Cõi Người Ta (16) – Tranh: THANH CHÂU
Xem TV thành phố ven biển có người tử vong, bạn điên thọai hỏi thăm, bắt qua chuyện ngày nào vượt biển, thuyền bị chết máy, ngồi giữa trời và nước anh có cảm nghĩ điêu linh của một quãng đời. Thêm chuyện vượt biển, thuyền cũng chết máy, bạn cũ trường xưa cảm khái bể vô tận xá gì phương hướng nữa, thuyền ơi thuyền xin ghé bến cô liêu…(VHChương). Mượn vận…“iêu”, một tôi vật ra hai chữ…liêu xiêu.
Ngày thứ nhất, mồng 4 Tết âm lịch năm 20..
Bởi biết trước bài tản bút thuộc tạng rối chữ, ngúc ngắc với chuyện sau kể trước. Chuyện là trong nhà u ám, ngòai trời âm u. Tôi ngồi quay lưng ra cửa sổ vay mượn chút ánh sáng để mót chữ, để có mục…“ẩm thực” và còn dài, dài ở khúc sau.
Bạ vào mắt hàng chữ:
“…Món đãi khách sang trọng nổi bật của Quảng Ngãi là chọc tiết dê non, hòa với rượu rồi thui cả con dê để xơi món tái. Người Quảng Ngãi phong lưu ăn đêm ở nhà có món thịt đãi khách là ram ếch. Còn muốn ăn Cao Lầu thì ra Hội An. Vì người xứ Quảng có câu Ai qua phố cổ Hội An – Ghé thăm Phúc Kiến mà ăn cao lầu…”
Bạn đọc hỏi lý sự gì ngồi quay lưng ra cửa. Lại có trước có sau, hôm sau lêu bêu trong nhà. Trong phiêu du, tôi bước chầm chậm vừa đi vừa suy nghĩ hôm nay phải làm gì cho thời gian ngắn lại. Để tiêu pha thì giờ cho tuổi già, chui vào tủ sách vớ được quyển Văn hóa ẩm thực…Ngồi đọc, chữ nghĩa nó bập vào người với Cao lầu ở Hội An do xưa kia các quán thường don thức ăn trên lầu cao để chủ tàu vừa ngồi ăn vừa trông chừng hàng hoá dưới tàu đang neo đậu trên bến. Từ ăn lầu cao mới có món…cao lầu. Với mót chữ, khi nào có điện, tôi một ngón tay mổ chữ như cò mổ ruồi trên bàn gõ cho vào Chữ nghĩa làng văn. Bỗng hồn ma bóng quế cụ Tú Xương nhập vào người câu nhập thế tục bất khả vô văn tự, chẳng hay ho cũng húng hắng một vài…
Thế là trong cái đầu củ chuối mọc măng ra một vài tự sự tự sự Ba ngày liêu xiêu…
Bây giờ xin vào chuyện, từ ngày cáo lão về hưu hơn mười năm nay, tôi không xem báo và TV. Chủ nhật ngồi với bạn hồ trường để Cognac giết Cô-vic. Bạn bè lời vào tiếng ra thứ hai này Houston có…tuyết. Trộm nghĩ bể vô tận xá gì…Houston có tuyết. Bởi chưng năm thỉnh mười thỏang thành phố ven biển này cũng có tuyết đấy nhưng thuộc dạng…cưỡi ngựa xem hoa ấy thôi.
Sáng thứ hai tỉnh giấc Nam Kha, phòng ngủ tối thui lủi. Ủa chuyện quái gì đây. Công việc đầu tiên là vào cầu tiêu để buông xả, mò mẫm không tìm thấy công tắc đâu. Xách đèn pin ra ngòai xem sự thể ra sao: Ngòai trời trắng tinh, trong nhà đen nhèm. Thêm khổ nạn lạnh cóng da cóng thịt. Bèn nghĩ nhà không điện nhưng có lò sưởi gas cơ mà! Số là năm thì mười họa gió lộng, lửa lò sưởi trên trần nhà tắt ngúm. Chó dại từng mùa, người dại quanh năm bằng cách lọ mọ leo lên trần nhà châm lửa đốt trời. Hì hục cả chục phút vì không có dụng cụ…hành nghề, cuối cùng cũng mở được cái cửa lò sưởi. Chiếu đèn pin vào lửa vẫn bịt bùng cháy, vặn óc nghĩ không ra. Điện thọai hỏi thợ lò sưởi, ông cười hì hì mà rằng cái lò sưởi cần điện cho cái quạt máy để quạt hơi nóng. Không có điện, cái lò sưởi tiêu. Luận về cái biết theo Luận ngữ với tri vi tri, bất tri vi bất tri, thị tri, tức biết nói là biết, không biết nói là không biết, đó là biết vậy.
