11/16/2013
Phạm Đức Nhì : NÉN NHANG CHO MỘT ANH HÙNG

clip_image002

 

(Luật sư Trần Danh San, người đọc Tuyên Ngôn Nhân Quyền Cho Những Người Việt Nam Khốn Cùng tại Vương Cung Thánh Đường năm 1977, đã ra đi.)

Giữa Trần Danh San và Vũ Văn Ánh, do vị trí chỗ nằm ở nhà 3 lúc mới đến phân trại E, A20 Xuân Phước, tôi gần và thân Vũ Văn Ánh hơn. Với Vũ Văn Ánh, tôi có thể đặt câu hỏi trực tiếp về những điều mình muốn biết và được anh trả lời đầy đủ, cặn kẽ. Với Trần Danh San, tôi phải rình những lúc anh trò chuyện với mọi người để len lén đến ngồi nghe ké. Nguyễn Hữu Hồng, một sĩ quan trẻ và cũng hay ngồi nghe ké như tôi, có lần phát biểu: “Tay này đúng là trên thông thiên văn, duới thông địa lý, cái con mẹ gì hắn cũng biết. Đáng nể thật.” Nhờ những lần nghe ké như vậy sự hiểu biết của tôi được mở mang rất nhiều.

Nhưng điều làm tôi khoái Trần Danh San là lý do anh bước vào tù. Lúc ấy, ngoài những sĩ quan trình diện cải tạo như tôi, còn rất nhiều người khác bị bắt vì đã lãnh đạo hoặc tham gia các tổ chức chống lại bạo quyền cộng sản. Bấy giờ họ đã vào tù. Nhưng trước đó, khi nhập cuộc với hoài bão đòi lại quê hương, đất nước, giành lại tự do cho dân tộc, ai chẳng ít nhiều hy vọng, ước mơ có ngày công thành danh toại.

       “Ai đã từng chiến đấu, đã hy sinh

       Mà chẳng có vì một chút mình trong đó.”

Việc Kinh Kha nhận lời Thái Tử Đan đi ám sát Tần Thủy Hoàng “diệt hôn quân, trừ bạo chúa cứu muôn triệu dân lành” rõ ràng là một hành vi anh hùng, vì đại nghĩa. Chuyến đi qua sông Dịch của ông lành ít dữ nhiều; canh bạc 8, 9 phần thua, chỉ có 1, 2 phần thắng. Nhưng 1, 2 phần ấy vẫn là có hy vọng: hy vọng giết được Tần Thủy Hoàng để thỏa mãn mộng công hầu khanh tuớng.

Trần Danh San thì khác. Sau khi cùng luật sư Triệu Bá Thiệp soạn thảo bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Cho Những Người Việt Nam Khốn Cùng”, cả hai đã hẹn nhau đem loa phóng thanh đến Vương Cung Thánh Đường trịnh trọng tuyên bố trước bàng dân thiên hạ rồi tươi cười bước lên xe công an, đến số 4 Phan Đăng Lưu…ngồi tù. Kinh Kha còn có 1, 2 phần hy vọng chứ Trần Danh San thì chuyện vào tù là chắc như đinh đóng cột;10 phần thì vào tù hết cả 11. Kinh Kha và Trần Danh San đều đáng gọi là anh hùng; tuy cái giá mà Trần Danh San phải trả để được gọi là anh hùng nhẹ hơn, nhưng cái anh hùng của Trần Danh San lãng mạn hơn, đẹp hơn, nhân bản hơn và dễ thương hơn nhiều.

Có nhiều người ở ngoài đời thường, ở ngoài xã hội thì ra vẻ rất anh hùng, nhưng bước vào nhà tù cộng sản (dù chưa khắc nghiệt, hắc ám như A20) đã phải giơ tay phân bua với cai tù, với bè bạn là “Tôi, Nguyễn Văn A ngày xưa đã chết, bây giờ là một con người mới…”, hoặc luồn lọt, làm ăng ten, chỉ điểm cho bọn cai tù đến độ đồng đội, đồng nghiệp của họ đã phải thốt lên “Phạm Văn B đã chết.” Trần Danh San không chết dễ dàng như vậy. Giữa không khí ngột ngạt của một nhà tù hắc ắm, khắc nghiệt như A20, anh đã cùng Vũ Văn Ánh, Nguyễn Chí Thiệp khởi xướng tờ báo Hợp Đoàn. Anh đã chấp nhận đánh đu với tử thần để vừa cung cấp cho mọi người những thông tin cập nhật, những bài viết giúp họ mở mang kiến thức, kiên định lập trường, vừa giữ vai trò điều hợp một số hoạt động đấu tranh ở trong trại.

