Những bài viết trên tờ Viễn Tượng Việt Nam
(từ 2006-2009)
Quán Tâm tên thật là Nguyễn Văn Nhật, tôi gặp anh trước thời kỳ anh viết cho tờ Viễn Tượng Việt Nam. Bẵng đi một dạo khá dài, tôi không gặp lại anh nữa, cũng quên không rõ thế nào. Thế nhưng, có lẽ do duyên mà khoảng hơn một năm trước đây, từ một cuộc gọi qua điện thoại của một người anh em thân, tôi và anh Quán Tâm lại có dịp gặp nhau, ngồi uống cà phê trên đường Nguyễn Du, quận 1, trước cửa nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Mấy lần như thế và mấy lần anh Quán Tâm đến nhà tôi, mang cho tôi một tuyển tập gồm những bài anh viết (của riêng anh) đăng trên tờ Viễn Tượng Việt Nam, có khoảng hơn 30 bài. Ngoài ra, anh còn tặng tôi mấy tờ Viễn Tượng Việt Nam, và chuyển qua email của tôi mấy bài khác nữa.
Từ trong tuyển tập và những bài gửi rời khác, tôi thấy Quán Tâm viết về nhiều vấn đề, như: Vấn đề về dân chủ, Ý nghĩa của sự kiện Thái Hà và Tòa Khâm sứ ở Hà Nội, Chọn lựa ý nghĩa nào cho ngày 30-4? Văn hóa FPT, Bắt Luật sư Lê Công Định, Một giải pháp cho người Việt, Chính thống hay không chính thống, Đất nước luôn cần sự thực tâm vàđoàn kết, Lũ quétv.v…Qua những đề tài như trên, tôi nghĩ anh Quán Tâm là một nhà quan sát tinh tế, anh là một bỉnh bút của tờ Viễn Tượng Việt Nam, có nhiều bài nhất. Tờ Viễn Tượng Việt Nam (VTVN) ra được 35 số từ năm 2006 -2009 thì bị cấm.
Trong số hơn 30 bài nhà báo Quan Tâm gửi tôi, tất cả đều đã đăng trên tờ VTVN, tôi thấy anh đã chú tâm đến “vấn đề dân chủ”, nhưng chưa thấy anh bàn trực tiếp đến dân chủ tại Việt Nam hiện nay, mặc dù anh có những đóng góp ý kiến đối với Phong trào Dân chủ Việt Nam, trong nước cũng như ở hải ngoại. Ở các trường hợp này, tôi thấy Quán Tâm có những nhận xét tinh tế về những ý kiến, những hành vi vô tình hay cố ý phá hoại dối với những hoạt động thực sự cho dân chủ của những người có thiện chí và thực tâm về dân chủ cho dân tộc Việt Nam. Đối với các trường hợp cố ý phá hoại, nhà quan sát Quán Tâm nói thẳng, họ là người của nhà nước CSVN hiện nay.
Các bài viết về dân chủ của Quán Tâm, có 7 đề tài: Các vấn đề về dân chủ, Nhận định và góp ý với Phong trào Dân chủ Việt Nam, Vai trò nặng nề của Phong trào Dân chủ Việt Nam, Bước ngoặc mới đối với Phong trào Dân chủ Việt Nam, Nền dân chủ, sự tồn vong của nhân loại và hoàn cảnh Việt Nam, Nhìn về tương lai gần của Phong trào Dân chủ Việt Nam, Phong trào dân chủ và vấn đề báo chí.
Vấn đề Dân Chủ
Tác giả mở đầu bài này bằng cách nghĩ ngay đến cái cốt tủy của một nền dân chủ thực sự cho Việt Nam, rồi sau đó tác giả điểm qua về dân chủ trên thế giới, từ thượng cổ ở Hy Lạp, ở La Mã rồi thời Trung Cổ, tư tưởng Thiên Chúa giáo xuất hiện ở Âu châu; rồi cách mạng kỹ nghệ ở Anh, cách mạng Pháp, Hoa Kỳ. Rồi Đông phương với tư tưởng Phật giáo …Tác giả cũng nhìn thoáng qua các nước thuộc khối ASEAN…
“Trong phong trào đấu tranh cho một nền dân chủ của Việt Nam hiện nay, nhiều người tự nhận rằng mình đang tranh đấu cho dân chủ nhưng thật ra chưa hiểu thế nào là dân chủ. Họ nghĩ một cách đơn giản rằng, vì cộng sản là độc tài, do đó, chỉ cần dẹp được chính quyên cộng sản là lập tức có dân chủ.
“Vấn đề thật ra không dễ dàng như vậy. Vì nếu không xây dựng được một tinh thần dân chủ và một cơ chế dân chủ, sau khi dẹp được chính quyền cộng sản, đất nước vẫn dễ dàng rơi vào một hình thái độc tài khác. Những chế độ chính trị ở Đài Loan dưới thời Trung Hoa Quốc dân đảng, ở Singapore từ thời Lý Quang Diệu đến nay, ở Mã Lai trong thời Mahathir Mohamad, ở Indonesia dưới thời Sukarno rồi Suharto, ở Philipppine dưới thời Marcos, ở Myanmar dưới thời các tướng lãnh đương quyền… là những thí dụ cụ thể về các chính quyền không cộng sản nhưng vẫn độc tài. Nhiều chính quyền nhân danh sự ổn định, sự tiến bộ và nhu cầu phát triển kinh tế để áp đặt những đường lối phản dân chủ, thực thi quyền lực độc đoán, áp dụng những biện pháp dân chủ trá hình buộc dân chúng phải chấp nhận những chính sách cai trị hà khắc của một người, một nhóm người, một gia đình hay một đảng, kiểm soát tư tưởng của người dân, đẩy người dân vào tư thế là công cụ của nhà nước, không được phép trình bày chính kiến của mình.
“Không có gì khó hiểu khi hầu hết những thí dụ về các chế độ độc tài nói trên đều thuộc về các xứ Đông Nam Á thuộc khối Asean. Bài viết dưới đây mong muốn nêu lên một vài suy nghĩ liên quan đến thái độ cực đoan của những ngưởi đang hoạt động trong phong trào dân chủ.
“Hiểu một cách đơn giản, dân chủ có nghĩa là người dân làm chủ trong việc điều hành đất nước. Vấn đề đặt ra là người dân làm chủ như thế nào, theo cơ chế nào, và trên tinh thần nào. Vì chúng ta thấy, chính những quốc gia độc tài nhất lại được giới cầm quyền to mồm nhất trong việc rao truyền dân chủ” (Viễn Tượng Việt Nam tháng 2/2009)
Trở ngược lại lịch sử chính trị của loài người, chúng ta biết, ờ phương Tây, những thị dân thuộc các thị quốc Hy lạp đã từng xây dựng một chế độ dân chủ trực tiếp, nơi đó, tất cả mọi công dân đều được quyền tham gia ý kiến trong việc điều hành hoạt động của thịquốc. Tuy nhiên,không phải mọi con người sinh sống trong các thị quốc ấy đều có tư cách công dân. Vì thế, hình thái dân chủ trực tiếp dưới thời thị quôc Hy lạp chưa phải là một mô hình khả chấp. Đế quốc La Mã khi thành lập cũng đã áp dụng một hệ thống nghị viện có trách nhiệm đại diện cho một số công dân tham gia vào việc cai trị, nhưng chẳng bao lâu sau, các nghị viên trở thành tay sai cho những lãnh tụ chính trị khiến nền chính trị La Mã trở thành một chế độ quả đầu. Việc phát triển tư tưởng Thiên chúa giáo sau công nguyên vô tình lại là một nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự suy tàn của đế quốc La Mã. Ở phương Tây, quyền lực nhà chung trở nên lấn lướt thế quyền. Những vương quốc, công quốc, hầu quốc ra đời, cai trị lãnh địa của mình theo một chính sách độc tài dựa vào một thể chế quân chủ nhưng các vị vương hầu phải giành được sự ủng hộ của giáo hội Thiên chúa giáo La Mã mới có thể giữ được địa vị chính thống. Thời đại ấy được các sử gia gọi là thời trung cổ. Dưới thời trung cổ, giới tăng lữ và giới quý tộc sống đời sống xa hoa dâm dật trong sự cùng khổ của các tầng lớp lao động đã là một nguyên nhân khiến xã hội luôn biến động, dẫn đến những quan điểm chính trị tiến bộ hướng về quyền con người trong đó có quyền chính trị. Tuy nhiên, phải đến khi cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Anh xảy ra rồi lan truyền khắp Tây Âu, tạo nên một giai cấp công nhân bị bóc lột tàn tệ, các triết gia châu Âu mới quan tâm đến một thể chế khác với thể chế đương đại. Họ đưa ra lý thuyết dân chủ và đào sâu vào những biện pháp mang tính cơ chế để bảo vệ quyền của người dân trước khuynh hướng lạm quyền muôn thủa của giới cầm quyền. Các cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Pháp, cách mạng lập quốc ở Hoa Kỳ đã được gợi hứng từ những tranh luận vê dân chủ của giới trí thức phương Tây thời bấy giờ. Cũng cần phải nói thêm, quan niệm dân chủ phần nào đã manh nha trong tư tưởng của giai cấp lãnh đạo ở Anh. Bản hiến ước Magna Carta do vương triêu Anh ban bố năm 1215 là bản văn đầu tiên được chính nhà cầm quyền xác lập những hạn chế của giới cầm quyền, cho thấy phương Tây có một truyền thống dân chủ tích cực từ rất sớm.
Ở phương Đông, quan điểm dân chủ cũng từng được các nhà tư tưởng nêu lên từ lâu, nhưng ở một hình thái mờ nhạt hơn, chủ yếu nhằm bảo vệ phần nào quyền con người trước sự lạm quyền của giới thống trị chứ chưa quan tâm đến việc phát triển thành một định chê. Tư tưởng Phật giáo tuy mang màu sắc dân chủ nhưng lại chỉ có thể áp dụng trong những cộng đồng nhỏ hẹp, khó có the xây dựng thành định chế cho quy mô quôc gia. Quan điểm Nho gia “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” chỉ khuyến khích nhà cầm quyền quan tâm đến thân phận người dân chứ vẫn cho rằng nhà vua là bậc được Trời giao trọng trách trị dân. Mạnh Tử tuy có nói đến việc dân chúng có thể giết một vị bạo chúa, nhưng không hề bàn đến việc sau đó cần xây dựng một thể chế nào khác với thể chế của kẻ bị coi là bạo chúa. Những tư tưởng Hôi giáo, Ấn giáo, Do Thái giáo đều không khuyến khích dân chủ.
Sau các cuộc cách mạng ở Pháp và ở Mỹ, tư tưởng dân chủ được cổ võ khắp thế giới phương Tây, nhưng trong lúc người Hoa Kỳ xây dựng được một hiến pháp thật sự dân chủ có tính cách uyển chuyển nên được áp dụng đến tận ngày nay, các quốc gia phương Tây khác vẫn loay hoay với những định chế nửa vời khiến dân chủ có lúc đi vào thoái trào. Chính trị phương Tây trong các thế kỷ 18 và 19 vẫn còn là nền chính trị dò dẫm để định hướng dân chủ. Dù sao, hình thức nghị viện cũng đã được áp dụng ở hầu hết các quốc gia phương Tây từ thời kỳ ấy…
Sang đến thời kỳ Pháp xâm chiếm Việt Nam và cai trị VN gần 100 năm, những cuốc kháng chiến của người Việt quốc gia, rồi đến Cộng sản xuất hiện, tác giả đã phân tích về hai lực lượng này trong cuộc chống thực dân. Những điểm khác nhau của hai phía, gọi chung là Quốc-Cộng, hoặc dựa theo đề tài, giữa dân chủ và độc tài. Phía dân chủ thất bại vì họ còn lương tâm, còn cái đạo làm người. Những người ở phía độc tài CS thì không, họ bất cần lương tâm, bất cần đạo làm người, miễn là họ đạt mục đích. Thật đau thương cho phía dân chủ, cuộc chiến thứ hai liền sau cuộc chiến chống thực dân, phía quốc gia dân chủ lại rơi vào thế thua, nhưng không do trên chiến trường mà thất thế từ phía đồng minh. Nhà báo Quán Tâm viết rằng “Nhà cầm quyền CS ngất ngây với chiến quả được sắp xếp trước, phởn phơ tưởng rằng mình thựcsự thắng trận và có sức mạnh vô địch chỉ nhờ tụng niệm kinh của Mác-Lênin, đã thừa thắng xông lên, xóa sổ miền Nam để sáp nhập vào miền Bắc” …
Tác giả Quán Tâm cũng điểm qua tình hình chính trị tại miền Nam Việt Nam từ sau năm 1954 đến năm 1975, qua hai nền Cộng Hòa. Ông viết:
“Khi cộng sản Việt Nam chiếm được một nửa đất nước, những nhà hoạt động dân chủ Việt Nam tập trung về miền Nam cố gắng xây dựng một thể chế dân chủ để đương đầu với cộng sản. Tiếc rằng họ vẫn thiếu đoàn kết và tiếp tục tham gia hoạt động chính trị trong một tinh thần lãng mạn nên chính quyền miền Nam rơi vào tay một viên cựu quan lại thủ cựu có tinh thần bè nhóm là ông Ngô Đình Diệm. Ông này nghĩ rằng mình được Trời trao cho thiên mệnh trị dân, đã tìm cách áp đặt một thể chế dân chủ nửa vời, mặc dù được chính quyền Hoa Kỳ ủng hộ nhưng cũng không chịu nghe theo những đề nghị thiết thực của Hoa Kỳ, xây dựng một chế độ gia đình trị có tính cách độc tài, kết quả là ông bị lật đổ và bị giết. Thời gian sau ông Diệm, chính quyền miền Nam hoàn toàn mất định hướng. Một mặt phải đối phó với cuộc xâm lăng của cộng sản miền Bắc lúc ấy đã trở nên công khai, mặt khác phải dung hoà những quan điểm chính trị của các nhóm khác biệt, miền Nam luôn luôn lúng túng trong mọi hoạt động, mặc dù hiến pháp nền đệ nhị cộng hoà của Việt Nam Cộng Hoà vẫn được đánh giá là bản hiến pháp có tính cách dân chủ và hoàn chỉnh nhất trong số những bản hiến pháp mà người Việt đã viết ra cho đến tận ngày nay.”…
Sau đó, tác giả Quán Tâm suy nghĩ về người dân ở miền Bắc trước năm 1975 và những đảng viên CS có tinh thần “phản tỉnh” đối với Phong trào Dân chủ hiện nay. Ông viết:
“Trên hết, những người sống ở miền Bắc trước ngày cộng sản vào chiếm Sài Gòn và những người đã từng chiến đấu trong hàng ngũ cộng sản cũng đã từng chịu đựng những gian khổ của cuộc chiến tranh, đã từng bị nhồi sọ những quan điểm cộng sản về dân chủ, dù sao cũng vẫn còn những cảm tình với chế độ mà họ đã sống qua. Do vậy, khi những người hoạt động cho dân chủ kêu gọi “tiêu diệt cho hết bọn cộng sản” thì rõ ràng sẽ không được sự đồng tình của rất nhiều người, không phải chỉ ba triệu đảng viên cộng sản có đảng tịch mà thôi.