Bởi không biết nên trời hành, trên trần nhà gần trời xa đất, xuống nhà hai tay lạnh cứng đơ, nghĩ vụng hay mình già rồi chăng? Dám lắm ạ! Bàn về cái già và cái lạnh nó thế này: Bạn đọc to khỏe, hiểu vụng là bạn…“đầy đủ điện nước” nên cái lạnh không ám quẻ bạn nhiều. Còn anh khọm như tôi gầy trơ xương mới lãnh cái búa. Bởi vậy mới có câu lạnh thấu…xương là thế. Xuống nhà, ra phòng khách mồi điếu thuốc…Mười ngón tay lạnh ngắt, cứng như càng cua đá, lóng ngóng mãi mới châm được điếu thuốc. Mở he hé cửa, thò mồm ra ngòai thổi khói. Khói thuốc phất phơ bay, chợt quan quả tới anh bạn ở miệt đông-bắc bị bão tuyết. Với trí nhớ mù sương khói qua điện thư, anh kể lể tuyết dầy hơn một thước bít cửa ra vào. Xẻng cuốc lại để quên ở ngòai cửa. Khi không anh bị tù trong nhà mấy ngày. May nhà còn mì gói, vì nhà có điện nước.
Từ mì gói, bắt qua Mì Quảng Nam – Quảng Ngãi…
“…Cũng như hủ tíu miền Nam, mì Quảng biến dạng của…phở. Mì Quảng có nhiều lọai tùy theo chất lượng nước nhân mà đặt tên. Nếu nước nhân bằng thịt gà thì gọi là mì gà, làm tôm thì gọi là mì tôm. Ăn mì Quảng thường kèm theo hoa chuối, rau mùi tàu, rau ngổ, sà lát, rồi mới đổ mì, chan. Thọat đầu rau sống lót đáy tô, nước nhân chỉ chan xâm xấp ngập lớp rau, không bao giờ chan ngập như…phở. Tiếp, bày mấy lát giò nạc, một ít chả tôm, ruốc lợn, đổ một thìa tóp mỡ, nửa thìa tép phi vàng, đậu phụng rang giã nhỏ, ít bánh đa nướng bẻ vụn rồi chan thêm chút nước nhân nữa. Riêng món Cao Lầu, nước nhân lấy từ Cù Lao Chàm…”
Đụng đến…”nước” tôi thắt bụng lại vì cái ống nước đang bị đông đá trên trần nhà. Chuyện là xứ chăn bò tôi nóng đổ lửa, có năm lên tới 105 độ. Theo ngoa truyền đập quả trứng trên nóc xe, trứng xèo xèo hóa thân thành…trứng ốp-la. Riêng cái lạnh thảm thiết chi đâu. Một là ống nước bể, nước chẩy xuống thảm nên…thảm não lắm. Hai là trần nhà bột rớt xuống. Ba là sửa ống nước. Đến trần ai khoai củ này gọi thợ, họ làm eo không tới ngay. Cà tuần sau họ tới với giá trên trời dưới biển.
Vì đã bị một lần mấy chục năm trước nên tôi để nước nhỏ giọt. Dòm nước nhỏ gịot vui đáo để, vì ống nước sẽ không bị bể. Nhưng chưa xong, ít nữa có nước, ở khóa nước bên hông nhà, mở chút ít thôi, mở nhiều lại bể ống nước. Vậy là yên chí đi ngủ. Đã tự sự thì tự thuật cho thật. Chuyện thật là cái lạnh và nỗi lo bể ống nước làm tôi buồn. Tôi buồn…đi tiểu. Lạnh và lo không ngủ được, cái bệnh già không chịu thân thiện với cái lạnh 6 độ âm. Mặc dù mặc ba áo, năm co quắp trong cái chăn dầy cộm mà run lên cầm cập như người động kinh. Tôi chỉ bị lạnh không thôi, nghĩ đến anh em cải tạo bị đày tới dãy Hòang Liên Sơn đèo heo hút gió với lạnh và đói. Hôm sau hỏi bạn cải tạo, bạn cho hay chỉ có cái chăn dạ thô Trung Cộng. Đói con gì động đậy là ăn, như thằn lằn, mối chúa. “Quý tộc” hơn vớ đuợc lươn hay trạch ở dưới nước. Ngòai ra ở Hàm Tân, Phan Thiết gần rừng Lá còn có rắn nước nữa.