Sau khi Vũ Văn Ánh bị cùm trong xà lim rồi bị tuyên phạt “biệt giam vô thời hạn”, tôi được chỉ định làm “thư ký tòa soạn” cho tờ báo. Nhiệm vụ của tôi là tuyển chọn bài, sửa chữa chút đỉnh chính tả, văn phạm rồi giao cho Hải Bầu, Ngọc Đen lên khuôn; sau đó tôi kiểm soát lại lần cuối và phát hành. Trần Danh San kín đáo giao cho tôi một bài viết rất hay: Vì Sao Chúng Ta Tranh Đấu. Tôi đã giao cho Hải Bầu, Ngọc Đen đăng trong Hợp Đoàn số 4. Bài viết được nhiều anh em tù, đặc biệt là những anh em tù chính trị có án, ưa thích.

Tết Nhâm Tuất 1982, tôi đã nghe lời 3 thằng điên: Vũ Mạnh Dũng, Hải Bầu, Ngọc Đen chơi 5 buổi văn nghệ chống bạo quyền cộng sản, sau này được anh em gọi là Những Tiếng Hát Bừng Sáng A20. Ngay khi buổi chơi đầu tiên ở nhà 3 kết thúc, anh San đã chờ mọi người giải tán hết, đến trước mặt tôi nói “Anh Nhì! Tôi xin phép anh được dành trọn một chương trong quyển sách mới của tôi viết về những gì các anh đã làm ngày hôm nay.” Rồi rất tình cảm, anh nhỏ nhẹ nói tiếp “Phải cho thế hệ sau biết để các em, các cháu có thêm nghị lực, dũng khí đi tiếp con đường chúng ta đi.” Lời khích lệ của anh đã cho chúng tôi thêm can đảm để chơi 4 buổi văn nghệ kế tiếp. Năm 2011, gặp lại anh ở Cali, tôi vừa cười vừa nói “Anh San! Anh còn thiếu bọn tôi một món nợ đó nghe!” Anh vỗ vai tôi cười cười nói lảng sang chuyện khác.

Nói đòi nợ là nói vui với anh vậy thôi. Cũng từng chơi cái trò viết lách, lẽ nào tôi không biết văn chương thì phải có dịp thuận tiện, phải có hứng mới viết được. Anh chẳng phải nợ nần gì với bọn tôi cả. Với “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Cho Những Người Việt Nam Khốn Cùng”, với tờ báo Hợp Đoàn ở A20 Xuân Phước, với “Vì Sao Chúng Ta Tranh Đấu”, với giọng nói sang sảng, lối kể chuyện gọn gàng, mạch lạc, nụ cười tươi, và với thái độ khiêm tốn, nhã nhặn, vui vẻ với mọi người của anh, chúng tôi, những người tù A20 Xuân Phước, và cả lớp trẻ sau này ở trong nước và hải ngoại, đều thiếu anh một món nợ. Món nợ ấy chỉ có thể trả bằng việc tiếp tục con đường của anh, dấn thân đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho dân tộc Việt Nam.

Có lẽ tôi sẽ không có mặt ở Cali để đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng. Xin mượn mấy lời chân tình, xem như một nén nhang, để vĩnh biệt một người bạn, một người anh, một anh hùng với tất cả những ý nghĩa cao đẹp của nó.

Galveston ngày 13 tháng 11 năm 2013

Phạm Đức Nhì

 

 

Đọc Thêm :

Bài điếu văn cho Trần Danh San một A-20 vừa ra đi vĩnh viễn!

Vũ Ánh

 

clip_image003

Hai Luật Sư Trần Danh San (trái) và Triệu Bá Thiệp đang chào mừng thân hữu cựu tù Phan Ðăng Lưu trong buổi kỷ niệm ngày ra “Tuyên ngôn Nhân quyền của những người Việt Nam khốn cùng.” (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Nguồn : Chauxuannguyen.org