Việc những người hoạt động cho dân chủ phê phán những người cộng sản đã phản tỉnh cũng là một thái độ hết sức thiển cận. Trong tranh đấu, chúng ta cần phải giành giật từng con người. Những người cộng sản đã phản tỉnh dù sao cũng nêu lên được những sai lầm và tội ác của cộng sản trong quá trình đảng cộng sản điều hành đất nước này với tinh thần cộng sản. Việc họ tiếp tục có cảm tình với gốc rễ cộng sàn của họ là điều tất nhiên, vì dù muốn dù không, đó cũng đã từng là lý tưởng một thời của họ. Điêu đáng quý ở họ là họ dám từ bỏ những quyền lợi đang được hưởng, đứng về phía nhân dân, chống lại những sai trái của bọn cầm quyền đương
thời, chịu đựng những sự bạc đãi của những kẻ đã từng là đồng chí của họ. Nỗi đau đó của họ là lớn. Chúng ta, những người hoạt động cho dân chủ, cần phải trân trọng nỗi đau ấy, cần lôi kéo họ đứng chung hàng ngũ, thay vì chửi bới, phê phán một cách hạ cấp theo kiểu hàng tôm hàng cá như một số người viêt giả danh dân chủ đang tìm cách chia rẽ họ với phong trào dân chủ, một điều có thể được nhận diện là sách lược cộng sản trong việc đối phó với phong trào dân chủ.
Những người hoạt động cho dân chủ cũng không cần phải rêu rao việc chống cộng nữa. Thật ra, ngày nay, tinh thần cộng sản nơi đảng cộng sản đã bị triệt tiêu rồi. Hiện chỉ còn một đảng độc tài Việt Nam câu kết với đảng độc tài Trung Quôc tìm cách khống chế dân tộc Việt Nam trong một chế độ toàn trị hà khắc. Về sách lược của nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay, người ta có thể thấy được hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất, nhà cầm quyềnHà Nội vẫn không thoát khỏi quán tính tư duy cộng sản, thấy rằng nhất thiết phải bám vào Trung Cộng mới có thể giữ vững quyền lực, họ sẽ tiếp tục xưng danh cộng sản cho đến khi chính đảng cộng sản TrungHoa cũng phải đổi tên. Trường hợp thứ hai, một khi họ an tâm được với Hoa Kỳ, họ sẽ từ bỏ quan hệ với Trung Quôc và họ sẵn sàng đổi tên đảng để vô hiệu hoá ngay những chiêu bài chống cộng.
Tóm lại, việc tranh đấu cho dân chủ không còn liên quan gì với việc chống cộng. Vấn đề của những nhà tranh đấu cho dân chủ là phải nỗ lực phổ biến lý tưởng dân chủ cho đông đảo quần chúng. Khối lượng sinh viên học sinh đang theo học trong các nhà trường do chính quyền Hà Nội điều hành phải là đối tượng đầu tiên tiếp nhận việc phổ biến lý tưởng dân chủ mà các nhà dân chủ nhắm tới. Đối tượng này hoàn toàn xa lạ với những cách nói hiện nay của các nhà dân chủ, họ xa lạ với biểu tượng lá cờ vàng ba sọc đỏ, họ không biết đến công nghiệp của những nhân vật như Ngô Đình Diệm hay Nguyễn Văn Thiệu, họ không quan tâm đến quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Họ là những người cần được thoả mãn tự ái bằng việc Việt Nam trở thành vô địch Đông Nam Á về bóng đá hoặc bất kỳ một danh hiệu vớ vẩn nào khác vì họ đã chịu đựng quá lâu với những mặc cảm tự ti. Họ không phân biệt nổi điều gì nên hãnh diện và điều gì cần phải cảm thấy nhục nhã. Chính những nhà dân chủ phải làm cho giới trẻ phân biệt được cái gì là thiết thực, cái gì là phù hoa do nhà cầm quyền Hà Nội cố tình mớm cho họ để họ quên đi thân phận nô lệ mới của chính mình. Viec những nhà dân chủ không đi sâu vào tâm tư nguyện vọng của giới trẻ, hướng dẫn tư duy độc lập của giới trẻ, tiếp tục để cho giới trẻ bị nhà cầm quyền Hà Nội dìm sâu vào cơn say vật chất danh vọng và những vinh quang phù phiêm thì chính là lỗi của các nhà dân chủ. Việc các nhà dân chủ nhắc đi nhắc lại những huy hoàng ngày cũ chỉ là một hình thái trốn tránh trách nhiệm trước thực tại vì không đủ khả năng khơi dậy những tình cảm cao quý của giới trẻ ngày nay. Hơn lúc nào hết, chính những nhà dân chủ phải thấy được dã tâm của nhà cầm quyền Hà Nội khi chính quyền này xiển dương hết mức chủ nghĩa tiêu thụ, khi cho phép các kênh quảng cáo mở hết công suất khuyến khích giới trẻ lao đầu vào việc thể hiện chính mình, trong lúc cuộc sống ngày càng khó khăn. Từ đó, thay vì tán tụng nhau qua những hào quang ngày cũ, các nhà dân chủ cần lập một kế hoạch vạch trần âm mưu tha hoá giới trẻ của nhà cầm quyền Hà Nội, tìm những biện pháp hướng dẫn giới trẻ đến với những hoạt động có thực chất, có tính cách thúc đẩy tinh thần trách nhiệm công dân trong một cộng đồng. Như vậy, tinh thần dân chủ trong giới trẻ mới được khơi gợi. Trong một tương lai gần, nếu nhà cầm quyền Hà Nội tiếp tục chính sách ru ngủ thanh niên, tha hoá con người và nếu các nhà dân chủ cũng không làm gì để khắc phục tệ trạng này thì tình trạng bạo loạn chắc chắn sẽ nổ ra như một điều tất yếu. Vì năng lực nhà cầm quyền Hà Nội không thể nào làm dịu được cơn khát vật chất và danh vọng ở giới trẻ do chính họ thúc đẩy, khi cơn say ấy không được thoả mãn thì chính giới trẻ phải tấn công vào kẻ đã gây ra cơn say. Xã hội sẽ loạn lạc còn hơn tình trạng hiện nay, ít nhất là trong một thời gian mà không một thế lực nào kềm hãm nổi.
Nếu giới trẻ được giáo dục về tinh thần dân chủ đích thực, chắc chắn, một ngày không xa, giới trẻ sẽ cùng với những nhà dân chủ thực hiện việc thanh lý chế độ độc tài đang ngự trị trên đất nước này, trong một bối cảnh hoà bình, không gây đổ máu. Có lẽ đó là điều mà tất cả những người đã từng sống qua những thời chiến tranh đều mong muốn.
2.2009
Nhận định và Góp ý với Phong trào Dân chủ Việt Nam
Tác giả nhận định và góp ý, bằng cách tìm hiểu và mổ xẻ về những kẻ chiến thắng và kẻ thua; tiếp sau đó, tác giả tìm hiểu và mổ xẻ về mấy thành phần trong xã hội Việt Nam hiện nay, ở miền Bắc và miền Nam, sống ở trong nước và những người ra nước ngoài từ sau ngày 30-04-1975. Những người ở trong nước, tác giả xếp vào ba nhóm, người di tản ra nước ngoài cũng có ba nhóm tương tự như vậy
Về kẻ thắng, mở đầu bài viết, tác giả cho rằng cuộc chiến đẫm máu đã kết thúc từ ba mươi năm qua, song cuộc chiến chỉ chấm dứt trên chiến trường, còn trong lòng người thì vẫn còn âm ỉ. Bởi vì theo tác giả, kẻ chiến thắng vẫn kiêu ngạo cho mình là đỉnh cao của trí tuệ và lương tâm nhân loại. Đẩy vào các trại tù quân dân chính VNCH, chiến tranh biên giới, phía Tây nam và phía Bắc. Tác giả Quán Tâm cho rằng, rồi thì “nhà cầm quyền Hà Nội nhận ra họ đã hoàn toàn bị cô lập bởi thế giới loài người tử tế, đến nỗi cuộc chiến tranh biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc chỉ được thế giới coi như chuyện riêng của hai đám côn đồ mệnh danh nhà nước.”
Rồi sau đó,
“Khi thấy rõ nguy cơ sẽ bị hất vào đống rác của lịch sử nếu không kịp thời có những chuyển biến khéo léo hơn, nhà cầm quyền Hà Nội vội vàng trâng tráo đem quyền làm người của công dân làm vật trao đổi để tìm kiếm sự bao dung của thế giới tư bản và tạo ra một đầu cầu để quy phục chính những thế lực mà họ đã từng lớn tiếng thoá mạ. Phẩm vật cống lễ của nhà cầm quyên Hà Nội để được thu nạp trở lại vào vị trí chư hầu của Trung Quốc chính là việc từ bỏ những quyền lợi ngoài biển Đông và những nhân nhượng trên đất liền”.
Kẻ chiến bại –Tác giả nêu ra nguồn gốc của những người ông cho là chiến bai, như: quân dân miền Nam, những người từng sinh sống ở miên Nam trong thời 9 năm kháng chiến chống Pháp nhưng đã nhận biết chân tướng cộng sản của chính quyền Việt Minh, những người đã rời bỏ quê hương miền Bắc để thực hiện cuộc di cư đau lòng trong các năm 1954-1955, những người đã sinh ra và lớn lên dưới thời miền Nam được đặt dưới sự quản lý của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, hiện nay còn ở trong nước hay đã bỏ xứ ra định cư ở nước ngoài – Những thành phần này, vẫn đòi hỏi kẻ chiến thắng phải có một lời giải thích về tất cả những tội ác mà cộng sản đã thực hiện, từ việc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, đến cuộc tấn công tết Mậu Thân mà vết thương của vụ thảm sát ở Huế chưa liền miệng, những vụ bắn phá đặt bom đặt mìn gài lựu đạn ở các khu dân cư giết hại dân lành và trẻ thơ vô tội trong những năm từ 1965 đến 1975, việc cải tạo công thương nghiep ở miên Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, việc lùa quân dân chính miền Nam đi tập trung trong những nhà giam địa ngục khi đã chiến thắng…
Rồi tác giả đề cập đến một quy luật của kẻ thắng, đó là họ “có toàn quyền xây dựng đất nước theo quan điểm và chính kiến của mình, người thua sẽ dần dần phải quy phục. Nhưng cũng theo một quy luật khác, để giành được sự quy phục hoàn toàn của người thua, chính kẻ thắng phải đi trước một bước trong tiến trình hoà giải hoà hợp. Kẻ thắng phải chứng tỏ mình có thành tâm xoá bỏ hận thù, hoàn toàn không phân biệt đối xử. Chính kẻ thắng phải biết mở lối cho người thua hoà nhập vào quá trình phục hồi đất nước sau chiến tranh. Bi kịch của dân tộc Việt là kẻ thắng quá sức kiêu ngạo và tiếp tục mù quáng tin tưởng vào sức mạnh của bạo lực, tiếp tục ngu xuẩn giương cao ngọn cờ đã tả tơi là chủ nghĩa cộng sản. Vì kiêu ngạo, mù quáng và ngu xuẩn, kẻ thắng không thể giành được sự quy phục hoàn toàn của người thua.
Một bi kịch khác của dân tộc Việt là một bộ phận người thua sau khi mất hết về mặt chính trị, đã tập hợp lại được ở hải ngoại và thành công về kinh tế, đủ sức góp phần cưu mang kẻ thắng. Một bộ phận người thua trong cuộc tranh chấp quốc cộng ở Việt Nam khi sang định cư tại Mỹ và một số quốc gia khác đã tạo được một cuộc sống vững vàng và gần hai chục năm qua đã thường xuyên đóng góp cho đất nước mỗi năm hàng tỷ đô la Mỹ.
Sau đó, tác giả Quán Tâm thẳng thắn nói đến một số người thành danh, là kẻ ăn trên ngồi chốc thời còn ở miền Nam, dưới hai nền Cộng Hòa, theo tác giả, những người này vẫn chống Cộng cực đoan và không hề suy nghĩ tại sao miền Nam mất và nhất là không hiểu gì về người Cộng sản. Cho nên những hoạt chống Cộng ở bên ngoài chỉ như “múa gậy vườn hoang” thôi.
“Một nhóm người khác, sau khi sang đến Hoa Kỳ vẫn còn kinh hoàng về những thành công mà họ cho là thần thánh của cộng sản, cũng không nhận biết được lý do nào khiến cộng sản đã chiến thắng, khi được mua chuộc bởi nhà cầm quyền Hà Nội, đã vội vàng trở cờ lên tiếng ca ngợi cộng sản, ca ngợi nhà cầm quyền Hà Nội mà không hiểu rằng nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội chỉ sử dụng họ như những cái loa tuyên truyền rẻ tiền để có điều kiện đàn áp nhân dân trong nước.
Vẫn còn một nhóm người thứ ba là những người có ý thức, ở nơi có điều kiện tìm hiểu kỹ về lịch sử cuộc chiến tranh Việt Nam, đã nhận thức đúng về thực chất của cuộc chiến, đã phân tích để biết những sai lầm của cả hai nền cộng hoà dẫn đến sự thất bại tai hại ngày 30 tháng Tư năm 1975, hiểu kỹ những mưu mô thâm độc của cộng sản, biết sử dụng các biện pháp thích hợp để giúp đỡ nhân dân trong nước tiến hành cuộc đối đầu với nhà cầm quyền Hà Nội để đòi hỏi thực thi một nền dân chủ đích thực.
