Giai thoại làng văn
Hoài Thanhcon người sinh ra để đọc thơ, bình thơ, có lần nói với tôi: Có một bữa, ông Hoài Thanh nằm trên giường, có vẻ mệt. Bỗng ông nói với con: “Cha mà không có anh Lành (Tố Hữu) thì Bùi Công Trừng nó giết cha rồi!”.
Té ra là thế! Cái chuyện vị nghệ thuật, vị nhân sinh có chết ai đâu mà những ông cộng sản làm to chuyện thế, và thù dai thế! Người ta đã đi theo kháng chiến bao năm rồi mà vẫn không tha (cho mãi đến kỳ tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996), họ cũng không tặng cho Hoài Thanh, trong khi sẵn sàng tặng cho Hà Xuân Trường, Hồ Tôn Trinh, tuy sự nghiệp của hai vị này có đáng gì đâu so với Hoài Thanh.
Tôi cứ nghĩ mãi, không hiểu sao, đối với trí thức, các ông cộng sản lại hẹp hòi và ngu xuẩn đến thế. Anh Từ Sơn còn cho biết, hồi Hoài Thanh phụ trách tuần báo Văn nghệ. Có một số báo, trang đầu in ảnh Trường Chinh, ảnh bị cái tít in quá đậm ở mặt sau làm mờ đi. Trường Chinh gọi Hoài Thanh đến nói: “Anh in ảnh tôi như thế này à?”.
Hoài Thanh sợ quá, cứ đi lang thang ngoài đường, vô cùng hoang mang. Cái án vị nghệ thuật trở thành cái án chính trị, vẫn như lưỡi gươm lơ lửng treo trên đầu.
(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)
Về một chữ “bù”
Cung Trầm Tưởng gắn bó với 5 bài thơ đã phổ nhạc, đó là Mùa Thu Paris, Kiếp Sau, Về Ðây, Khoác Kín và Chưa Bao Giờ Buồn Thế. Trong năm bản nhạc thơ ấy, “Kiếp sau” ít nổi tiếng hơn cả, nhưng lại là bài hay nhất, nó đã đạt tới đỉnh nghệ cao thuật nhưng ít ai đề cập. Bài thơ rất ngắn, làm năm 1956 ở Sàigòn. Ðã hơn bốn mươi năm. Không một vết nhăn.:
Bù em một thoáng trời gần,
đơm hoa kết mộng cũng ngần ấy thôi!
Bù em góp núi chung đồi
thiêu nương đốt lá cũng rồi hoang sơ
Bù em xuôi có ngàn thơ,
vẫn nghe trắc trở bên bờ sông thương
(…)
Trò chuyện về thơ tức là chuyện trò với chữ – vấn đề ngữ sự – nói như Cung Trầm Tưởng. Trước hết là chữ bù. Bù em. Trong chữ bù chỉ thấy cho, chỉ “lấp đầy”. Nguyên lý lấp đầy lại rất phụ nữ, rất nhục cảm, rất Sartrien, rất Cung Trầm Tưởng. Bù lại gần với âm bu. Bu là gọi mẹ theo tiếng quê ta. Bù em là ngôn ngữ thứ nhất, ngôn ngữ bùa chú -nói như Mallarmé – khác lạ, không giống ai: Ngôn ngữ vừa được nhà thơ tác tạo. Cả bài thơ có hơi cổ điển, có hồn ca dao. Nhưng không phải ca dao thuần túy mà là ca dao đã hóa thân, cổ điển đã tục lụy.
(Thế nhưng chừ “bù” đây không rõ nghĩa trong tự điển, nếu có thì bù là cây bầu, cây bí hay là thiếu, là không đủ – Thụy Khuê.