Vớ được… rắn nước, tôi quơ cào tới…Rượu đẻn, chả đẻn Quảng Bình.
“…Đặc sản độc đáo của Quảng Bình uống rượu đẻn, nhắm chả đẻn. Đẻn là lòai rắn biển chỉ thấy ở Cửa Tùng tới biển Nhật Lệ. Vào quán, rượu đẻn bày sẵn trên bàn, trong khi đó con rắn được lột da, xay vụn trộn gia vị, bọc lá lốt cho vào chả mỡ đang sôi xèo xèo. Buổi chiều tắm biển Nhật Lệ lên, nhắm chả đẻn, rượu đẻn chờ đón trăng lên ở cửa biển dập dờn sóng vỗ thì thào thì khoan khóai lắm ru…”
Ngày thứ hai, mồng 5 Tết âm lịch năm 20..
Sáng dậy, bỗng dưng không đâu thấy đói vì chả đẻn, mò vào bếp có cái bếp gas xách tay tiện nội mua sẵn để phòng xa khi bị “cúp” điện. Hốt nhiên thương tiện nội không biết để đâu cho hết, bởi các cụ ta xưa dậy cấm chả sai bao giờ. Vì: vợ ta có công đẻ ra con ta và…dậy dỗ ta nên người. Nên thề trước hột đèn vịt lộn từ nay không…mắng vợ nữa. Nhờ cơn bão…“khủng” của thế kỷ, tôi ngộ ra một chữ nhất tự thiên kim:: Chữ…“nhẫn”. Dòm ra ngòai, từ nhà tôi qua nhà bên kia đường, tuyết ngập đầy. Nhớ năm nào, sáng tinh mơ lái xe đi làm trên xa lộ, bởi chưa một lần …”kinh qua” xa lộ đóng băng. Mà kinh thật!. Thấy xe trước nhá đèn đỏ thắng, thế là tôi thắng…cái kịch. Bố khỉ, xe trước trước xe sau quay vòng vòng như…“múa đôi” điệu van. Hú vía.
Mò vào tủ đồ khô lục lọi đống đồ hộp tích trữ vì tiện nôi nghe tin có giới nghiêm từ thời vặc nhau như mổ bò về chuyện bầu bán. Loay hoay thê nào lôi ra được hộp New England Clam Chowder. Cuồng chữ với triết lý củ khoai, ừ thì cứ bằng lòng với củ khoai đang có, nướng lên cho thơm phức mà sực. Nghĩ vụng thêm làm quái gì phải mò sang xứ ăng-lê sương mù để ăn con ‘’clam’’ tức con hào, con sò.
Vì đã có Sò huyết Ô Loan ngay trước mặt…
“…Một buổi sớm mai đứng trên đèo Quán Cau nhìn xuống Ô Loan phía dưới ta thấy đẹp bất ngờ che giấu trong sương mù mịt mùng một cuộc đời ẩn hiện của đất Phú Yên. Nhưng Ô Loan là vương quốc của sò huyết. Muốn thưởng thức món sò huyết độc đáo này hãy đợi đêm trăng gió mát đến đầm Ô Loan buông dầm thả trôi lững lờ trên mặt nước. Trên tấm ván bắc qua hai con thuyền áp mạn vào nhau, bằng hữu ngồi quây quần bên chiếc hỏa lò rực than cháy hồng than đước. Những con sò huyết được đưa lên vỉ đến độ chín sò hé vỏ, tuôn nước tràn xuống vỉ than làm mùi thơm ngạt ngào. Người sành ăn dùng móng tay tách nhẹ là con sò mở đôi, sau đó chấm với muối chanh tiêu và ăn ngay khi còn nóng mới thơm râu…”.