Những người thua còn lại trong nước cũng có đủ cả ba thành phần như những người thua đã định cư ở hải ngoại. Nhưng vì ở trong nước, hoặc phải chịu sự giám sát chặt chẽ của lực lượng mật vụ dầy đặc, hoặc được trực tiếp vỗ về bởi guồng máy tuyên truyền chính trị của cộng sản, phản ứng của mỗi nhóm cũng có những biến thái khác. Cũng có những kẻ cực đoan sẵn sàng manh động gây nguy hại cho mọi cố gắng phản kháng tích cực. Cũng có những kẻ đầu hàng để trở thành hàng chó săn chim mồi. Trên hết vẫn là những người biết nhẫn nhục nuôi mạng sống, tích cực đóng góp tài năng và kiến thức cho việc xây dựng lại cuộc sống, từng bước vươn lên bằng lòng tự trọng và nhân cách. Trực tiếp sống trong môi trường băng hoại của một xã hội do cộng sản điều hành, họ nhận thức rõ tính cách tha hoá của những con người cộng sản, miệng bi bô đạo đức nhưng bụng đầy những mưu mô gian xảo chỉ nhắm đến vinh thân phì gia. Có thể họ không bao giở nêu chính kiến, nhưng trong từng trường hợp có thể, những phát biểu của họ vẫn có ích cho việc xây dựng nhân cách những người gần gũi, nghĩa là họ vẫn có những đóng góp tuy gián tiếp nhưng xứng đáng cho sự phản kháng tích cực.
Trong hoàn cảnh của một chế độ độc tài, sự phản kháng phải là sự phản kháng tích cực. Nghĩa là người phản kháng phải bảo toàn được chính mình và những người đồng sự với mình. Việc hy sinh là điều bất đắc dĩ. Chính vì thế, những người phản kháng trong nước luôn luôn thận trọng. Và họ bắt buộc phải thể hiện sự phản kháng của mình bằng những biện pháp gián tiếp.
Trong bối cảnh của cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu, sự phản kháng của người dân rất dễ dàng bị chụp mũ khủng bố. Cho nên, chẳng những sự phản kháng phải mang hình thức tuyệt đối bất bạo động mà mọi hoạt động phản kháng còn phải ngăn ngừa có sự trà trộn của bọn khiêu khích, có thể châm ngòi cho sự manh động khiến nhà cầm quyền lấy cớ đàn áp. Cho đến nay, có thể thấy sự phản kháng tích cực nhất là việc tuyên truyền cho phong trào dân chủ, kết hợp với những vấn đề liên quan đến tình trạng xuống cấp của đạo đức, giáo dục và mọi hình thức hoạt động xã hội khác, như vụ bô xít và vụ mất đất liền, mất quyền lợi trên biển chẳng hạn.
Trước khi kết thúc bài viết, tác giả Quán Tâm còn nêu ra một vấn đề quan trọng, là văn nghệ. Làm sao những người hoạt động cho dân chủ trong môi trường người cộng sản đang cầm quyền, cho ra đời những bài hát cộng đồng chứa đựng một nội dung là những mầm mống của tinh thần dân chủ, để giới trẻ hay đoàn thanh niên CS ưa thích, để họ có thể hát vang lên ở bất cứ hoàn cảnh nào hay bất cứ môi trường nào, những bài hát về tinh thần yêu nước, yêu hòa bình, yêu thương nhau…
Chúng ta luôn luôn tin rằng theo thời gian, những quan điểm cực đoan sẽ dần dần bị cô lập. Những người có cái nhìn phóng khoáng về tình hình Việt Nam cần kết hợp lại với nhau, xác định một lộ trình tranh đấu cho dân chủ trên tinh thần không phân biệt xuất xứ, tôn trọng nhau, biết tham khảo lẫn nhau. Không vì khác đường lối hay khác nhóm mà phê phán nhau bằng những lời lẽ thiếu nhã nhặn. Được như thế, chắc chắn một ngày không xa, nền độc tài toàn trị phải cáo chung mà không cần đến bất kỳ một hoạt động bạo lực nào.
(22 tháng 4 năm 2009)
Vai Trò Nặng Nề Của Phong Trào Dân Chủ Việt Nam
Ở bài này, độc giả sẽ thấy một Quán Tâm có cái nhìn rất cởi mở về thành phần có khuynh hướng dân chủ và những tiếng nói về dân chủ cho Việt Nam. Khi Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa trên đảo Phú Lâm, tỉnh Hải Nam, cực Nam của Trung Quốc, ngày 24/7/2012. Hành động này đã bị quốc tế lên án. Đồng thời tác giả cũng đề cập đến những người “vẫn lớn tiếng thóa mạ mọi biện pháp cai trị của đảng cộng sản Việt Nam và nhà cầm quyền Hà Nội. Điều này cho thấy phong trào dân chủ Việt Nam hiện nay là một phong trào rộng lớn và đang tiếp tục tăng trưởng. Nhưng đó cũng chính là tình thế khó khan và vai trò nặng nề của phong trào.”
Và tác giả đã nói đến những khó khan và nặng nề của phong trào dân chủ Việt Nam, không chỉ trong tổ chức, mà thực tế thì không thể thành lập một tổ chức quy củ được, theo tác giả, khó khăn này rất đa dạng, kể cả người đã mất mát quá nhiều vì cộng sản, mà bây giờ lên tiếng chửi rủa cộng sản VN và nhà cầm quyền Hà Nội và còn những thành phần khác nữa. Xin dẫn theo tác giả:
“…với tính cách là một phong trào, những người hoạt động cho nền dân chủ Việt Nam không thể đặt ra nội quy, không thể buộc các thành viên của mình phải phải có kỷ luật, không có biện pháp chế tài khi các thành viên có những ngôn từ hay hành động không thích hợp. Hơn nữa, vì tôn trọng tự do của mọi thành viên, và vì sự hoạt động của các thành viên đều là tự nguyện, phong trào không thể ấn định những quy chế hoạt động, những hình thức thưởng phạt chặt chẽ nhằm tăng cường sức mạnh của phong trào. Chính vì thế, tiêng nói của phong trào là tiếng nói tản mạn của từng thành viên. Nếu may mắn trong một vài thời điểm nào đó những tiếng nói ấy có cùng tần số, có sự cộng hưởng thì tiếng nói của phong trào có sức mạnh. Còn thông thường những tiếng kêu rời rạc của từng người cuối cùng chỉ như những tiếng gào trong sa mạc. Không những thế, đã có lúc có những tiếng nói lạc điệu lại chỉ có tác dụng triệt tiêu âm hưởng chung. Trong hoàn cảnh ấy, từng người một trong phong trào dân chủ cần phải tự kềm chế, tự điều chỉnh đường hướng tư duy và hoạt động của mình, hướng tới lợi ích chung của dân tộc”
(Quán Tâm, Viễn Tượng Việt Nam, Tháng 3/2008)
Trên đây là những khó khăn có tính tổ chức, mọi việc đều tự phát và tự tình nguyện đóng góp ý kiến bằng tiếng nói. Tác giả không tránh né tiếng nói của họ vì tản mạn, nên chỉ như tiếng gào trong sa mạc. Tác giả còn phân tích có những tiếng nói ủng hộ dân chủ với một luận điệu chống Cộng cực đoan, cũng như có những đảng viên đảng cộng sản phản tỉnh, nhưng vẫn còn thấy cái quá khứ của mình, đánh Tây đánh Mỹ và đã đóng góp vào chiến thắng chung cuộc, đất nước thống nhất. Một vài thành phần khác và vài khía cạnh khác có tiếng nói ủng hộ dân chủ, là những yếu tố quý giá và cần trân trong, thì chúng tôi thấy, tác giả Quán Tâm có một tầm nhìn rất rộng, nhân bản, dân chủ lý tưởng và lãng mạn v.v…cũng thật khó mà hình thành. Vì trước hết nó tinh tuyền quá, cao vọng quá. Tác giả tiếp tục đề cập đến những thành phần khác, có những phân tích của tác giả, một người không thuộc hệ phái chính trị nào, một nhà quan sát tinh tế, sâu sắc, chẳng hạn khi ông nhận xét về hai nền cộng hòa ở miền Nam VN từ năm 1955 – 1975, và một số người miền Nam sau khi di tản sang Mỹ, họ vẫn triệt để chống cộng, mà chúng tôi có lúc nghĩ rằng ngôn ngữ của ông dành cho những người trước kia làm việc và chống cộng sản ở miền Nam, nay sống tại Hoa Kỳ, vẫn kịch liệt chống cộng, là nặng nề như thể ông bỏ qua vấn đề tâm lý và cuộc đời ly hương của những người này, không ít người rơi vào trầm cảm, buồn phiền khôn nguôi, có lẽ họ cũng đau lòng khi biết một người ở trong nước nhận xét về họ như thế, tuy là khách quan. Nhưng cái khách quan ấy khá tàn nhẫn. Có thể họ tự nghĩ, người viết bài báo này, có chịu ảnh hưởng của nhà cầm quyền Hà Nội không? Tuy nhiên, chúng ta đang dọc một Quán Tâm trên tờ Viễn Tượng Việt Nam, một tờ báo bị nhà cầm quyền cộng sản kết án là phản động, dược xuất bản bởi nhà tranh đấu cho Dân chủ và nhân quyền Việt Nam là ông Đoàn Viết Hoạt, sau thời gian bị tù, ông bị trục xuất sang Hoa Kỳ. Điều thứ hai, ông Quán Tâm cũng có những nhận xét vả chỉ trích đảng cộng sản và nhà cầm quyền Hà Nội rất gay gắt và nặng nề, chẳng những ở thời chiến tranh mà cả sau khi kết thúc cuộc chiến. Theo chúng tôi, tới đây, dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam cần phải có những người không là người của một hướng chính trị đảng phái nào, mà chỉ có một lòng yêu nước như cha ông chúng ta từ ngàn năm về trước. Lý tưởng của chúng ta hôm nay là Dân chủ, Nhân quyền, Tự do, Hòa bình, Nhân ái.
Dưới đây, tác giả bàn về nhân sự của phong trào dân chủ Việt Nam:
“Trước hết, chúng ta cần nói về thành phần nhân sự của phong trào. Đã có lúc có những người cảm thấy rằng vì họ đã từng chống cộng mấy chục năm qua, đã có vai trò trong chính quyền miền Nam và đã mất mát tất cả khi chính quyền cộng sản tiến chiếm miền Nam, họ chính là những người hoạt động mạnh mẽ nhất cho dân chủ. Và thế là họ có quyền xem tất cả những ai có một chút dây dướng với cộng sản đều là kẻ thù. Thái độ này thể hiện rõ nhất nơi một vài “lãnh tụ” chống cộng hải ngoại. Từ một góc nhìn nào đó, người ta cũng có thể cho rằng, những vị “lãnh tụ” chống cộng hải ngoại ấy cũng chỉ là những người rao giảng một thứ dân chủ giả hiệu, tuy không cùng là thứ dân chủ mà đảng cộng sản Việt Nam và nhà cầm quyền Hà Nội trưng bầy. Xác định cho đúng, họ chỉ là những người chống cộng, và đôi khi, họ chống cộng chỉ vì những quyền lợi của họ đã bị cộng sản tước đoạt. Nên chăng phong trào dân chủ Việt Nam cũng không thể coi họ là các thành viên, và cần phải cảnh giác trước những lập luận của họ? Tất nhiên, khi họ từ bỏ lập trường quá khích, họ vẫn có những đóng góp tích cực đối với việc vận động cho nền dân chủ đích thực của người Việt.
“Trong thời gian qua, không ít những người cộng sản đã nhận thức được những sai lầm của chủ thuyết, những dối trá của lãnh đạo, những tội ác của đảng cộng sản đối với nhân dân, đối với dân tộc, đã can đảm và thẳng thắn bày tỏ tiếng nói của mình. Họ chấp nhận bị trù dập, bị giam cầm, bị đày đọa; họ cũng bỏ mất tất cả những gì họ đã xây dựng. Và có thể thấy, họ tự nguyện từ bỏ những quyền lợi ấy. Trong những phát biểu của họ, có thể họ còn dè dặt, có thể họ chưa thấy hết, có thể họ còn nể nang, do đó họ chưa thể kết tội thẳng những kẻ đã gieo rắc thảm họa cộng sản ở Việt Nam. Không những thế, dù sao họ cũng đã có một thời đứng dưới một lá cờ; có thể trong lúc đứng dưới lá cờ ấy, họ đã từng thực sự cảm nhận sự hào hung của cuộc chiến tranh vệ quốc, họ thực sự có những rung động khi họ nghĩ đến tham dự vào việc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, cho nên họ vẫn còn có những tình cảm với lá cờ của mình. Tất cả những tình cảm đo, những người ủng hộ dân chủ phải biết trân trọng. Vì chính sự trân trọng những tình cảm đó mới làm cho người ủng hộ dân chủ khác với những người cộng sản quá khích, khác với những kẻ chuyên rao giảng các mặt hàng dân chủ giả hiệu. Lưu ý rằng việc trân trọng những tình cảm ấy không có nghĩa là phong trào dân chủ phải chấp nhận tất cả những phát biểu của họ. Cũng như những người chống cộng, đã từng đứng dưới la cờ khác, họ không thể chấp nhận lá cờ của đối phương. Nhưng, ngày nay có cả những người chống cộng và những người từng là cộng sản đều tập hợp quanh một phong trào, phong trào dân chủ Việt Nam. Tại sao chúng ta không thể xóa bỏ những dị biệt để cùng cất cao tiếng nói đòi hỏi một nền dân chủ đích thực?”
Còn thành phần trẻ, tác giả cũng nhận thấy họ cũng đang tập hợp chung quanh phong trào dân chủ Việt Nam, song ông cho biết, thành phần trẻ này “đang hết sức hoang mang trước những tranh luận của lớp cha anh về Quốc –Cộng, về chính thống, về chính nghĩa, về hợp pháp, về hợp lòng dân…”
Và có lẽ chúng ta cũng nên một lần đọc lại lịch sử Việt Nam, theo cách nhìn của Quán Tâm, từ sau khi chấm dứt thế chiến thứ hai vào năm 1945. Từ đó đến nay, dân tộc Việt Nam chịu quá nhiều đau khổ. Cuốc chiến chống thực dân suốt chin năm (1945-1954) bị một thành phần mới nổi là Việt Minh-Cộng sản, có võ trang, được Liên Xô và Trung cộng triệt để giúp đỡ, đã hành động hết sức tàn bạo, diệt trừ hết các lực lượng cách mạng Quốc gia chống Pháp bằng chính sức lực của mình, nên rơi vào thế cô. Nhờ đó, lực lượng Việt Minh-Cộng sản coi như “cầm cờ đi đầu” trong cuộc chiến chống Pháp.
Tác giả Quán Tâm nhìn lại cả hai miền Nam Bắc từ sau ngày đó. Rất đắng cay, nhưng cần nói với các thành phần trẻ về giai đoạn này (từ 1954-1975), bởi các thành phần trẻ này bị bưng bít, chính quyền Cộng sản đã muốn xóa đi những mảng tối của lịch sử này. Nhưng cứ như những nhận xét của tác giả, thì cả hai chính quyền Quốc – Cộng đều có những sai lầm trong việc điều hành đất nước.