Thế nhưng “bù” đây là tiếng gọi vợ chồng thân mật với nhau)
(Thuỵ Khuê – Cổ dao trong thơ Cung Trầm Tưởng)
Khọn
Khọn: con khỉ
(con khọn)
(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)
Đất lề quê thói với phong tục cổ truyền
Bánh su sê
Trong lễ cưới có nhiều lễ vật, nhưng không thể thiếu bánh “su sê”, nguyên xưa là bánh “phu thê”, một số địa phương nói chệch thành bánh “su sê”.
Bánh su sê làm bằng bột đường trắng, dừa, đậu xanh và các thứ hương ngũ vị, nặn hình tròn, bọc bằng hai khuôn hình vuông úp lại với nhau vừa khít, khuôn làm bằng lá dừa, lá cau hoặc lá dứa, vỏ để nguyên không luộc để giữ màu xanh thắm.
Sở dĩ gọi là bánh phu thê (chồng vợ) vì đó là biểu tượng của đôi vợ chồng phận đẹp duyên ưa: vuông tròn, trong trắng mềm dẻo, ngọt ngào, thơm tho, xanh thắm, đồng thời cũng là biểu tượng của đất trời (trời tròn, đất vuông) có âm dương ngũ hành: Ruột trắng, nhân vàng, hai vỏ xanh úp lại buộc bằng sợi dây hồng.
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Theo tự điển tiếng Viêt ở Hà Nội (Văn Tân Nguyễn văn Đạm):
Lả lướt; dáng đi mệt nhọc
Văn hóa thể hiện qua tiếng nói
Khi chiếm được tòan bộ miền Bắc năm 54, người ta chủ trương dùng tiếng Việt thay tiếng Hán. Nhưng vô lý là họ lại ghép một chữ Hán vào một chữ Việt đồng nghĩa chỉ với mục đích biến tiếng đơn thành tiếng đôi. Như:
– In ấn, vụ việc…v..v..
Với mục đích biến tiếng đơn thành tiếng đôi, họ lại ghép hai chữ “lễ” và “hội” thành một, thành vô nghĩa. Vì lễ có tính cách thờ phượng, cúng bái. Trong khi hội là hội hè, đình đám vui chơi.
Vì vậy không thể ghép chung “Lễ hội” làm một để không phân biệt cái nào là lễ và cái nào là hội
(Mặc Giao – Văn hóa Việt)
Hương quan
Trong Kiều có câu “Giấc hương quan luống lẫn mơ canh dài”.
Hương quan – Hương: làng. Quan: cổng.
Ngày xưa mỗi làng làm một cái cổng trước cổng làng để canh trộm, cướp. Hương quan dùng để chỉ quan hoài quê nhà.
Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao
Từ điển thuật ngữ văn học gọi chơi chữ là “lộng ngữ” và giải thích là một biện pháp tu từ có đặc điểm: người sáng tác sử dụng những chỗ giống nhau về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh để tạo ra sự bất ngờ thú vị trong cách hiểu, trong dòng liên tưởng của người, người nghe. Các hình thức của lộng ngữ rất phong phú, trong đó có: nói lái, dùng từ đồng âm hoặc gần âm, dùng từ gần nghĩa, tách một từ thành các từ khác nhau.
Chọn những con vật cùng trường nghĩa khác, như bài ca sau đây:
Cóc chết bỏ nhái mồ côi,
Chẫu ngồi chẫu khóc: “Chàng ơi là chàng“
Ễnh ương đánh lệnh đã vang,
Tiền đâu mà trả nợ làngngoé ơi!
Tác giả dân gian tập hợp trong bài ca dao này các con vật cùng loài với cóc: nhái, chẫu chuộc, chầu chàng (chẫu chàng thân và chi mảnh, dài; chẫu chuộc cũng giống như chẫu chàng nhưng lớn hơn); ễnh ương, ngoé là giống nhái bén. “Chàng” trong câu câu ca trên vừa là con vật (chẫu chàng) vừa là đại từ chỉ người trong cặp đại từ nhân xưng cổ: chàng – nàng. Như vậy, bài ca dao vừa chơi chữ bằng cách dùng từ đồng âm, vừa chơi chữ bằng cách dùng các từ cùng trường nghĩa.