Sơi sò huyết hàm thụ xong, tiện nội đi ra to nhỏ cái I-Phone hết điện, cái…”cùi bắp” của tôi cũng vậy. Tiện nội mang cả hai đi charge điện, nhân tiện đi đổ xăng, mua bình gas cho cái lò gas. Như trên hì hục leo lên trần nhà hí hóay châm lửa cho cái lò sưởi. Một ông bạn luận ở nhà Mỹ nô lệ vào…“mechanical”, đụng chuyện mới…biết. Như cái cửa garare chẳng hạn. Ngày nào ông ráp cửa dặn dò khi nào không có điện giật giây xuống một cái. Xong giật ngang một cái nữa là dùng tay kéo lên ngon ơ. Bây giờ đụng…” mechanical” không nhớ giật cái nào trước cái nào sau. Rồi cũng xong, nhưng kéo lên rồi cái của…“tự động” tụt xuống. Bởi thiếu thước tấc nên phải đứng trên thang giữ cửa cho tiện nội de xe ra, nhưng tiện nội quên chìa khóa nên vào nhà lây. Đứng trên thang như đứng trên Ðỉnh Gió Hú, ngòai trời gió thổi vù vù khiến tôi run như rẽ. Nước mũi nước mắt trào ra như màn sương, dòm đất trời mờ nhân ảo trong một cỡi đi về.
Tiện nội đi rồi mới hú hồn, hú vía.
Ai đấy hỏi sao không charge trong xe ngòai ga ra. Khổ nỗi cái khó nó bó cái khôn vì giây charge của I-Phone bị trục trặc, cái …”cùi bắp” của tôi thuộc tạng đồ cổ. Thảng như vợ chồng bạn gần nhà chui vào xe charge điện, vừa sưởi ấm, vừa ăn uống, còn làm chuyện khác ai biết. Nhưng tôi biết ông bạn đây người Phan Thiết.
Vì vậy không có lý do gì tôi không động đậy đến Mực tươi nướng.
“…Chúng tôi rủ nhau ra Mũi Né ăn mực tươi nướng. Mực khôi nướng ai cũng thường ăn nhưng mực tươi nguyên mang ra nướng nghe mới lạ. Có lẽ chỉ Phan Thiết mới có thứ này. Chúng tôi hay nói với nhau: Về vùng này mà không nếm mùi nước mắm và đi Mũi Né ăn mực tươi nướng thì có khác nào ra Hà Nội không ăn…phở.
Trong lúc ngồi đợi, chủ quán đưa thực đơn, Mũi Né không chỉ có mực tươi nướng, mà còn có cháo hào, ghẹ luộc và ốc hương. Lát sau chủ quán mang đến một đĩa hai con mực lớn. Lọai mực to dày, mùi thơm sực nức. Tôi xé ngang thớ mực đang hồng hơi lửa, mực tươi nướng phải nướng bằng than hoa mới chín đều. Như cá đồng kho tộ phải kho bằng niêu đất. Tôi nhâm nhi mực nướng với rượu đế…”
Từ mì Quảng…nhắc nhở đến phở. Nay ăn mực cũng…nhắc nhớ phở. Bởi thế tôi chắc mẩm kết luận thế nào tác giả cũng nói về…phở (xem kết câu tr 6). Chuyện đâu hãy còn đó. Bây giờ trở lại chuyện tiện nội lái đi rồi mới hú hồn, hú vía.
Vì phố thị gần nhà vậy mà tiện nội đã đi ba, bốn tiếng chưa thấy về, mài óc nghĩ không ra! Trong khi không có điện thọai, được xem như hòan tòan…”cách ly” với thế giới bên ngòai. Ngóng ra ngòai cửa sổ, thỉnh thỏang có xe cảnh sát đi qua một cách hiền hòa và nhàn tản. Lạ! Vì xe cảnh sát ít khi hẻo lánh khu dân cư hẻo lánh này. Lạ hơn nữa lát sau thêm xe cứu thương không hú còi, nhưng chớp đèn lia lịa bình thản đi qua thì phải hiểu là trên xe có người đã về với cõi nên hú còi làm khỉ gì. Từng đó sự kiện đâm lo lo. Lạnh và lo lại bảo nhau thúc hối thằng tôi đi…tiểu.