“Xét lại lịch sử Việt Nam từ sau chiến tranh Thế giới lần thứ hai tới nay, thực ra chưa có một chính phủ nào thực sự chính thống, có chính nghĩa, hợp với lòng dân”.
Khi xét về việc cai trị đất nước của cả hai chính quyền ở Bắc cũng như ở Nam, tác giả có lời lẽ nặng quá, mà chỉ thấy ở bề ngoài thôi. Cho nên có thể ông sẽ gây xúc động, bực bội nơi những người có lòng trung thành với chế độ này hay chế độ kia. Chính điều này sẽ gây khó khan cho phong trào dân chủ Việt Nam mà tác giả chưa nghĩ tới.
Thế nhưng, theo tác giả Quán Tâm, vì không thể để quá khứ (của cả hai miền Quốc – Cộng) tác động vào sự thống nhất của dân tộc. Nghĩa là cần phải đánh giá trung thực về quá khứ để nhận thức đúng một lần và rồi không nhắc lại nữa. Bởi ông cho rằng, các chính quyền ở Việt Nam từ sau đệ nhị thế chiến tới nay đều thiếu tính chính thống, không có chính nghĩa và cũng chẳng hợp lòng dân. Từ đó, phong trào dân chủ Việt Nam không nên lệ thuộc vào bất kỳ một quá khứ nào trong lộ trình xây dựng một thể chế dân chủ mới. Để thống nhất lòng người, phong trào dân chủ Việt Nam cần hoạch định một đường lối chung, không thiên cộng sản và cũng không lấy những giá trị của Việt Nam cộng hòa trước đây làm chủ đạo. Những người thật tâm với một nền dân chủ đích thực cho dân tộc Việt cần nhận thức rõ là mọi bóng ma quá khứ đều không đáng để nhắc tới. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận quá khứ, mà chỉ là không để quá khứ tác động vào sự thống nhất của dân tộc. (Quán Tâm, Viễn Tượng Việt Nam. Tháng 3/2008)
Đất nước luôn cần sự Thực tâm và Đoàn kết
Ở Việt Nam, ngày 27 tháng 7 hàng năm vẫn được nhà cầm quyền Hà Nội gọi một cách hoa mỹ là ngày thương binh liệt sĩ chỉ vì cách đây hơn nửa thế kỷ, vào ngày ấy, ông Hồ Chí Minh đã gửi một lá thư ngỏ cho những người bị tàn phế và thân nhân của những người bị chết thảm một cách vô ích trong cuộc chiến tranh Việt Pháp mà ông cùng đồng bọn đã cố tình châm ngòi nhằm mục đích tạo cơ hội giành độc quyền yêu nước cho ông và cho đảng cộng sản do ông tổ chức.
Trên đây là lời mở đầu của bài có tiêu đề trên, tác giả Quán Tâm nói vài lời về cuộc chiến tranh Việt – Pháp, để sau đó mới có ngày gọi là Thương binh liệt sĩ, do ông Hồ Chí Minh lập ra.
Sang đến thời ông Nguyễn Minh Triết làm Chủ tịch Nước, ông kêu gọi nhân dân nhân ngày 27 tháng 7 năm 2008, theo bài báo của Quán Tâm:
“…đồng bào và chiến sĩ cả nước hãy biểu thị mạnh mẽ hơn nữa lòng biết ơn” đối với những người đượcgọi là thương binh liệt sĩ, gồmnhững người bị thương tật và chếtchóc trong tất cả những cuộc chiếntranh mà đảng cộng sản Việt Namđã trực tiếp hay gián tiếp phát độngsuốt từ 1945 đến 1991, thời điểmnhà cầm quyền Hà Nội rút quânkhỏi Cam Bốt. Bằng giọng lưỡi dụdỗ, ông ta nhắc đến dấu vết chiếntranh vẫn hiện hữu trên cơ thểnhững người lính trở về từ cuộcchiến khốc liệt và ông ta muốn tỏ “lòng khâm phục những người đã góp phần làm nên sự tích anh hùng trong đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; ngày nay lại nêu gương sáng trên trận tuyến mới không kém phần gian khổ, quyết liệt.” và với giọng điệu tựhào, ông ta huênh hoang, “…Đất nước được rạng rỡ như hôm nay là nhờ sự hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ, đồng chí, đồng bào ta trong các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc vĩ đại.” Dùng ngoa ngữ, ông ta nóithêm rằng, “…nhân dân ta luôn coi việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ…là bổn phận và trách nhiệm cao cả.”
Cũng vẫn với Nguyễn Minh Triết, tác giả nói đến chuyến thăm Hoa Kỳ của nhân vật này hồi tháng 6 năm 2007. Dịp này, ông đã nói đến cộng đồng người Việt ở nước ngoài là “…không thể tách rời với dân tộc Việt Nam. Họ là máu của máu Việt Nam và là thịt của thịt Việt Nam.”
Qua những lời nói trên cửa miệng của một Chủ tịch Nước, kẻ ở trong nước như chúng tôi còn cảm thấy rất bỉ ổi bởi đó không phải là sự thật trong cuộc sống của mỗi người dân bình thường ở miền Nam VN đã “bị-giải-phóng” và vẫn còn sống như kẻ ngoại thuộc, cho dù đã 50 năm trôi qua (1975-2025). Những lời từ Nguyễn Minh Triết nói, chỉ là lời ma mị, nhắm vào những đồng tiền nước ngoài mà thôi. Có lẽ không một ai quên được, ngay từ lúc khởi đầu đưa đến những cuộc vượt biên, họ đã bị kết án là xấu xa, là rác rưởi, không khác gì, trong cuộc di cư năm 1954, khi gần một triệu người dân miền Bắc bỏ quê nhà vào miền Nam tự do, họ cũng bị một trí thức hàng đầu của miền Bắc ngày ấy, viết sách nhỏ (Đổi Mới?), gọi họ là những đĩ điếm, rác rưởi thối tha, ra đi là miền Bắc được sạch!
Xin trở lại với Quán Tâm, tác giả viết tiếp nhân lời nói của Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết dịp ông này sang Hoa Kỳ năm 2007, tác giả bài báo trên tờ Viễn Tượng Việt Nam đã đề cập đến những người lính VNCH đã chết hay bị thương tật trong các cuộc chiến, cũng phải được chăm sóc và nhớ đến họ, nếu nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội thực sự muốn được lòng dân. Ông viết:
Qua lời kêu gọi ấy, người ta thấy ông Triết nhắc nhở mọi người Việt Nam phải biết ơn ngay cả những kẻ bị thương tật và chết chóc do phần lớn đã tham gia những cuộc chém giết chính đồng bào của họ, vì như những bản tổng kêt về các cuộc chiến tranh Đông Dương đã chỉ ra, mặc dù đối tượng của những cuộc chiến tranh do Hồ Chí Minh và đảng cộng sản phát động trong thời gian từ 1945 ñên 1975 là lính Pháp và lính Mỹ, thực ra đại đa số những người bị tiêu diệt bởi bộ đội của ông Hồ lại là thường dân và lính Việt Nam cộng hòa. Tất nhiên, trong chiến tranh thì cả hai phía đều có thương vong. Nhưng suốt ba mươi ba năm qua, sau khi hoàn tất việc cưỡng chiếm miền Nam, trong lúc luôn luôn nhắc nhở đến thương binh liệt sĩ cộng sản, nhà cầm quyền Hà Nội chưa hề nhắc một lời đến thân phận những người bị thương tật và thân nhân của những người chết và mất tích về phía đối-phương-một-thời của họ. Phải chăng những người ấy không phải là đồng bào của ông Triết cùng đồng bọn? Phải chăng những người ấy không hy sinh để bảo vệ tổ quốc, một tổ quốc theo định nghĩa của chính họ, cũng như những người cộng sản đã bảo vệ cái thứ tổ quốc theo định nghĩa của ông Hồ cùng đồng bọn? Mặc dù báo chí cộng sản vốn chỉ là công cụ tuyên truyền của nhà cầm quyền Hà Nội, gần đây, nhà báo Bùi Thanh trên tờ Tuổi Trẻ đã từng công nhận 58 người lính Việt Nam cộng hòa hy sinh trong cuộc hải chiến Hoàng Sa ngày 17 tháng 1 năm 1974 xứng đáng được xưng tụng là những người anh hùng bảo vệ đất nước. Dù sao đi nữa, ngày nay đất nước cũng đã thống nhất về mặt lãnh thổ, nhà cầm quyền Hà Nội nên có một cái nhìn đúng đắn hơn để tạo được sự thống nhất trong lòng người. Ấy là, nhà cầm quyền Hà Nội cần phải có một chính sách nhân đạo thật sự đối với thương binh và thân nhân của những tử sĩ đã hy sinh trong lúc họ chiến đấu dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, cũng như tất cả những người khác đã vô tình bị thương tật hay chết chóc giữa hai lằn đạn. Có như thế thì nhà cầm quyền Hà Nội mới có thể huy động được tâm trí của những người mà ông Triết đã gọi là máu của máu Việt Nam và thịt của thịt Việt Nam. Bởi vì ai cũng biết rằng đại đa số những người đã phải bỏ nước ra đi để đến nay tập hợp thành cộng đồng người Việt ở nước ngoài là những người đã phải chạy trốn sự trả thù tàn bạo giấu mặt của chính quyền cộng sản: sự kiện hàng trăm ngàn người phải đi học tập cải tạo sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 trong đó có hàng chục ngàn người chết mất xác ở những chốn rừng thiêng nước độc là chứng cớ hiển nhiên nhất. Như vậy, có lý nào cái bộ phận “máu của máu Việt Nam và thịt của thịt Việt Nam” ấy lại phảibiết ơn và có trách nhiệm chăm sócnhững kẻ đã tham gia vào việc truysát họ?6 Ngày nay không ai muốnkhơi lại những vết thương đau đớntrong chiên tranh, nhưng nếu nhàcầm quyền Hà Nội chỉ muốn kỷ công riêng những thương binh liệt sĩ cộng sản không thôi thì sự thống nhất trong lòng người sẽ không bao giờ có được. Mặt khác, có phải tất cả những người thương binh cộng sản đều được nhà cầm quyền Hà Nội thật lòng “khâm phục” như ông Triết đã nói hay không? Những người như ông Phạm Trung Phồn ở Thái Bình đang cùng các đồng đội của ông đòi hỏi những quyền lợi chính đáng mà đám quan chức địa phương đã cướp mất của họ có phải là thương binh cộng sản không? Nhà cầm quyền Hà Nội đã đối xử với những con người thật sự anh hùng này như thế nào? Những gì đã nói, nhà cầm quyền Hà Nội cũng nên cố gắng thực hiện, để giữ lại một chút niềm tin nếu còn có của những người thương binh liệt sĩ cộng sản, những người đã trực tiếp đổ máu xương xây đắp chiếc ngai vàng cho những người như ông Triết và…, chứ chưa nói đến những người đã từng là nạn nhân của những người như ông Triết và …
Ngoài chuyện về thương binh liệt sĩ, Nguyễn Minh Triết còn mắc cái tật huênh hoang nhàm chán và làm cho thiên hạ chê bai vì không nghĩ đến cái liêm sỉ của mình. Cái tật ấy, ông Triết nói đến sự rạng rỡ của đất nước hiện nay. Điều nay, khoảng một năm trước khi đi theo Karl Marx, Nguyễn Phú Trọng cũng đã huênh hoang, rằng chưa bao giờ đất nước được như ngày nay, làm cho dư luận nực cười, chê bai…, tác giả Quán Tâm mổ xẻ tỉ mỉ, nhiều khía cạnh của cuộc sống đối với những mặt phía sau của cái “rạng rỡ” mà ông Triết nói đến. Đấy mới là thực chất của xã hội Việt Nam 50 năm, sau ngày 30 tháng 4-1975. Tác giả kể tiếp:
Cũng trong lời kêu gọi ấy, ông Triết có nói đến sự rạng rỡ của đất nước Việt Nam ngày nay. Người ta không hiểu ông Triết nói đến sự rạng rỡ nào. Phải chăng đất nước Việt Nam ngày nay rạng rỡ vì đã có được một viên đảng trưởng đảng cộng sản vừa được vinh dự công nhận là công dân danh dự của thành phố tư bản Seoul, nơi mà cách đây không lâu báo chí bằng tiếng Hàn có nói đến sự nhục nhã của phụ nữ Việt Nam phải bán thân nuôi miệng nơi đất khách quê người? Phải chăng Việt Nam ngày nay rạng rỡ vì có tới vài trăm ngàn phụ nữ người Việt được tham gia vào lực lượng công nhân tình dục trên khắp các quốc gia Đông Nam và Bắc Á châu? Hay đất nước Việt Nam rạng rỡ vì nổi tiếng là nơi mà công nhân không có khả năng chuyên môn nên chỉ xứng đáng được trả đồng lương chết đói và nhờ đó mà có thể thu hút đầu tư trực tiếp của tư bản nước ngoài từ khắp nơi trên thế giới đến để tiếp tục bóc lột sức lao động người Việt, chia chác với những kẻ cầm chịch nền kinh tế? Hoặc đất nước này rạng rỡ vì có những viên chức thanh thản đòi hỏi tư bản ngoại quốc hối lộ hàng trăm ngàn đến hàng triệu đô la cho những hợp đồng phá hoại môi trường? Hay Việt Nam rạng rỡ nhờ có được những gương mặt vênh váo ngồi ghé vào chiếc ghế chủ tịch Hội Đồng Bảo an Liên hiệp quốc hồi tháng qua? Phải chăng sự rạng rỡ đến từ việc những kẻ đóng vai chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ rồi chủ tịch quốc hội đã được hân hạnh tay bắt mặt mừng với những tay trùm tư bản trên khắp thế giới?
Người ta thấy rõ ràng nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay đã hy sinh xương máu con dân để có điều kiện chơi trèo với những kẻ quyền quý khắp thế giới và lấy đó làm vinh dự. Trong khi đó, chính trên những phương tiện tuyên truyền cộng sản, người ta đã từng nghe tiếng kêu gào than khóc của nông dân mất đất mất ruộng vì nhà cầm quyền Hà Nội sính xây sân golf, sính dựng khán đài tổ chức thi hoa hậu hoàn vũ. Người ta đau lòng vì tình trạng ngày càng có nhiều sát thủ trẻ tuổi thản nhiên xông vào tận nhà dân lành chém giết bất kỳ ai chúng cho rằng nhìn thấy ghét. Người ta sốt ruột trước tình trạng học sinh phải bỏ học, hàng năm lên đến con số hàng trăm ngàn. Và người ta nghiến răng chịu đựng trong căm hận vì những biện pháp hành hạ con người được lũ tay chân của nhà cầm quyền Hà Nội sáng chế hàng
ngày theo từng chính sách chế độ được ban bố mà không hề quan tâm đến biện pháp mưu sinh của dân đen. Tóm lại, nhà cầm quyền Hà Nội đã không hoàn thành nghĩa vụ cao quý của một chính phủ là tạo cho công dân của mình một môi trường sống tốt đẹp khả dĩ đem lại sự phát triển cao nhất mọi năng lực cá nhân để đóng góp vào sự phát triển của đất nước, mà chỉ chạy theo những danh vị hão huyền với mong muốn sánh vai cùng các cường quốc năm châu.