(Trần Minh Thương – Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao Việt Nam)
Khoa cử (2)
Sang thời tự trị để mở mang việc nước, vua Lý Nhân Tông mở khoa thi Tam trường (thi đại khoa gồm ba kỳ) ở nước ta mô phỏng theo Trung Hoa.
Trung Hoa cho thi tú tài và cử nhân riêng. Thời nhà Nguyễn, tú tài và cử nhân thi chung (thi Hương). Người đỗ gọi là cử nhân. Người hỏng thi nhưng điểm cao cho đỗ tú tài. Trung bình cứ một cử nhân có ba tú tài (nhưng không được thi Hội).
Thi Hương trúng ba trường thì gọi là Sinh đồ (Ông đồ – Tú tài).
Đỗ cả bốn trường gọi là Hương cống (Ông cống – Cử nhân)
(Nguyễn Thị Chân Quỳnh – Lối xưa xe ngựa…)
Khong khảy
Khong khảy: thoả mái
(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)
Văn tế cá sấu của Hàn Thuyên
Ngạc ngư kia ơi! Mày có hay?
Biển Đông rộng rãi là nơi mày,
Phú Lương đây thuộc về thánh vực,
Lạc lối đâu mà lại đến đây?
Há chẳng nhớ rằng nước Việt xưa,
Dân quen chài lưới chẳng tay vừa
Đời Hùng vẽ mình vua từng dạy
Xuống nước giao long cũng phải chừa
Thánh thần nối dõi bản triều nay,
Dấy từ hải ấp ngôi trời thay
Võ công lừng lẫy bốn phương tịnh
Biển lặng sông trong mới có rày
Hùm thiêng ra dấu dân cày cấy,
Nhân vật đều yên đâu ở đấy,
Ta vâng đế mạng bảo cho mày,
Hãy về biển Đông mà vùng vẫy.
(Trần Minh Thương – Thể loại văn tế)
Sai hay đúng?
Trong câu “da chết bọc thây coi cái chết tựa như lông hồng”.
Có sách cho là lông hồng đây là…lông ngựa!
Hồng là ngỗng trời. Xưa, có thể dùng để thông tin tức phương xa, nên nói đến chuyện gửi thư từ thì gọi là hồng tiện, tin hồng.
Nên lông hồng đây là…lông ngỗng.
(Tôn Thất Lương – Xuân mộng)
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Làm răng: Làm thế nào chứ không phải đi…chữa răng đau.
(Nguồn: từ sổ tay của một người Mỹ học tiếng Việt)
Sự phát triển của tiếng Việt II
Sấm Truyền Ca (1670)
Bên cạnh những tác phẩm, có khi khuyết danh cố ý, đã có những tác phẩm tôn giáo có giá trị văn học viết bằng chữ Nôm như Sấm Truyền Ca (1670) của Lữ Y Ðoan, như Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông (cùng thế kỷ XVII) của Majorica, hoặc viết bằng chữ quốc ngữ như Tuồng Joseph (1888) của Trương Minh Ký, Phi Năng Thi tập của Philippe Phan Văn Minh (1838), khuyết danh có tập Vãn Và Tuồng (1899).
Sấm Truyền Ca nguyên tác bằng chữ Nôm, tác giả là thầy giảng (linh mục) Lữ Y (Louis) Ðoan, được viết vào năm 1670. Hiện nguyên tác đã thất lạc, chỉ còn bản quốc ngữ. Sấm Truyền Ca là một tác phẩm văn học đặc sắc vì phản ảnh một nỗ lực Việt Nam hóa và bình dân hóa Kinh Thánh bằng cách mượn những yếu tố văn hóa Việt Nam và Ðông phương để diễn dịch Kinh Thánh.