San thân,

Dù đã đoán trước được ngày giờ này đến với bạn sẽ không xa cái ngày ở tôi và Vũ Hồng Cương đến thăm và ở lại tán gẫu với bạn cả buổi sáng tại bệnh viện. Buổi sáng hôm đó, tôi đã nghe bạn nói với người bác sĩ điều trị: “Dù muốn dù không tôi cũng sẽ ra đi, đừng lo lắng thái quá cho tôi”. Trần Danh San là như thế ! Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng không phải chỉ ở vào thời điểm bạn đã nằm trên giường bệnh vì ung thư phổi mà ngay từ thời gian luôn luôn chúng ta phải đối mặt trực diện với kẻ thù từ những năm đầu của biến cố 30-4-1975. Tôi nhớ cái ngày chúng tháo cùm mở cửa xà lim để chuyển chúng ta vào khu chuồng cọp “sang trọng” hơn ở trại B, đôi cổ chân của bạn sưng lên như chân voi, cái dấu cùm 16 lún xuống thành hai cái vòng. Chúng ta đã kiệt sức và phải bám vào nhau để lết ra gốc hàng dừa phía sau khu biệt giam chờ lên xe để chuyển trại. ( Khu biệt giam hay khu chuồng cọp phân trại B của A-20 Xuân Phước sang trọng hơn chỉ là mới hơn rộng hơn về bệ nằm nhưng chế độ ăn uống thì tệ hại hơn, nước uống được cấp phát dồi dào hơn nhưng nước muối mặn hơn nên dễ bị phù hơn. Tôi và Trần Danh San bị phù rất nặng đến mức cứ ngủ thiếp đi khi đang nói chuyện. Nếu ở ngoài các bạn bè tâm phục không liều chết tổ chức cho một người liều chết leo qua bức tường cao 4 thước có kẽm gai trước họng thượng liên của vọng gác tiếp tế thuốc vitamin B-1 cho chúng ta, chắc chúng ta cũng không thể sống nổi)

Tôi nhớ trại trưởng phân trại E của A-20, Lê Đồng Vũ mà chúng ta gọi là Tư Nhừ vì hắn mang lon thiếu tá công an, giọng lúc nào cũng nhừa nhựa như thằng say rượu, không biết nó sẽ rút cây K-54 ra bắn mình lúc nào, hỏi khích bạn: “Thế nào, anh San còn bẻ gậy chống trời nữa không”. Trần Danh San đáp tỉnh bơ: “Tất nhiên, cán bộ”. Bẻ gậy chống trời là từ ngữ đầy tính tự kiêu nhằm diễu cợt cái thế yếu của những người thua trận như chúng tôi và cái thế “trời” của những kẻ chiến thắng. Tư Nhừ hay Lê Văn “Nhừ” trả đũa một cách mỉa mai: “Hai anh trông còn khỏe lắm. Vào trong B tiếp tục tẩm bổ bằng muối và nghỉ mát để có sức bẻ gậy chống trời !”. Chữ “trời” hắn kéo dài ra mang hơi hám của một lưỡi dao có thể cắt đứt động mạch chủ của chúng ta bất cứ lúc nào.

Bạn ạ, trưa Thứ Hai vừa rồi, Tăng Ngọc Hiếu từ Minnesota gọi điện thoại cho tôi báo tin bạn không còn ở với bọn tôi trên dương thế nữa. Tôi đã biết tin này trước anh Hiếu, nhưng cũng rất xúc động vì giọng nói như khóc của anh, một người bạn tù lúc nào cũng thuần hậu và quảng đại với tất cả các anh em. Bạn có biết Hiếu nói với tôi những lời như thế nào không? Anh ấy nói: “Ông ơi thằng San nó là một tay chơi trong tranh đấu. Hình ảnh của nó rất lớn mà chính nó không bao giờ chú ý đến”. Chữ nghĩa tay chơi trong tranh đấu kể ra thì cũng khó diễn đạt. Không biết riêng bạn thì bạn nghĩ như thế nào và cũng chẳng đứa nào trong chúng tôi nhớ ra để hỏi bạn khi còn trên trần thế, nhưng cá nhân, tôi nghĩ một “tay chơi trong tranh đấu” phải là một người đầy bản lãnh, đông bạn bè tâm phục chung quanh, biết nhận lầm lỗi để sửa chữa, biết  thỏa hiệp để lùi một tiến hai, biết tổ chức và duy trì tổ chức có kỷ luật, thẳng tay loại bỏ những thành viên vô kỷ luật trong tổ chức và có đủ khả năng thương thuyết nói chuyện với những nhóm khác quan điểm để làm việc chung. Tăng Ngọc Hiếu, Vũ Hồng Cương cùng nhiều anh em khi nghe tin bạn vĩnh viễn ra đi đã gọi cho tôi và cho rằng bạn là người có đủ những đức tính này, là người đi tiên phong và can đảm nêu vấn đề nhân quyền ra trước bọn người đang điên cuồng vì chiến thắng, sẵn sàng bắn giết bất cứ ai đi ngược lại suy nghĩ của họ chứ không phải trước một chính quyền chuyên chính đã bớt chuyên chính hơn như chính quyền Việt Nam ngày nay sau khi Hà Nội đã nhận những cái tát đích đáng của dư luận thế giới bên ngoài.