Trong bối cảnh ấy, lời kêu gọi của ông Triết trở nên những lời kêu gọi nhục nhã. Vì lẽ người dân lại phải lấy “lá rách đùm lá nát” để lo cho thương binh và gia đình liệt sĩ trong lúc đám quan chức tiếp tục phè phỡn. Thật vậy, chính những công cụ tuyên truyên của nhà cầm quyền Hà Nội cho biết, trong ngày 27 tháng 7 năm nay, “…Phó bí thư thường trực Thành ủy Nguyễn Văn Đua cùng Phó chủ tịch thường trực UBND TP Nguyễn Thành Tài đã đến thăm các cụ là mẹ VN anh hùng, thương binh, vợ liệt sĩ tại Trung tâm dưỡng lão Thị Nghè. Khi biết suất ăn của các cụ tại trung tâm chỉ 8.000đ/ngày, ông Nguyễn Văn Đua đã chỉ đạo ngay trong ngày phải nâng khẩu phần ăn lên 20.000đ/ngày.” Thật lạ! Hình như đám quan chức này ở cung trăng mới về, cho nên mãi đến lúc ấy mới biết được rằng bao lâu nay, những người được chúng quan tâm chăm sóc vẫn chỉ được ăn cháo cầm hơi…
Người ta cũng còn nhớ đến việc nhà cầm quyền Hà Nội làm áp lực để các chính quyền sở tại dẹp bỏ những tượng đài, bi ký tưởng niệm những nơi thuyền nhân Việt Nam đặt chân tới trên bước đường vong quốc. Tất cả những hành động ấy chỉ cho thấy nhà cầm quyền Hà Nội chưa thật lòng trong việc dẹp bỏ quá khứ để cùng nhau xây dựng đất nước, trong lúc vẫn mong muốn lợi dụng thành quả lao động sáng tạo của những người đã từng bị ruồng rẫy.
Đất nước và dân tộc Việt Nam ngày nay đã vô cùng khác trước.
Về mặt con người, ngày nay dân số Việt Nam đã trên tám mươi triệu. Nếu trước đây người Việt có tâm lý ngại rời quê cha đất tổ thì ngày nay người Việt đã có mặt trên khắp thế giới vì nhiều lý do và động lực khác nhau. Việc hình thành những cộng đồng người Việt sinh sống trong những nền văn hóa khác nhau một mặt có thể đóng góp cho sự đa dạng của nền văn hóa Việt, mặt khác cũng sẽ phát sinh những cái nhìn cực đoan của những nhóm người chịu ảnh hưởng những nền văn hóa khác biệt. Trong khi đó, suốt ba mươi ba năm qua, nhờ đã giành được vai trò chính thống trên cả nước, nhà cầm quyền Hà Nội đã nỗ lực thi hành với sức mạnh không hạn chế những biện pháp tha hóa con người cùng với chính sách chia để trị, càng khoét sâu sự chia rẽ trong lòng dân tộc. Sự bùng nổ thông tin khiến cho những cố gắng bưng tai bịt mắt dân chúng của nhà cầm quyền Hà Nội không còn tác dụng nhưng cũng khiến cho nhận thức chung của người Việt chịu sự phân hóa nặng nề. Lịch sử bị xuyên tạc không chỉ bởi nhà cầm quyền mà chính những nhóm người có tham vọng với những chính kiến khác biệt cũng góp phần vào việc làm sai lạc mọi dữ kiện thật, khiến người dân không còn biết tin vào lập trường nào. Không chỉ thế hệ trẻ mà ngay cả những người lớn tuổi cũng cảm thấy mất phương hướng.
Về mặt lãnh thổ, nhà cầm quyền dung dưỡng việc phá hoại môi trường. Sông biển ô nhiễm, rừng núi tan hoang, ruộng vườn trơ trọi, đất nước không bảo đảm điều kiện sống an toàn của người dân Việt trong xứ. Thái độ nhu nhược của nhà cầm quyền Hà Nội trước những lấn lướt của người láng giềng phương Bắc khiến cho lãnh hải Việt Nam đang bị đe dọa, con đường ra biển của dân tộc có nguy cơ bị khóa chặt. Người ta còn nhớ rằng cách đây không lâu, viên Bộ trưởng Quốc phòng Trung quốc Trì Hạo Điền đã tuyên bố, đại ý nói rằng, ảnh hưởng của sức mạnh quân sự và kinh tế của Trung Quôc tác động đến nơi nào thì lãnh thổ Trung Quốc mở rộng đến nơi ấy. Thời gian qua, người ta đã chứng kiến những biện pháp dung dưỡng người Trung Quốc vào Việt Nam đầu tư với mục đích ngăn cản ngầm hoạt động đầu tư của phương Tây, là một trong những tai họa lâu dài của dân tộc về phương diện lãnh thổ.
Trong tình trạng ấy và trước một chính quyền toàn những kẻ chỉ biết vơ vét cho đầy túi tham, rồi mua nhà cửa ở nước ngoài, đưa vợ con sang đấy trước, tác giả đã đề cập đến vấn đề nước sẽ mất, dân tộc sẽ bị nô lệ. Đây không là điều bi quan, mà là một vấn đề của khả thể. Tác giả viết:
Có thể nói, mà không phải vì bi quan và có tính cách khích động, rằng đất nước và dân tộc Việt Nam đang đứng trước nguy cơ mất nước và nô lệ. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam, con người Việt Nam chịu sự chia rẽ trầm trọng như hiện nay. Chính sách chia để trị và những biện pháp tha hóa con người của nhà cầm quyền Hà Nội đã khiến dân chúng không còn biêt tin vào quan điểm nào. Trong trường hợp có biến, nhà cầm quyền Hà Nội không còn đủ tư cách huy động nhân tài vật lực đối phó với sự biến. Những nhóm phản kháng lẻ tẻ cũng không nhóm nào có được uy tín để hiệu triệu dân chúng và tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế. Những tranh cãi về cờ vàng cờ đỏ mới đây càng làm cho tình trạng chia rẽ trở nên trầm trọng thêm.
Đối với những người dân bình thường đã chịu đựng vô số sai lầm của tất cả những lực lượng chính trị quân sự từng có vai trò trên đất nước này từ sau đệ nhị thế chiến, họ thấy cả hai lá cờ mà các nhóm chống đối nhau đang giương lên để làm biểu tượng cho những cuộc tranh cãi đều chẳng có giá trị gì. Thực ra, ngày nay lá cờ vàng ba sọc đỏ chỉ còn giá trị lịch sử là chính, nhưng cũng vì thế mà lá cờ đó trở thành thiêng liêng trong tâm khảm đại đa số những người Việt xa xứ, vì họ là những người quốc gia đã phải trốn sự truy bức cộng sản. Lá cờ vàng ba sọc đỏ vì thế trở thành biểu tượng để cộng đồng ấy nhớ về nguồn cội.
Việc nhà cầm quyền Hà Nội mượn những bàn tay nối dài tìm mọi biện pháp triệt hạ lá cờ vàng ba sọc đỏ ở những nơi có cộng đồng người Việt sinh sống trở thành một hành động cạn tàu ráo máng, khiến ngay cả những người bàng quan cũng
không thể chấp nhận được. Mặt khác, việc những người quốc gia có thái độ quá khích cực đoan trong việc bảo vệ lá cờ của mình cũng chưa phải là hành động khôn ngoan.
Xét vê mặt biến dịch của lịch sử, trận tuyến phân liệt quốc cộng của thời kỳ trước 1975 đã hoàn toàn trở thành quá khứ. Và dù có muốn làm nổi bật khía cạnh này hay khía cạnh khác của cuộc chiến tranh nồi da nấu thịt trước đây nhằm biện minh cho ưu điểm của bên này và phơi bày khuyết điểm của bên kia thì cũng có một sự thực không thể chối cãi là trong cuộc chiến tranh quốc cộng, phe quốc gia đã thua trắng về mọi mặt. Bởi vì sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, phe cộng sản đã giành được vai trò chính thống.
Nói như thế không có nghĩa là nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay đã có được địa vị chính thống. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, họ chỉ mới giành được vai trò ấy mà thôi. Để rồi trong suốt ba mươi ba năm qua, họ đã không thể biến cái vai trò đã giành được thành một địa vị. Chỉ vì họ vẫn tiếp tục những chính sách độc tài tàn bạo. Và vì thế, hiện nay vẫn có một trận tuyến trước mặt họ, đó là thế tương tranh của dân chủ chống độc tài. Điều đáng buồn là những nhóm tranh đấu cho dân chủ vẫn chỉ là những nhóm lẻ tẻ, lại luôn luôn phê phán nhau với những lời lẽ không được lịch sự, cho thấy phần lớn đều bị tác động bởi chính sách chia để trị của nhà cầm quyền Hà Nội.
Đã đến lúc tất cả những người Việt yêu nước không đồng tình với chính sách độc tài đảng trị của nhà cầm quyền Hà Nội phải đoàn kết lại, không phải để chống đối nhà cầm quyền ấy mà để chống đối – một cách ôn hòa và bất bạo động – đường lối độc tài đảng trị đang ngày càng hủy hoại mọi khả năng đề kháng của dân tộc trước những nguy cơ của một thời kỳ nô lệ mới.
Nếu như trước đây, cũng trên những trang báo này, một nhận định đã được nêu lên cho rằng trong phong trào đấu tranh cho một nền dân chủ Việt Nam hiện nay có mặt mọi khuynh hướng chính trị và tôn giáo đã từng tham gia vào sinh hoạt chính trị ở Việt Nam cận đại, thì nay nhận định ấy cần được bổ sung, rằng phong trào dân chủ hiện nay chứa trong lòng nó đại biểu của mọi khuynh hướng chính trị, tôn giáo, văn hóa, xã hội và cả giáo dục nữa. Sự hiện diện của quá nhiều khuynh hướng khác biệt như thế là một điểm yếu, nhưng cũng là điểm mạnh của phong trào nếu những người hoạt động cho dân chủ biết cách dung hóa mọi quan điểm khác biệt để tạo thành một khối thống nhất, biết cảnh giác trước những âm mưu chia để trị của nhà cầm quyền Hà Nội.
Về hai lá cờ, tượng trưng cho những người Quốc gia, là Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và tượng trưng cho nhà nước Cộng sản là Cờ Đỏ Sao Vàng, sẽ đi vào lịch sử một khi những người dân chủ cầm quyền, tác giả Quán Tâm mạnh bạo đề nghị một lá cờ mới. Ông viết:
Giải pháp cho vấn đề là một lá cờ mới đủ để làm biểu tượng cho khát vọng dân chủ của toàn dân. Xét về mặt lịch sử, lần đầu tiên sử Việt nói đến cờ là nói đến ngọn cờ vàng của bà Triệu thị Trinh ngồi trên mình voi phất lên hiệu triệu dân chúng chống quân Ngô. Mầu vàng lại là màu da của người Việt, một sắc dân châu Á. Hầu hết những tộc người sống trên đất Việt đều có thời sử dụng trống đồng và hầu hết những trống đồng đã được phát hiện đều có hoa văn cách điệu hình chim Lạc, một biểu tượng khác của người Việt. Hình chim Lạc cách điệu cũng có thể đặt lên nền vàng để thành một lá cờ. Ba hình vẽ cách điệu chim Lạc đuổi theo nhau trên một đường thẳng đủ tượng trưng cho ba miền Bắc Trung Nam và quá trình Nam tiến của dân tộc Việt. Phải chăng đây cũng là một gợi ý để các nhà hoạt động dân chủ tham khảo?
Và để khép lại bài viết của mình, tác giả kêu gọi toàn dân đoàn kết, không phải để chống nhà nước cộng sản, cho dù là ôn hòa, bất bạo động, nhưng là chống một chế độ độc tài đảng trị. Ông viết:
Vấn đề của dân Việt hiện nay là đoàn kết và thống nhất ý chí. Khát vọng dân chủ đã được người Việt nêu lên ngay từ sau khi Nhật đảo chính Pháp hồi tháng 3 năm 1945 nhưng đến nay người Việt trên khắp nước chưa hưởng được một ngày dân chủ. Tất cả những thể chế xưng danh dân chủ đã từng tác oai tác quái trên đất nước này đều chỉ là giả hiệu, chỉ riêng chính phủ Trần Trọng Kim thực sự có ý thức dân chủ và thực tâm xây dựng dân chủ thì lại chưa đủ thời gian để thoát ra khỏi gọng kềm lịch sử. Ngày nay, lịch sử cần được viết lại trang dân chủ. Và phải được viết lại một cách cấp bách nếu dân Việt không muốn tái diễn cảnh nô lệ. Cũng đã rõ là nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay không muốn và cũng không đủ năng lực đáp ứng khát vọng ấy của toàn dân. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, những người hoạt động cho dân chủ cần phải đoàn kết lại. Mọi sáng kiến nhằm tạo sự đoàn kết và đem lại ý chí thống nhất cho phong trào dân chủ đều cần được nêu lên và thực thi. Chỉ khi phong trào dân chủ gây được sự đoàn kết thì mới đủ sức tạo áp lực dựa trên những biện pháp tranh đấu ôn hòa bất bạo động để nhà cầm quyền Hà Nội buộc phải thực tâm tiến hành những chính sách thiết thực, nhắm đến lợi ích của toàn dân, đem lại an toàn cho đất nước, tránh những tai họa cận kề.
Xin hãy cầu nguyện cho nhà cầm quyền Hà Nội tỉnh táo hơn để có thực tâm thi hành một chính sách đoàn kết. (Tháng 9 năm 2008)
Chọn Lựa Ý Nghĩa Nào Cho Ngày 30 Tháng 4?