Đến trưa, không biết làm gì không lẽ lại làm thinh. Bèn mang bán chưng ngày Tết ra ăn. Đang nhai nhệu nhạo, miếng bánh chưng dính cứng lôi cả hai hàm trên, hàm dưới ra khoe của. Cám cảnh cho tuổi già. Bất chợt nhớ ra hôm nay mồng 5 Tết.
Rào trước đón sau cách mấy không ngòai Bánh đa Bình Định.
“…Già làng kể lại với con cháu rằng khi vua Quang Trung đại phá quân Thanh ngày mồng 5 Tết mùa xuân Kỷ Dậu (1789). Đô đốc Bùi Thị Xuân là người lo việc hậu cần dựa vào dân gian làm bánh tráng phát cho mỗi người lính mười “giàng”, không cần nướng mà chỉ nhúng qua nước cho bánh mềm cuộn với rau sống, thịt khô, chấm muối vừa đi vừa ăn. Có thể vì vậy, bánh nhúng nước ra tới Thăng Long, người ngàn năm văn vật gọi là…bánh đa. Trong khi người Bình Định gọi là…bánh tráng.
Tuy nhiên trong mâm cỗ tất niên ở Bình Định, chủ nhà cũng đặt dăm chiếc bánh đa nướng sẵn. Ngồi vào mâm khai vị nhâm nhi với rượu Bàu Đá quê hương của người anh hùng áo vải. Và bà Bùi Thị Xuân, quê huyện Tây Sơn, Bình Định. Có thể vì vậy, đặc biệt trong ngày tất niên này, bánh đa không tùy tiện đập vỡ vụn hay bẻ nát mà kính cẩn để bánh lên đỉnh đầu làm điểm tựa và khẽ đập nhẹ một cái…”.
Tiện nội về đến nhà ba điều bốn chuyện cây xăng trong vùng đóng cửa, duy nhất một cây xăng mở cửa nhưng xe đậu cả hai, ba trăm thước. Vào chợ mua mấy thứ lỉnh kỉnh thì cứ ba người ra, ba người vào. Vào rồi chợ không còn, phải đi chợ khác, lại xếp hàng này kia kia nọ. Vậy mà vác về cho đức ông chồng nguyên một con gà nướng béo ngậy ở chợ H&B. Thế là ngả ra đánh chén. Vừa ăn vừa lễnh đễnh đến cái tủ lạnh, không có điện, thực phẩm rồi sẽ ra sao đây. Đàn ông nào biết gì chuyện bếp núc, thồi thì cứ để tiện nội lo. Thế nhưng bụng dạ cũng lo lo. Lo cho lắm lại phải đứng dậy vào cầu tiêu. Vừa tháo nước vừa để cái đầu đi hoang đến bà Abey người Mỹ trong mục tháo gỡ tơ lòng dậy rằng sáng ngủ dậy nghe chim hót là vui rồi. Sai bét. Vì những ai khọm bị bệnh tiểu giắt, sáng thức dậy, đứng trước bồn tiểu tè được mới quá…đã.
Bỗng nhớ hôm nay ngày Tết với rượu trắng, nên lau lách đến đế Bàu Đá. Vì lọai đế này lấy từ nước khóang từ trên núi xuống nên trong veo. Cụ Văn Cao cho rằng đất nước này, chỉ có rượu Bàu Đá mới có thể sánh được với rượu làng Vân nổi tiếng. Nhấp ngụm Bàu Đá, cụ hấm húi: “Rượu làng Vân hiền vì mỏng, rượu Bàu Đá hỗn nên dày”. Thế là xách ra chai Vodka rẻ tiền để đi tìm cái thú đau thương, vì cụ Văn Cao đâu phải lúc nào có tiền để mua rượu Bàu Đá. Cụ uống rượu cuốc lủi chỉ vì cái nghèo. Như dân Nga nghèo uống Vodka rẻ tiền nên nghiện rượu nên càng nghèo thêm là vậy. Thảo nào làm cối thấy nóng người lên nên thống khóai nuốt trọn hai cánh gà. Làm cữ thứ hai, thứ nhất đầu cánh, thứ nhì phao câu…“cảm giác” ngất ngư con tàu đi. Người ngợm nóng phừng phừng. Cái máy sưởi mày chết kệ xác mày, tao lo thân tao nên cứ từ khoai cũng nhừ từng…cối một. Đến tối, bừng bừng leo lên giường ngủ êm.
