mộng mang dáng dấp Trại súc vật của Georges Orwell, một cõi “Cực-Thiên-Thai” mà những “đỉnh cao trí tuệ” toan tính úp lên đầu nhân loại trong đó gã Công dân số 1 hiện nguyên hình con lợn Bò. Rồi anh tỉnh dậy, chứng kiến đứa con trai mê triết của mình quyết định bỏ sách cầm con dao lá lúa đồ tể để cứu cái bụng của cả nhà!

Anh chỉ còn biết hóa thân vào người cựu chiến binh trèo lên ngọn cây kêu lên lời cảnh báo vô vọng “Pooc xi nô ma ni…” rồi ngã xuống chết tốt giữa đám đông ngơ ngác!

Lời cảnh báo 30 năm còn nguyên vẹn. Những dự báo của nhà văn đang thành sự thực nhãn tiền trên đất nước này: “Bái trư giáo” đã biến thành quốc nạn tham nhũng và ăn cướp, thành lối sống trơ trẽn vô sỉ, đẩy lùi văn hóa giáo dục về điểm báo động đỏ. Trong khi lời cảnh báo thiết tha của tác giả vẫn bị nhốt trong ngục tù kiểm duyệt! Đó là một tội ác!

Mãi đến năm 2005, người đọc mới có được một bản Trư cuồng online do anh Châu Diên giới thiệu cho tủ sách Talawas.

Để kết thúc, xin tiết lộ một chuyện lẽ ra đã động trời từ 30 năm trước, liên quan đến Trư cuồng.

Tháng 8 năm 1982, trước khi tôi chia tay các ông anh vào lại Sài Gòn, anh Khánh nói với tôi rất nghiêm chỉnh: “Cậu có cách nào in cái Trư cuồng này ra, bất kể ở đâu, tớ sẵn sàng chịu mọi hậu quả!”. Tôi nhận lời mà thực sự cũng chưa biết cách nào đáp ứng nguyện vọng của anh. Hình thức “samizdat” (tự xuất bản ở Nga thời cuối Cộng) chưa có tiền lệ ở Việt Nam, mà việc gửi ra nước ngoài thì quá nguy hiểm và tôi cũng chưa có đường. Nhưng tôi cứ nhận. Phút chót, bỗng lo bản thảo bị tình cờ phát hiện trên đường đi bởi việc lục soát hàng buôn Bắc – Nam, mà thưở ấy, chẳng thể trông cậy vào đồng lương chết đói, tôi đang kiếm sống chủ yếu bằng những mặt hàng như thế (máy ảnh từ Sài Gòn ra, Hà Nội vào thì phim giấy ảnh, thuốc lá sợi, giấy cuốn thuốc lá, cả mỡ lợn nước…). Tôi bèn nhờ người bạn học “Đảng viên nhưng mà tốt” là anh Lâm Vinh – anh trai Vụ trưởng Lâm Quang Thiệp (Bộ Giáo dục) mang giùm bản thảo Trư cuồng. Anh sẵn sàng. Hôm anh đến nhà tôi lấy thư giới thiệu với anh Xuân Khánh thì biết tôi vừa bị bắt. Thật là “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”. Không bị bắt vì Trư cuồng (nghe còn có lý vì nó “phản động” thật), lại bị bắt (một cách hết sức vô duyên) vì Về Kinh Bắc!

Hôm cùng lên lĩnh giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2006 (tôi: tập thơ Hành trình, anh Khánh: tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn), đứng bên nhau anh Khánh bật cười phụt ra nửa câu về câu chuyện 30 năm cũ, nhưng rồi nhịn lại.

Thì bây giờ tôi kể rõ, vì bây giờ tôi mới thực hiện được cái việc anh gửi gắm 30 năm trước. Và đây, nó là cuốn thứ 4 trong tủ sách HHEBOOKS của tôi. Đây là bản PDF tôi chuyển từ file của anh Châu Diên gửi, chỉ sửa lỗi chính tả đôi chút, và nhờ làm bìa (sẵn sàng để in khi có cơ hội).

Tháng 8 năm 2012

Cuốn tiểu thuyết mãi đến năm 2016 mới được xuất bản chính thống (chắc chắn bản thảo đã bị… biên tập cắt bỏ nhiều chỗ “nhạy cảm”) với tên “Chuyện ngõ nghèo”!

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search

t-van.net © 2024
All images © their rightful owners