Mở bài: Tác giả cho rằng, sự kiện ngày 30 tháng 4, dù đã trôi qua mấy chục năm, nhưng vẫn còn tranh cãi, cả hai phía còn có những người cực đoan, vẫn cho bên mình là phải. Ông viết
Mỗi khi được nhắc tới, sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975 luôn luôn trở thành đề tài tranh cãi gay gắt không chỉ giữa những người đã từng đứng hai bên chiến tuyến Quốc-Cộng, mà còn cả giữa những người hoặc đã cùng theo cộng sản, hoặc đã cùng theo quốc gia. Hơn nữa, ngay cả những người trẻ chưa từng chứng kiến cuộc phân tranh bi thảm của người Việt từ 1945 đến 1975 cũng không thể đồng ý với nhau trước những cách nhận định khác nhau về sự kiện lịch sử này.
Rồi tác giả nhận xet về những thành phần cực đoan và ôn hòa của cả hai phía Quốc- Cộng.
Với những người cực đoan, bên cộng sản: ngày ấy là ngày chiến thắng mở ra một thời kỳ độc lập thống nhất cho cả nước, tiếp theo việc họ đã giành được độc lập cho một nửa nước hồi 20 tháng 7 năm 1954; ngược lại, bên kia, những người quốc gia, chỉ thấy đó là ngày đánh dấu sự chiến thắng của những điều xấu ác trước cuộc chiến đấu tuyệt vọng vì tự do dân chủ kéo dài suốt 21 năm của một khối người quyết tâm chống lại sự tàn bạo của độc tài cộng sản, cuối cùng phải buông xuôi vì không nhận được sự hỗ trợ của quốc tế mà còn bị phá quấy bởi chính những kẻ đứng chung hàng ngũ nhưng không xác định được một lý tưởng chuyên nhất.
Bên cạnh những quan điểm quá khác biệt ấy, vẫn còn những cách nhìn khác của những người có thể coi là ôn hòa và tỉnh táo hơn, những người dần dần nhận ra tính cách ủy nhiệm của cả hai cuộc chiến tranh đông dương, trải nghiệm được bản chất phi nhân của chủ nghĩa cộng sản, chứng kiến những thất bại thê thảm của đường lối xã hội chủ nghĩa trong việc xây dựng ñất nước, hiểu rõ âm mưu bọn lãnh đạo chỉ dùng chiêu bài để lừa mị nhân dân nhằm thỏa mãn cho những tham vọng cá nhân. Họ cũng nhận ra những sai lầm của phe quốc gia trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản.
Quân dội miền Bắc dang tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30-4, 75
Tác giả nhận xet thêm về những người ôn hòa bên phía cộng sản. Tác giả muốn nói đến những đảng viên cộng sản “phản tỉnh”, có người hiện đang nằm trong ngục tù? Tác giả cho rằng những người này, họ luôn luôn khắc khoải trước sự phi lý của cuộc chiến tương tàn khiến họ phải suy ngẫm về thân phận người Việt trong bàn cờ quốc tế, và khi hiểu ra, họ đã thẳng thắn đứng về phía nhân dân, chấp nhận những đày đọa, áp bức, trù dập, tiêu diệt của kẻ đương quyền. Vì họ đã từng đứng hẳn trên một chiến tuyến, có thể họ đã từng có những sai lầm đối với nhân dân trong lúc phục vụ dưới cờ, có thể họ vẫn mang những mặc cảm tự tôn khi nhớ lại những ngày hào hùng đứng dưới cờ, có thể họ vẫn còn mang những mặc cảm xấu hổ khi biết họ đã từng có tội với nhân dân nhưng họ vẫn phải tìm cách bào chữa, cũng có thể họ triệt để hơn trong việc thú nhận những tội lỗi của mình. Dù thế nào, họ cũng vẫn là những người đáng trân trọng.
Họ cũng có thể là những người ngay từ ban đầu đã mơ hồ cảm nhận những sai trái của cả hai phe cộng sản lẫn quốc gia khiến cả hai phe này đều tìm cách bóp nghẹt tiếng nói của họ, nhưng họ vẫn luôn luôn tìm cách đưa được tiếng nói ấy đến với cả hai phe và đến với nhân dân, cũng như đến với toàn thể loài người có lương tri. Chính vì thế, có thể họ đã từng bị săn đuổi bởi cả hai phe…Thế nhưng, bao lâu họ còn tiếp tục kiên trì lập trường trung đạo và còn cố gắng phát biểu những suy nghĩ trung thực của mình, không chao đảo bởi danh lợi cá nhân, không bị mua chuộc bởi những kẻ đương quyền, tiếng nói của họ thực sự cần được chú ý. Vì họ không trực tiếp tham gia việc điều khiển guồng máy chiến tranh của cả hai phía, có thể họ chưa từng gây nên tội ác đối với nhân dân. Nhưng không thể vì thế mà họ tự cho mình cái quyền bôi bác những người ở cả hai phía đã phản tỉnh.
Đối với những người này, ngày 30 tháng 4 năm 1975 chỉ là một mốc lịch sử như mọi mốc lịch sử khác.
Là một mốc lịch sử, ngày 30 tháng 4 năm 1975 có thể coi như ngày đánh dấu việc chấm dứt cuộc chiến tranh tương tàn kéo dài 30 năm giữa hai phe người Việt cận đại. Dù muốn hay không, kể từ ngày ấy, người Việt đã phải sống chung với nhau để cùng xây dựng lại đất nước.
Cái mốc lịch sử, ngày 30 tháng 4, Quán Tâm có cùng một quan điểm với nhiều nhà quan sát khác, ở trong cũng như ngoài nước, nếu nhà cầm quyền Hà Nội ở thời điểm ấy, tuyên bố xóa bỏ hận thù, thực tâm hòa giải dân tộc, để cùng nhau xây dựng đất nước, chăm lo đời sống cho nhân dân ấm no, và yêu thương nhau v.v…thì thật may, thật hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. Nhưng, nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội đã không làm thế, tác giả Quán Tâm viết rằng:
“Việc nhà cầm quyền cộng sản ngay sau đó vội vàng áp dụng những chính sách phản động nhất để kéo lùi đà tiến của cả dân tộc chính là tội lỗi của cộng sản không thể nào ngụy biện bào chữa được. Sự ngoan cố duy trì chế độ chính trị phản động trong lúc buộc phải đổi mới chế độ kinh tế để có thể hội nhập với thế giới khiến tiếp tục làm suy kiệt nguyên khí quốc gia hiện nay lại là một tội lỗi mới của đảng cầm quyền, cũng sẽ không thể bào chữa được. Và chính vì thế, ngày 30 tháng 4 năm 1975 không thể nào có tư cách của một ngày thống nhất, bởi đã rõ: đường lối của kẻ chiến thắng không hề đem lại sự thống nhất trong lòng người, trái lại, càng khoét sâu tình trạng chia rẽ của dân tộc, một tình trạng chia rẽ chưa xảy ra đến mức có chiến tranh.
Tác giả tiếp tục suy nghĩ về ngày 30 tháng 4. Ông cho rằng, ngày này đạ làm cho một bộ phận người dân miền Nam “ngỡ ngàng đến lúc ấy vẫn còn tưởng lầm về chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, không những thế, còn làm chính những thành viên của cái chính phủ và mặt trận tay sai này giũ sạch mọi ảo tưởng”. Mặc dù vậy, tác giả cũng nêu ý kiến rằng “chúng ta cũng không cần thiết phải nhìn nhận ngày ấy như một ngày quốc hận.” Bởi mấy hàng chữ trước đó, tác giả tuy có nói đến những đau thương do cộng sản gây ra, cụ thể là tình trạng vượt biên, cũng chỉ bằng những đau thương đã diễn ra hồi cải cách ruộng đất do chính quyền cộng sản thực hie65nh trên đất Bắc, do đó, chúng ta cũng không cần thiết phải nhìn nhận ngày ấy như một ngày quốc hận”. Có lẽ tác giả nhằm đến mục đích tối hậu là lòng dân thống nhất, nên mọi thành phần khác chính kiến trước đây phải tự xóa bỏ những kỳ thị, hận thù, độc đoán. Bởi tác giả đang tranh đấu, một tính cách tự nguyện và độc lập, cho một nền dân chủ của Việt Nam mai này. Dẫu sao, chúng ta cũng ghi nhận, đó là quan điểm riêng của tác giả Quán Tâm…Nói như thế, nhưng tác giả đã có một ý tưởng khá lạ lùng, là thay vì Quốc Hận, thì từ nay, bắt đầu từ năm 2009, ngày 30 tháng 4 nên gọi là NGÀY QUỐC HỐI CỦA DÂN TỘC VIỆT trên toàn thế giới, nghĩa là ở bất kỳ nơi nào có người Việt Nam sinh sống. Sau đó, ông nói rằng vào đúng giờ trưa ngày 30 tháng 4 năm 2009 sẽ là ngày đầu tiên tổ chức Ngày Quốc Hối này, chính quyền cộng sản sẽ đứng ra tổ chức, đồng bào của các tôn giáo sẽ đến những nơi thờ tự để cầu nguyện, sau những hồi chuông trong cả nước vang lên v.v…Đây cũng là ý kiến riêng của tác giả, chúng tôi dành phần nhận xét cho độc giả.
Ngày 4 tháng 5 năm 2008
Ý Nghĩa Của Sự Kiện Thái Hà Và Tòa Khâm Sứ
Mặc dù bài viết này tương đối ngắn, khoảng 3 trang báo khổ giấy A4, nhưng một người dù không am hiểu kinh nhà Phật lắm, cũng nghĩ rằng, Quán Tâm, tác giả bài viết về sự kiện Thái Hà và Tòa Khâm Sứ Hà Nội là một tín hữu của Phật giáo. Cũng có thể ông không là một tín đồ thực sự của Phật giáo, nếu hiểu một Phật tử đúng nghĩa thì người ấy phải có Pháp danh, phải thỉnh Phật và Kinh về nhà và phải tụng kinh mỗi ngày; ngoài ra còn phải giữ Bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy,chánh ngữ, chánh niệm, … Cho nên, một người lấy bút hiệu là Quán Tâm, ngôn ngữ của nhà Phật, viết về những sự kiện thuộc giáo hội Công giáo, thì đó là một điều cho thấy một dấu hiệu của đoàn kết tôn giáo mà điều này có được thì vấn đề đoàn kết dân tộc tất yếu cũng có được. Nhưng, nhà nước cộng sản đã gạt bỏ tất cả những ý niệm về đoàn kết, về hòa giải dân tộc theo những ý nghĩa thông thường của những người văn minh, nhân bản, tự do và dân chủ, để bắt người khác phải hiểu theo ý nghĩa về đoàn kết, về hòa giải theo lý luận của mình. Cho đến nay, trước một năm, sẽ diễn ra Đại hội XIV vào đầu năm 2026, thì mọi việc như cũ
Chúng tôi muốn nói đến tinh thần của bài báo, tác giả Quán Tâm. Tác giả chỉ nói đến đất đai mà nhà cầm quyền Hà Nội nói là của mình, dựa vào luật đất đai: Ruộng đất thuộc về nhân dân, nhà nước quản lý. Ý nghĩa triệt để hơn là quyền tư hữu của người dân bị tước đoạt, người dân trở thành nô lệ, bao nhiêu bất hạnh thì người nô lệ gánh chịu, tiếng khóc than sẽ rơi vào hoang mạc. Một ý nghĩa khác của sự kiện Thái Hà và Tòa Khâm sứ Hà Nội, đó là Công lý. Giáo dân Công giáo ở Thái Hà và nói chung là Hà Nội, trong chuyện đòi đất đai, cùng một trật họ cũng đòi cả công lý, không chỉ cho giáo dân thuộc Tổng Giáo phận, bao gồm 10 Giáo phận ở miền Bắc Hà Nội, mà còn cho cả đất nước, cho dân tộc, Kinh và đồng báo ít người.
Từ những sự việc xảy ra, tác giả viết:
Đứng về mặt hiện tượng, có vẻ như chính quyền thủ đô Hà Nội đã thắng trong cuộc tranh chấp vô tiền khoáng hậu vừa qua vì rõ ràng nguyện vọng dòi đất của giáo dân Thiên chúa giáo đã không thành đạt. Tuy nhiên, về mặt ý nghĩa của sự kiện thì vấn đề không đơn giản là sự thắng thua.
Trước hết, nếu không có sự kiên quyết của giáo dân Hà Nội, được sự hiệp thông của giáo dân cả nước và rất nhiều cộng đoàn Ki tô hữu trên khắp thế giới, các khu đất trong diện tranh chấp vốn ở vị thế đắc địa, trước đây thuộc quyền sở hữu tập thể của giáo hội Thiên chúa giáo Việt Nam, nay tuy vẫn còn là ‘sở hữu toàn dân’ nhưng có thể đã thuộc ‘quyền sử dụng’ vài chục năm của những kẻ được các vị quan chức tham nhũng của nhà cầm quyền Hà Nội ban phát. Điều này bất kỳ ai có trí hiểu biết thông thường và có quan tâm đến thời cuộc cũng hiểu rõ như thế, chỉ trừ những kẻ quen suy nghĩ bằng cái đầu của người khác mới hiểu ngược lại vì họ đã được người ta mớm cho những suy nghĩ ngược ngạo. Như vậy, trong cuộc tranh chấp vừa qua, tuy chính quyền thủ đô Hà Nội có vẻ giành được thế thượng phong vì đã dập tắt được đòi hỏi của giáo dân Thiên chúa giáo, nhưng những cán bộ cộng sản có thẩm quyền đã lỡ cam kết ban phát quyền sử dụng các khu đất ấy cho thuộc cấp hay cho các công ty đầu tư nước ngoài lại phải ngậm bồ hòn làm ngọt vì không thực hiện được cam kết của mình.
Thứ hai, trong quá trình xảy ra tranh chấp, vào lúc cao trào của cuộc tranh đấu do giáo dân thực hiện, chính quyền thủ đô Hà Nội đã phải viện đến khá nhiều hạ sách, kể cả biện pháp xấu xa nhất là việc khích động lòng căm thù lương giáo. Bằng trò ném đá dấu tay nhưng lại để lòi đuôi, chính quyền thủ đô Hà Nội mượn tay các tổ chức ngoại vi của đảng viết bài nhắc lại lịch sử hàm ý kết tội giáo dân Thiên chúa giáo Việt Nam đã từng đóng vai trò đạo quân thứ năm giúp thực dân Pháp xâm lăng nước ta; gián tiếp khích lệ những người không theo Thiên chúa giáo phản đối cuộc tranh đấu của giáo dân Hà Nội. Rất may, ngày nay người Việt đã hiểu rõ chính sách chia để trị của nhà cầm quyền Hà Nội nói chung, của chính quyền thủ đô Hà Nội nói riêng, nên đã không xảy ra việc người không theo đạo Thiên chúa phản ứng với cuộc tranh đấu chính đáng của giáo dân Hà Nội. Rốt cuộc, những bài viết có tính cách khích bác ấy chỉ đủ để là bằng chứng tố cáo dã tâm chia rẽ dân tộc của nhà cầm quyền Hà Nội miễn sao thỏa mãn tham vọng của họ bằng mọi giá.