Ngày thứ ba, mồng 6 Tết âm lịch năm 20..
Như những ngày thường, hôm nay cũng vậy, sáng dậy thường là 3 rưỡi hay 4 giờ, (vì không có đồng hồ) đi lòng vòng trong đêm như chó dái không biết làm gì cho hết ngày. Bình thường vật vã với con chữ từ 12 đến 14 tiếng 1 ngày, và 7 ngày một tuần. Dài dòng vậy để vắt qua thời khí và cái lạnh: Số là nhờ dậy sớm mỗi ngày, tôi mới ngớ ra ba, bốn giờ sáng không lạnh lắm, nhưng đến năm, sáu giờ thì lạnh kể gì. Bước một đến bếp, lấy cái siêu nước pha cà phê. Đột dưng đàm hoa lạc khứ về những ngày đầu ra khỏi trại tỵ nạn (Camp Pendleton) tới nhà người bảo trợ. Mùa đông vào phòng tắm, không biết vặn nước lạnh, nước nóng. Nhè vòi nước lạnh nhẩy dựng đứng lên vì…lạnh. Ra bếp pha cà phê dạng mì ăn liền, cũng cái siêu nước cổ lỗ sĩ này hú lên một tràng dài “tu…tu…”. Vì không biết…con gì kêu nên ù té chạy ra khỏi bếp.
Từ bếp núc vu vơ về con gà nuớng hôm qua tới Gà giả nem phụng.
“…Nem công chả phụng chỉ nghe nói ở xứ Thần Kinh Huế bởi con phụng hay phượng hòang là lòai chim hoang dã đâu dễ gì bắt. Gà giả nem phụng là gà mái tơ, gà già, gà non, gà trống đều không làm được. Gà mua về hơ lửa rơm, cho hết lông tơ bóp muối. Xong, cắt hai bắp đùi vừa chín vớt ra để nguội. Bì lợn luộc mềm vớt ra để khô. Giai đọan kế, thịt gà thái mỏng, thịt lợn thái chỉ như tăm tre trộn với nhau ủ 10 phút cho “nhựa”. Tiếp nắm từng viên tròn gói bằng lá sung non buộc chặt trong 3 ngày.
Nem phụng bằng thịt gà có vị chua như nem thịt lợn. Nhưng giòn và mềm lại có hương vị của lá sung non hơi chan chát, không sực mùi lá ổi như nem chua…”
Làm xong cữ cà phê, trong nhà u ám, ngòai trời mây giăng giăng âm u. học người Khổng Khâu ở đất Trâu bên Tàu ba ngày không đọc sách mặt mũi tối tăm khó coi. Tôi lại ngồi quay lưng ra cửa sổ để đọc sách đến trưa. Tiện nội dọn ra bát bún thang có sẵn từ mấy ngày tết ăn với củ cải dầm rất Hà Nội thanh lịch. Vừa ăn vừa bòn mót chữ nghĩa để nhồi nhét vào tự sự Ba ngày liêu xiêu. Bây giờ dòm tựa đề sách mới hay Văn hóa ẩm thực…của người viết Mai Khôi, là người Hà Nội thì phải?.
“…Sách Đại Nam hội điển sự lệ của nhà Nguyễn ghi rằng: Trong các thứ “kỳ trân dị thảo” để tiếp sứ Tàu có 72 món, gân nai, cừu-khổng, tôm rồng, trừ gân dê vì dê có thể nuôi ở nhà. Với thịt thú rừng gồm có lợn rừng, thịt tê tê (tê giác?), thịt công, đuôi cá sấu, mũi đười ươi, bàn tay gấu, v…v…mỗi thứ chế biến theo bát cổ…”
Nắng lên một chút, tôi rời chỗ vào bàn ngồi. Nhưng lạnh quá sức, tay cầm quyển sách, thế mà…sách run lên bần bật như mắc bệnh Parkison. Ai đấy dóng dứ lanh vậy? Đành thưa: đây là lần thứ hai có trận bão tuyết tệ hại nhất lịch sử cách đây 156 năm: năm 1845. Lần này có 47 người tử vong. Thưa gửi xong, sách vẫn run lên túi bụi không đọc được, bèn gấp sách lại. Vì nếu có đọc mặt mũi cũng chả sáng sủa hơn bao nhiêu trong tranh tối tranh sáng này. Cái đầu đang rảnh rang nên mọc ra chuyện trong cơn bão Harvey năm 2017, sở cho…’’di tản’’. Trên xa lộ lái xe về bị kẹt xe dài dài, cái bàng quang cứ nhấp nhổm đòi tống nước ra. Cả tiếng sau chịu không nổi đành tống khứ ra quần. Ấy thế mà người ngợm…âm ấm, nong nóng mới đau!