Lưu truyền hạn chế trong giới thu hẹp “nhà thờ”, tác phẩm chắc đã được sửa đổi nhiều lần vì bản hiện còn dễ khiến người đọc nghĩ đến các truyện Nôm nỗi tiếng của thế kỷ XVIII và XIX. Theo bản chép tay chúng tôi hiện có của Paulus Tạo, người dịch bản Nôm ra quốc ngữ là Simong Phan Văn Cận. Trong lời tựa ghi tại Cái Mơn ngày 8 tháng chạp Tây năm 1820, ông giới thiệu:
“Truyền rằng sách STC là của Thầy Cả Lữ Y Ðoan đặt ra năm 1670, viết bằng chữ Nôm. Thầy cả này đã trở lại đạo hồi nhỏ và đã làm thầy giảng giáp địa phận Ðàng Trong, thầy rất tinh thông chữ nho, thuộc Tứ Thư, Ngũ Kinh. Thầy làm sách này cho hạng văn nho đọc để biết rõ đạo Chúa Giê-su. (…) Sách này của thầy bị nhiều thầy cả Tây dang hồi đó không ưng vì nó lai sách đạo Nho và đạo Phật, nhưng bổn đạo rất ưa và chép lại để đọc (…).
(Nguyễn Vy Khanh – Tiếng Việt một số tác phẩm mới phát hiện)
Từ Hán –Việt được nho hóa
Thốc = trọc lốc, không có tóc.
Thiền = ngồi im lặng để suy tưởng, (Chùa) chiền.
Thoán = choán, choán chỗ, chiếm lấy.
Thống = xốn, xốn xang (đau , khó chịu).
Giai thoại làng văn xóm chữ
Đùa với ông Nghè
Nguyễn Gia Cát người làng Huê Cầu, thuộc Kinh Bắc, sinh năm 1762 đời Hậu Lê. Thời Lê Chiêu Thống, ông đậu Đệ nhị giáp đồng chế khoa xuất thân. Ông từng được cử đi sứ Tàu.
Từ thủa nhỏ Nguyễn Gia Cát đã nổi tiếng thông minh nhưng cũng rất nghịch ngợm. Một lần có ông Nghè làng bên vinh quy, đường đi phải đi qua làng ông. Ông đang chơi với lũc trẻ liền lấy gạch viết ra đường một chữ MÔN rất to.
Ông Nghè nọ cưỡi ngựa đến trông thấy hỏi:
– Sao em lại viết chữ MÔN to thế?
Gia Cát đáp:
– Quan Nghè không nhớ câu “đồng khai trùng môn” của Tống Thái Tổ sao? Cổng không to thì voi ngựa võng lọng qua thế nào được.
Bị đứa trẻ lý sự, quan Nghè hơi ngượng nhưng bảo ngay:
– Đồng khai trùng môn có nghĩa là mở rộng cửa lớn phải không? Nghe nhé, ta đọc vế đối này, nếu đối được ta thưởng:
“Ngói đỏ lợp nghè lớp trên đè lớp dưới”.
Nghè là cái nhà, cái danh vua ban cho những người đỗ đạt, Nghè còn có nghĩa là Tiến sĩ nữa. Qua vế ra ông Nghè này còn tỏ ý: Ta là Nghè, là lớp trên – lớp trên đè lớp dưới.
Gia Cát chẳng cần nghĩ ngợi nhiều đối ngay:
“Đá xanh xây cống hòn dưới nống hòn trên”
Chữ Cống cũng có hai nghĩa như chữ Nghè, vừa là cái cống vừa là Hương cống (dưới Tiến sĩ).
Nhưng cái hóm hỉnh láu lỉnh của Nguyễn Gia Cát là những chữ như “hòn dưới nống hòn trên” có ý nghĩa răn đe: “trên đè dưới” nhưng nếu không có “dưới nống trên” thì cũng sụp.
Quan Nghè đành gật gù khen vế đối hay và thưởng cho một quan tiền. Gia Cát đem tiền ấy chia luôn cho các bạn chơi đánh đáo.
Ngộ Không
(Sưu Tập)
©T.Vấn 2023