Trong cuộc đòi lại đất đai và công lý của những giáo dân Hà Nội, nhà cầm quyền Hà Nội đã bầy ra nhiều trò ma quỷ, kể cả việc sử dụng linh mục công giáo để bênh vực việc làm sai trái của mình, nhưng nhà nước cộng sản chỉ có mặt tại Hà Nội từ sau ngày 20-7-1954 thôi, còn giáo hội Công giáo Việt Nam, ở Đàng Ngoài, chính thức được thành lập dưới danh xưng Địa phận Tây Đàng Ngoài và Nam Đàng Ngoài vào ngày 14-01-1846. Vì vậy, mọi giấy tờ, văn bản gốc về đất đai thuộc quyền sở hữu của giáo hội đã được thiết lập ngay ở thời kỳ này. Cho nên, chính quyền Hà Nội thua. Vì thua, nên Nguyễn Minh Triết, chủ tịch Nước, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ đã phải sang Vatican cầu xin ở đây giúp đỡ họ. Một lần nữa, Vatican mắc lừa cộng sản. Giáo dân Công giáo Việt Nam đau lòng lắm, đành gạt nước mắt nhìn vị Tổng Giám mục đáng kính yêu của họ là Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt rời Tòa Giám mục Hà Nội để lui về làm một Đan sĩ của Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình. Cái thua thứ hai của chính quyền Hà Nội ngày ấy là khu đất Tòa Khâm sứ đã không thể trở thàh một khách sạn đàng điếm, đĩ thõa diễn ra ngày đêm của những kẻ nhiều tiền bạc. Nó đã trở thành công viên Hàng Trống. Vì thế, nay đất này thuộc sở hữu toàn dân…
Trong vụ việc ở Thái Hà và Tòa Khâm sứ Hà Nội, còn một khía cạnh khác liên quan đến giáo dân Công giáo thuở khai sinh. Họ bị gán cho tội “theo Tây” hay “thông đồng với thực dân”… Điều này không đủ mạnh theo ý muốn của Hà Nội trách nhiệm trong vụ ấy. Bởi vì, sử sách và nhiều chứng cứ cho thấy giáo dân vô can.
Tác giả Quán Tâm đã nhìn vào khía cạnh này, và đưa ra mấy vấn đề:
1.Việc Pháp xâm lược VN vốn là một bộ phận tât yểu của chinh sách thực dân phương Tây trong thế kỷ 19 khi nền tư bản non yếu của phương Tây bắt đầu đi tìm thị trường mới và nguồn nguyên liệu mới cho hoạt động kỹ nghệ của nó. Không ai phủ nhận việc các giáo sĩ Thiên chúa giáo hăm hở truyền đạo Chúa có mặt trong các đoàn quân viễn chinh phương Tây, nhưng không vì thế mà có thể kết luận rằng người Thiên chúa giáo Việt Nam sẵn lòng làm tay sai cho thực dân. Có thể khẳng định rằng: ban đầu, chính những chỉ dụ cấm đạo của vua chúa phong kiến Việt Nam đã góp phần đẩy người Thiên chúa giáo Việt Nam đứng về phía đối kháng với nhà cầm quyền; sau đó, chính những phong trào bình Tây sát Tả của các văn thân VN lại thực sự buộc người Thiên Chúa giáo Việt Nam phải lựa chọn một chỗ đứng nhọc nhằn là chống lại đồng bào mình. Người giáo dân Việt Nam trong giai đoạn dó chính là những nạn nhân.
2.Quá khứ không phải là cơ sở để kết luận toàn bộ tương lai. Mọi con người đều có khả năng thay đổi để trở nên tốt ñẹp hơn. Trong những hoàn cảnh không thuận lợi, có thể đã có những người Thiên chúa giáo Việt Nam góp công vào việc giúp đỡ thực dân Pháp xâm lược đất nước mình. Nhưng phải chăng chỉ có người Thiên Chúa giáo mới làm như thế? Trong hàng ngũ những người thỏa hiệp với Pháp ngay từ đầu, chẳng lẽ chỉ có những người Thiên chúa giáo mà thôi hay sao? Vì thế, việc gợi ý rằng người đồng bào Thiên Chúa giáo sẽ tiếp tục đóng vai trò đạo quân thứ năm của ngoại bang là một kết luận hoàn toàn ác ý, chỉ có mục đích gây chia rẽ dân tộc, chứ không chỉ là một nhận định chủ quan phiến diện mà thôi.
3.Đã công nhận mọi tôn giáo đều bình đẳng thì việc khích bác giữa các tôn giáo là vi phạm quyền bình đẳng của các tôn giáo. Đã công nhận các tôn giáo có quyền truyền giáo thì việc lên tiếng cảnh giác về âm mưu giành giật tín đồ giữa các tôn giáo cũng là vi phạm quyền tự do truyền giáo. Việc các tôn giáo phê phán các tín điều của nhau là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của người khác. Luật pháp Việt Nam công nhận quyền tự do có tôn giáo và không có tôn giáo, nhưng không vì thế mà người không có tôn giáo được quyền phê phán tín điều của người có tôn giáo. Việc sử dụng lịch sử để ám chỉ người theo tôn giáo này hay người theo tôn giáo kia đã có thời hành sử sai trái đối với dân tộc cũng là hành vi xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng.
Nay, xin trở lại với ý nghĩa của vụ Thái Hà và Tòa Khâm sứ Hà Nội.
Thứ ba, lâu nay truyền thông nhà nước cộng sản luôn chiếm ñộc quyền ban phát tin tức cho toàn dân. Tin tưởng vào vai trò ñộc quyền ñó, trong quá trình tranh chấp ñất ñai ở Thái Hà và Tòa Khâm sứ Hà Nội, chính quyền thủ ñô Hà Nội ñã mở hết công suất ñưa tin một chiều bằng cả báo viết, báo nói, báo ñiện tử và báo nghe nhìn. Tiếc thay cho họ, trong thời buổi bùng nổ thông tin, trước những sự kiện diễn ra quá rầm rộ ngay tại thủ ñô, người dân ñã buộc phải tìm hiểu sự thật bằng những kênh thông tin khác. Và họ ñã phát hiện tính cách dối trá của truyền thông nhà nước. Tất nhiên, không phải chỉ từ vụ Thái Hà và Toà Khâm sứ người dân mới biết rằng truyền thông nhà nước chỉ toàn dối trá, nhưng chính nhờ vụ Thái Hà và Tòa Khâm sứ mà số lượng người nhận thức ñược tính cách dối trá của truyền thông nhà nước ñã tăng lên gấp bội. Ý nghĩa quan trọng của vấn ñề là từ nay, sẽ ngày càng có nhiều người dân tìm ñến thông tin từ những nguồn phi quốc doanh.
Thứ tư, nhờ việc theo dõi thông tin của vụ Thái Hà và Tòa Khâm sứ trên những phương tiện truyền thông phi quốc doanh, những người lâu nay thiếu cảm tình với đồng bào Thiên Chúa giáo – vì khác tín ngưỡng và vì có sẵn thiên kiến do đã tiếp thu những luận điệu tuyên truyền ác ý – chứng kiến sự kềm chế và tính kỷ luật của người giáo dân trong quá trình tranh đấu, họ bắt đầu cảm phục tinh thần hy sinh của người đồng bào Thiên Chúa giáo của mình. Họ bắt đầu chuyển hoá nhận thức của họ về người đồng bào Thiên Chúa giáo. Họ bắt đầu xét lại những định kiến trước đây về người đồng bào Thiên Chúa giáo. Họ mơ hồ hiểu được tại sao vào năm 1954, hầu hết giáo dân Thiên Chúa giáo đều tìm cách rời bỏ miền Bắc vào Nam. Cũng xin nói thêm, không phủ nhận rằng lúc phong trào di cư 1954 nổ ra, những kẻ giúp đỡ tổ chức cuộc di cư đó như Edward Lansdale và Thomas Anthony Dooley III đã chế ra một khẩu hiệu cực kỳ ngu xuẩn rằng “Chúa đã vào Nam” để kích thích người Thiên Chúa giáo rời bỏ miền Bắc, những người bình tâm suy nghĩ đã nhận ra rằng, khẩu hiệu ấy chẳng những không phản ánh đúng lý do thôi thúc người miền Bắc di cư mà còn làm hại cho ý nghĩa chính trị của cuộc di cư vĩ đại năm nào.
Thứ năm, vào lúc cuộc đấu tranh của giáo dân Hà Nội lên đến đỉnh điểm của nó, chính quyền thủ đô Hà Nội lại bồi tiếp một thủ đoạn cực kỳ xấu xa bằng việc cắt xén câu nói trung thực của ngài Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt nói lên tình trạng nhục nhã của người Việt cầm hộ chiếu Việt Nam khi ra nước ngoài để vu cáo rằng ngài Tổng Giám mục không có tinh thần yêu nước, coi thường tư cách công dân Việt Nam. Khi các phương tiện truyền thông phi quốc doanh trưng ra đầy đủ lời phát biểu của ngài Tổng Giám mục, người dân hết sức ngỡ ngàng trước thói ‘cả vú lấp miệng em’ của chính quyền thủ đô Hà Nội. Từ đó, người dân Việt hiểurằng họ không còn có thể tin được bất kỳ một thông tin nào xuất phát từ hệ thống công quyền cộng sản. Một điều đáng chú ý là sau đó, báo Công Giáo và Dân Tộc, một tờ báo vốn được coi là cơ quan tuyên truyền ngoại vi của đảng cộng sản Việt Nam trong hệ thống tôn giáo vận, đã đăng tải nguyên văn bài phát biểu của ngài Tổng Giám mục, cho thấy có sự chuyển biến trong nhận thức của những người Thiên Chúa giáo vẫn phục vụ hoạt động tuyên truyền một chiều của đảng cộng sản.
Thứ sáu, mọi người đều biết rằng một trong những nỗi uất ức sâu sắc nặng nề nhất hiện diện trên khắp cả nước suốt hàng chục năm qua có nguyên nhân từ tình trạng cán bộ của đảng cộng sản Việt Nam và của nhà cầm quyền Hà Nội dựa vào quy định đất đai là sở hữu toàn dân để đẻ ra vô số những biện pháp chính quyền nhằm cướp bóc lúc trắng trợn lúc tinh vi cả đất đai lẫn nhà cửa của nhân dân. Việc khiếu kiện về đất đai và nhà cửa đã là nỗi nhức nhối của nhân dân khắp nước. Hành động của giáo dân Thiên Chúa giáo đòi đất tập thể chính là một cách bày tỏ thái độ thông cảm với những người bị cướp đoạt đất đai nhà cửa mang tính cách cá nhân. Việc nhà cầm quyền Hà Nội dùng thủ đoạn biến các khu đất tranh chấp thành công viên chứng tỏ sự thất lý trước giáo dân. Diều này có tính cách khích lệ đối với những người đang tiếp tục đòi công lý cho bản thân mình và gia ñình mình.
Thứ bảy, bản văn trình bày quan điểm của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về hoàn cảnh đất nước cho thấy cơ cấu quyền lực cao nhất của giáo hội Thiên Chúa giáo ở Việt Nam đã nhận định một cách sắc sảo về những điều hết sức cụ thể trong tình hình Việt Nam hiện nay. Một trong những đề nghị của Hội Đồng Giám Mục là luật pháp cần phải điều chỉnh sao cho ‘người dân có quyền làm chủ tài sản, đất đai của họ, đồng thời người dân cũng phải ý thức trách nhiệm của mình dối với xã hội. ’ Ngoài ra, trong bản văn nói trên, Hội Đồng Giám Mục đã công khai nói đến việc thông tin bị truyền thông nhà nước bóp méo và cắt xén làm ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của cá nhân cũng như tập thể. Bản văn này cũng đã được đăng tải công khai trên tờ Công Giáo và Dân Tộc. Đây là lần đầu tiên, những lời lẽ trực tiếp đánh thẳng vào tư cách lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam được đăng tải công khai trên báo do đảng cộng sản kiểm soát.
Thứ tám, sau khi đoàn đại diện của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam tiếp xúc với viên Thủ tướng đại diện cho nhà cầm quyền Hà Nội, truyền thông nhà nước lại đưa ra một thông báo hết sức trịch thượng trong khi sau đó Hội Đồng Giám Mục chỉ gửi chung cho giáo dân một lá thư đơn sơ cho rằng nhờ sự cầu nguyện của giáo dân mà cuộc gặp gỡ đã có sự trao đổi thẳng thắn khiến con đường đối thoại đã được khai mở sau một thời gian tưởng như bế tắc. Tuy vậy, các ngài vẫn nhắc nhở rằng giáo dân cần phải tiếp tục hiệp sức cầu nguyện vì ‘con đường đối thoại tìm về chân lý, công lý và lợi ích lâu dài của đất nước…đòi hỏi khôn ngoan và kiên nhẫn. ’ Lời lẽ của bức thư cho thấy người ta cần phải đọc giữa hai hàng chữ. Ý nghĩa của vấn đề là viên Thủ tướng kia vẫn đang cần sự thông cảm của các vị lãnh đạo tinh thần. Đây là một sự kiện vô cùng mới trong chế độ cộng sản.
Tác giả kết luận:
Trở lên là một số thông điệp mặc nhiên mà người quan sát có thể nhận ra từ sự kiện Thái Hà và Tòa Khâm sứ. Từ những thông điệp đó, người ta có thể nhận ra rằng trong tình hình hiện nay, những người đồng bào Thiên Chúa giáo đang chọn con đường thực sự đồng hành cùng dân tộc, cùng chia sẻ nỗi đau của những người dân thấp cổ bé miệng bị cường quyền bắt nạt. Và họ đã chứng tỏ rằng nếu có sự đoàn kết thì dù cho có bị bắt nạt, sự bắt nạt ấy cũng không thể quá thô bạo. Trên hết, để tìm được chân lý, công lý và lợi ích lâu dài cho đất nước, người đi tìm cũng cần phải khôn ngoan và kiên nhẫn. Và điều quan trọng là phải biết đối thoại. Người đồng bào Thiên Chúa giáo đã từng bị mang tiếng thông đồng với giặc. Bằng hành động dũng cảm cầu nguyện tìm chân lý, công lý và lợi ích lâu dài cho dân tộc, người đồng bào Thiên Chúa giáo xứng đáng được coi trọng như mọi con dân Hồng Lạc khác. Việc tiếp tục khơi gợi chuyện cũ với lối trình bày xuyên tạc lịch sử theo tính cách bới lông tìm vết để khích động căm thù luôn là những biện pháp xấu xa nhất, không xứng đáng với tư cách con Lạc cháu Hồng. Hy vọng những ai còn ngờ vực thiện ý của vụ tranh đấu Thái Hà và Tòa Khâm sứ phải biết nghĩ lại để thấy rằng đất đai chưa bao giờ là điều quan trọng, mà chân lý, công lý và lợi ích lâu dài của dân tộc mới đáng kể. (Viễn Tượng Việt Nam, Tháng 11-2008)
Nhận xét về tác giả Quán Tâm:
Trên đây là một số ít, rất ít, chưa được 1/3 số bài anh Quán Tâm viết và in trên tờ Viễn Tượng Việt Nam, sau đó anh đã gửi hết cho tôi, khi tôi ngỏ lời với anh là sẽ viết về anh cùng một số bạn hữu văn chương khác.