Tiện thể vu vơ đến bạn ở xa điện thọai hỏi có người tử vong ở Houston. Đủng đỏang thế nào làm như ngẫu nhiên hay sao ấy, bạn tiện nội cũng điện thọai mà rằng mùa đông cúp điện, không có máy sưởi thế nào người già cũng được Chúa vui vẻ gọi vê cõi trên để gặp ông thánh Phê-rô là người xét lý lịch ở cổng thiên đàng. Bật rật nghĩ dại mình cũng đã thất thập cổ lai hy, trên giời có hai ông Nam Tào Bắc Đẩu ngồi đợi sẵn để xét sổ sinh tử của chúng sinh với Tiêu nhiên chi lai, tiêu nhiên nhi vãng – Kỳ nhập bất cụ, kỳ nhập bất hà (Đại mộng – Trang tử), Nôm là thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi – khi vào không lo lắng, khi ra không ngại ngùng
Quơ cào triết lý tiên thiên…’’ra đi không ngại ngùng’’ trong cái lạnh chết người. Theo nhà Phật với kiếp lai sinh thần khi ấm áp xuất thần ở đầu thì vãng sinh về…cõi Bụt. Với nghiệp dữ nằm chết co quắp trên lạnh trước, thân xác chết từ đầu xuống. Nằm chết như thế chỉ có nước xuống địa ngục, không đầu thai được. Hãi quá thể. Đành gọi con gái để tỵ nạn. Con gái sai thằng chồng mang xe truck đón bố mẹ vợ ngay tức thì. Ngỡ mọi chuyện xong, bỗng tiện nội vào hốt hỏang: ‘’Bố Hùng ơi…ống nước ngòai vườn bể’’. Bỏ bố! Vậy là… ’’tét ’’ rồi. Bổ nhào ra thấy một khỏang vườn ngập nước như biển hồ. Bèn gọi thợ sửa ống nước. Như…’’viễn kiến’’ từ trước, ông ta cho hay không biết bao giờ mới đến được. Trộm nghĩ cứ khóa nước là…yên chí nhớn. Bởi học theo cụ Uy Viễn quẳng gánh lo đi nhẹ lấy mình. Lo cho lắm tắm cởi truồng cũng vậy thôi.
Ngay tức thì tôi sửa sọan quần áo, tất cả túi quần, túi áo nhét thuốc lá vào và không quên chai Cognac, cuốn thư kinh Văn hóa ẩm thực các món ăn miền Trung. Đang đứng cạnh cầu tiêu. Từ cái cầu tiêu ngộ ra Đại mộng của Trang tử khi vào không lo lắng, khi ra không ngại ngùng vậy mà không buồn…đi tiểu mới hay. Đắng đãi với thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi vì sắp đi đến nhà con gái có điện nước, có tất cả nhu cầu cần thiết trong cõi nhân sinh như cái cầu tiêu chẳng hạn. Ấy mà dường như trong Ba ngày liêu xiêu quên tuốt đại sự gì ấy, giờ mới ngộ ra quên…đại tiện.
Đang tậm tịt đến đây, thì…cái máy sưởi ù ù chạy.
Rồi mọi sự sẽ trở lại một ngày như mọi bữa, đọc thư kinh tiếp. Bởi chưng đọc ba trăm sáu mươi quyển kinh, chẳng thần thánh Phật tiên nhưng khác tục (Nguyễn Công Trứ). Vừa đọc vừa đồ chừng bạn đọc hỏi: “Viết tự sự khó ở chỗ nào? Khó ở chỗ kết. Kết thế nào để làng văn xóm chữ…”liêu xiêu” cả lên.
Tiện tay giở trang cuối của thư kinh, ngỡ…phở, cấu vào mắt hàng chữ:
Ốc tháng mười, người Hà Nội.
Thạch trúc thảo lư
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
(hiệu chỉnh 2026)