Anh Quán Tâm viết về nhiều đề tài, ký nhiều bút hiệu khác nhau như: Tâm Thông, Quang Phục…Trong số hơn 30 bài, đề tài về dân chủ là nhiều nhất, 08 bài, không kể còn một số bài khác mà phần nội dung, tác giả cũng đá động đến vấn đề dân chủ. Đấy là một chọn lựa chính xác của tác giả Quán Tâm, trong thời kỳ tờ Viễn Tượng Việt Nam xuất hiện, từ năm 2006-2009, ra được 36 số báo.
Một số bài ngoài đề tài dân chủ:
-Sánh vai cùng năm châu (Dịp Hội nghị APEC 14 do Việt Nam đăng cai) (VTVN tháng 12-2006)
-Học tập gì ở đạo đức Hồ Chí Minh
-Thảm họa cần báo động
-Tìm hiểu vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa để có một thái độ thích hợp
-Từ hội thảo về tranh chấp chủ quyền biển Đông đến hành động để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ
-Tản mạn trước thềm Đại hội (ĐH 10 ĐCSVN)
-Nhận diện cuộc đảo chánh Bolshevik năm 1917 trong cuộc đấu tranh cho một nền dân chủ ở Việt Nam
-Nhân cái chết của ông Võ Văn Kiệt (Ký tên Quang Phục)
-Vài suy nghĩ nhân sự biến Tây Tạng
-Văn hóa FPT (ký tên Quang Phục)
-Chọn lựa ý nghĩa nào cho ngày 30 tháng 4 (ký tên Tâm Thông)
-Ý nghĩa của sự kiện Thái Hà và Tòa Khâm sứ (Tháng 11/2008)
v.v….
Trở lại về vấn đề dân chủ, một chọn lựa sáng suốt của Quán Tâm, bởi dân chủ là chuyện quan yếu hàng đầu của Việt Nam sau hàng trăm năm lệ thuộc, độc tài, chiến tranh, người dân Việt chịu bao nỗi oan khiên, uất ức mà không biết kêu đến ai! Bây giờ, mọi con tim, mọi tấm lòng phài gào thét lên bốn chữ: “Việt Nam Dân Chủ!” – “Việt Nam Dân Chủ!”
NỀN DÂN CHỦ, SỰ TỒN VONG CỦA NHÂN LOẠI VÀ HOÀN CẢNH VIỆT NAM
Với tiêu đề này, tác giả quan sát tình hình thế giới về nhiều vấn đề đã và vẫn đang xảy ra, ảnh hưởng đến sự tồn vong của nhân loại, trong đó có Việt Nam. Tác giả nhận xét cách tổng quát về tình hình những quốc gia dân chủ và những quốc giả do nhà cầm quyền độc tài lãnh đạo.
Trước hết, tác giả nói đến vụ quân khủng bố tấn công vào khách sạn Taj Mahal ở Mumbai, Ấn Độ hồi cuối tháng 11-2008, vụ khủng bố ngày 11-9-2001 ở Trung tâm Thương mại Quốc tế tại Nữu Ước; tác giả cũng nhắc đến “những người dân Việt vào độ tuổi trung niên đã từng sống ở miền Nam Việt Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 vẫn chưa thể nào quên được nỗi kinh hoàng mà bọn “gieo rắc sợ hãi” gây ra khi chúng tiến hành những hành động hoạt động nhằm đem lại tiếng vang về quyết tâm chống Mỹ của một bộ phận người Việt.
Rồi tác giả nói đến chiến dịch chống khủng bố, mà theo tác giả, những hoạt động khủng bố chắc chắn là một trong những hoạt động tồi tệ nhất mà con người đã nghĩ ra từ lâu để sử dụng trong việc tranh giành quyền lực. Bởi vậy, ông tỏ ra hoài nghi về những hành động của một số chính phủ trong việc chống khủng bố.
Ông viết:
Điều đáng nói là thái độ của các chính phủ trong việc tham gia vào chiến dịch chống khủng bố toàn cầu hiện nay đã khiến cho dư luận nghi ngờ rằng những kẻ cầm quyền chỉ sử dụng chiến dịch chống khủng bố như một chiêu bài để gia tăng sự đàn áp đối với những tổ chức đối lập chính trị ôn hòa. Dư luận còn nghĩ rằng chính các chính phủ đã tham gia vào việc nuôi dưỡng bọn khủng bố để có lý do duy trì áp lực kiểm soát trên các nhóm đối lập.
Sau đó tác giả đề cập đến một số lãnh vực có tính toàn cầu, như về suy thoái kinh tế, đổ vỡ tín dụng liên quốc gia, sự phá sản của những đế chế tài chánh vững mạnh hàng đầu trên thế giới, nguy cơ cạn kiệt nguồn năng lượng, những xì căng đan về nhiễm độc thực phẩm, dược phẩm và sản phẩm biến đổi gien… đã làm gia tăng nỗi hoang mang của con người….Có vẻ như sự dối trá đã trở thành một tiêu chuẩn đạo đức mới của quyền lực khiến cho mọi chính phủ đều thi nhau tiến hành những chính sách lừa gạt, lừa gạt dân chúng và lừa gạt những chính phủ khác. Ngay cả tổ chức quốc tế lớn nhất là Liên hiệp quốc cũng ngày càng mất uy tín. Trong khi đó, những vấn đề ảnh hưởng đến sự tồn vong của loài người đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, đòi hỏi sự hợp tác chân thành của toàn thể loài người mới có khả năng giải quyết được; đó là vấn đề ô nhiễm môi trường, vấn đề giảm sút tài nguyên thiên nhiên, vấn đề diện mạo của quả đất bị biến ñổi, và trên hết là vấn đề suy thoái về nhân cách vì sự xâm lăng của thế giới ảo và của chủ nghĩa tiêu thụ.
Những vấn nạn này, phải chăng là những dấu chỉ nhân loại sẽ bước vào tình trạng suy vong? Tất nhiên là không, cho tới nay, những nhà quan sát tỉnh táo, sáng suốt, chưa có một người nào khẳng định nhân loại đang đứng trước hố thẳm của diệt vong. Tác giả Quán Tâm cũng vậy. Ông nghĩ rằng: Chính trong hoàn cảnh khẩn cấp này, đã thấy diễn ra những vận động của các tôn giáo nhằm tìm một giải pháp sống còn cho loài người. Vả đã từ lâu, không ít những tổ chức phi chính phủ vẫn có những đóng góp tích cực cho việc nhắc nhở loài người phải quan tâm đến cái nôi của mình. Tại các quốc gia có truyền thống dân chủ, dù sao cũng có các nhóm áp lực ở đó vẫn còn những con người minh triết đủ nhân cách và uy tín để tác động đến chính sách nhà nước giúp những kẻ cầm quyền biết chú tâm đến quyền lợi lâu dài của công dân họ nói riêng, đến sự tồn vong của loài người nói chung. Rất tiếc là ảnh hưởng của các tôn giáo và những tổ chức phi chính phủ đối với những xứ độc tài vẫn không đáng kể nên loài người vẫn thường xuyên đứng trên bờ vực của tình trạng tận thế.
Để cứu vãn số phận con người, việc tranh đấu cho dân chủ trên quy mô toàn thế giới, xóa bỏ các định chế độc tài đang tiếp tục bóp nghẹt mọi quan điểm đối lập của người dân, là cấp bách phải thực hiện bằng được.
Tác giả xác nhận rằng, nền chính trị ở các quốc gia có truyền thống dân chủ không hẳn là êm ả, có nơi có lúc, ở những nền chính trị đó, vẫn bị những thế lực ngầm, những ông tài phiệt câu kết với nhau áp chế, có thể khuynh đảo chính quyền nào yếu tay chèo. Tác giả nói đến những điều có thể làm được ở các nước dân chủ và không thể làm được ở các nước độc tài. Chẳng hạn ở Myanma và ở Trung Quốc. Vì thế, ông nói phải tranh đấu, ôn hòa, để có được dân chủ. Rồi tác giả nêu lên những thuộc tính của dân chủ. Nhà quan sát Quán Tâm cũng nêu lên một khuyết điểm của bản Hiến chương của tổ chức ASEAN. Ông cũng mạnh mẽ nói tiếng nói không e ngại và không sợ hãi của mình về tình trạng thê thảm của mọi mặt trong đời sống của người dân. Thí dụ:
…những xứ độc tài luôn luôn có những kẻ ngồi xổm lên luật pháp; luôn luôn có những kẻ bao che những nhóm người hưởng đặc quyền đặc lợi khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, gây ra ô nhiễm môi trường, đóng góp vào việc làm biến đổi khí hậu, hủy diệt môi sinh, tạo tình trạng bất ổn xã hội vì khoét sâu hố ngăn cách giàu nghèo, đẩy một bộ phận dân chúng lao vào con đường cướp bóc, làm tiền đề cho việc cung cấp nhân sự đối với các tổ chức khủng bố.
Sau cùng, tác giả nêu lên ý kiến, có hai trường hợp, Việt Nam có dân chủ.
Xin tiếp tục theo dõi những nhận xét của tác giả trong các vấn đề như nêu trên:
Nhân dân Việt Nam cũng đang ở trong hoàn cảnh buộc phải đòi hỏi dân chủ. Trong suốt gần bảy chục năm qua, tương tự các xứ sở độc tài khác, chính quyền ở Việt Nam chịu sự kiểm soát độc đoán của một đảng. Cũng nên nhắc lại rằng chỉ riêng một giai đoạn ngắn từ 1954 đến 1975 và riêng trong phạm vi miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 xuống đến Cà Mau, một bộ phận người Việt đã xây dựng được một thể chế dân chủ tuy chưa hoàn chỉnh. Đảng kiểm soát chính quyền ở Việt Nam tự nhận là cộng sản nhưng thực ra đảng ấy chỉ là một nhóm cường hào kiểu mới ngay từ lúc nhen nhóm.
Rõ ràng, trong hoàn cảnh Việt Nam, đòi hỏi dân chủ là một đòi hỏi cấp thiết. Chỉ có dân chủ mới khiến chính quyền được sắp xếp lại trên tinh thần củng cố trách nhiệm của kẻ cai trị. Và chỉ có tinh thần trách nhiệm của kẻ cai trị mới ổn định được tình thế nghiêm trọng của xã hội Việt Nam mà không gây nên đổ máu. Có hai phương cách để thực hiện dân chủ. Phương cách tốt nhất là việc thực hiện dân chủ từ trên xuống. Nghĩa là nhà cầm quyền Hà Nội thực sự ý thức được tính cách nghiêm trọng của tình thế mà tự động tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý nghiêm túc để định ra một hiến pháp mới. Phương cách còn lại đòi hỏi nhiều hy sinh của những người có tâm huyết với đất nước. Trong mọi trường hợp, những người hoạt động cho một nền dân chủ đích thực của người Việt đều phải nỗ lực vận động.
Khi một nền dân chủ đích thực không thể thực hiện được ở Việt Nam trong một tương lai vài ba năm nữa, tình trạng suy thoái về nhân cách bởi sự xâm lăng của thế giới ảo và của chủ nghĩa tiêu thụ sẽ lan rộng như một cơn đại dịch, tác động đến tất cả mọi con người của xã hội Việt Nam. Lúc ấy, chuyện gì đến sẽ là điều mà ai cũng có thể suy đoán được.
Không biết có phải chủ quan hay không, tác giả nêu lên một tình trạng hoàn cầu (có Việt Nam) lâm nguy, để rồi ông đưa ra một giải pháp cứu vãn, đó là dân chủ.. Chỉ có dân chủ mới cứu vãn được con người trước nguy cơ diệt vong. Nhưng đấy chỉ là một giải pháp chính trị. Những gì có liên quan đến con người, còn phải có văn hóa nhân bản và tôn giáo. Tuy nhiên, đấy là tiền đề. Có dân chủ rồi sẽ có tự do tôn giáo, tự do lập hội, tự do ngôn luận, tự do báo chi v.v…
Trong số hơn 30 bài đã in trên tờ Viễn Tượng Việt Nam, chúng tôi cũng chỉ nêu lên một số bài trong phần nhận xét về Quán Tâm, tất cả đều cần đọc Tuy nhiên, chúng tôi đã nói với anh Quán Tâm rằng, do sức khỏe, tôi không thể điểm hết được, chỉ có thể với những vấn đề căn bản hiện nay thôi. Mà nhiều bài của anh đều có tính thời sự cách riêng với Việt Nam, thế mà chúng tôi lại chỉ điểm được ít bài quá, về dân chủ. Âu đó cũng là cách hợp tác với tác giả lưu tâm nhiều hơn về dân chủ.
Tác giả Quán Tâm có bài thơ có tính phiếm chỉ cần lưu lại, chúng tôi dùng để kết luận phần dành cho anh:
Thơ QT
“Mừng” Hội Nhập
Ý đồ cộng sản vẫn tinh khôi
Vọng tưởng còn nghe lạnh đất trời.
A pếch chập chờn cơn gió thoảng
A san lờ lững tảng mây trôi.
Núi Nùng khói quyện màu kim cổ
Sông Nhị dòng đưa giọng khóc cười
Ai thắng ai nay thôi chẳng nhắc
Giương buồm, bè mảng cũng ra khơi.
.
Giương buồm, bè mảng cũng ra khơi,
Quyết chí chen chân chốn chợ trời
Đi tắt đón đầu mưu một thuả,
Luồn sâu bám chặt kế muôn đời
Cựa mình mấy chốc bằng vai hổ,
Thở hắt vài hơi đáng mặt voi
Chiếc ghế Bảo an còn vắng chủ Dù cao, thử sức cứ trèo chơi
HẾT
Khải Triều