Nhưng bọn tôi vẫn nghĩ rằng cái buổi sáng ở bệnh viện Garden Grove cũng là buổi không hẹn trước mà nên. Hôm ấy tôi thấy bạn tỉnh táo lắm, đi lại được, đã ngồi dậy được, bộ nhớ của bạn “on” trở lại. Bạn nói đủ thứ chuyện quá khứ, hiện tại và cả dự phóng về tương lai. Bạn nhớ tên từng khuôn mặt, tính tình của nhóm anh em tương đối hiểu nhau ở trại A-20, từ Tăng Ngọc Hiếu, Hiếu “đầu bạc”, Ngọc “đen”, Nhì “chính huấn”, Hải “bầu”, Hải “cà”, Ngô Quốc Việt “pilot”, Phụ “dù”, Hai, Mỹ, Tường “dù”, Sơn Hồng Đức, Trần Vinh, Cái Trọng Ty, Võ Long Sơn Hải, Mai Đức Phi cho tới Vũ Hồng Cương, Lương Văn Ngọ, Bùi Đạt Trung tức Trung “điên” (San còn phán: Lão ấy chả điên chút nào), Vũ Đức Nghiêm, Khuất Duy Trác, Võ sư chưởng môn Vovinam Lê Sáng, ông Châu Sáng Thế (Hồi giáo), các linh mục Nguyễn Văn Vàng, Phan Văn Trọng, Nguyễn Luân, Thượng tọa Thích Huệ Đăng, Quách Văn Trung, Trần Công Linh (BĐQ), Tài “sún”, Nhan Hữu Hậu (tùy viên của nhiều đời thủ tướng VNCH), Trịnh Tùng, Tư “rè” Nguyễn Ngọc Tiên, Lê Thái Chân, Tống Phước Hiến, Lê Quang Minh, Khúc Thừa Văn (cựu DB/VNCH), cụ Nguyễn Duy Giá (cựu Tổng Đốc), ông Võ Văn Hải (chánh văn phòng của Tổng Thống Diệm), Trần Quí Phong, Khúc Thừa Văn (cựu DB/VNCH), Nguyễn Chí Thiệp, Phạm Trần Anh và còn rất nhiều người khác. Không hỏi thì thôi nhưng nếu hỏi đến một anh em nào, bạn nói ra vanh vách.

San thân,

Tôi đã đến thăm nhiều đồng đội của chúng ta lần cuối cùng trước khi họ trở thành người thiên cổ. Cuộc viếng thăm nào trong hoàn cảnh ấy cũng buồn và có những giọt lệ của tuổi già. Chẳng hạn như lần tôi và Cương thăm bạn ở khu săn sóc đặc biệt trong khi bạn chờ đợi kết quả thử nghiệm cuối cùng ở một dưỡng đường trên đường College. Lần ấy, chỉ có bạn là vui, chiếc máy cassette trong bạn hoạt động với công xuất tối đa, nhưng chúng tôi thì gần như cạn công xuất. Tuy nhiên, khi tình trạng của bạn được chính thức coi như hết thuốc chữa và được chuyển về bệnh viện Garden Grove, cuộc họp mặt tay ba giữa Cương, tôi và bạn trở thành cuộc gặp mặt nhau lần cuối cùng. Bạn nhắc tới Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền một tác phẩm tiên phong soạn chung với đồng nghiệp và cũng là bạn thân của mình là luật sư Triệu Bá Thiệp mang ra đọc trước nhà thờ Đức Bà ngày 23-4-1977 và bản tuyên ngôn này đã được bạn viết lại trong số báo Hợp Đoàn đầu tiên chúng ta phổ biến ngầm trong trại cải tạo A-20 Xuân Phước. Trong cuộc gặp ấy, tôi nhắc với bạn rằng không ai tránh được những yếu điểm của bản thân và bạn cũng vậy. Nhưng chung cuộc thì bạn cũng đã là người làm toàn vẹn nhất nghĩa vụ đối với vùng đất mà chúng ta lớn lên, học hành, làm việc và chiến đấu. Những việc làm của bạn, của tôi và những anh em khác không mang lại sự thành công như chúng ta mong muốn, nhưng ít ra cũng từ những việc làm đó, chúng ta đã khẳng định được nhân cách của mình, đứng thẳng lưng để đối đầu trực tiếp với cường quyền. Và nhất là về một mặt nào đó, bạn đã là người đi tiên phong một cách can đảm và không tính toán thiệt hơn cho cá nhân mình, gia đình mình trong việc đòi hỏi quyền thiêng liêng của con người phải được tôn trọng chỉ 2 năm sau khi những người thắng trận điều hành đất nước bằng một chính sách hẹp hòi, kỳ thị và rừng rú, chà đạp lên quyền sống của mọi người.

San thân,

Câu chuyện về bạn có thể viết được một cuốn tiểu sử rất dày về đời tư, đời công và đời tù của một nhà tranh đấu. Nói như thế có nghĩa là bạn đã sống từng trải, đã là một ngôi sao trong nghề nghiệp của chính bạn, đã khôn khéo trong cách ứng xử với thế nhân, đã có một vài thiếu sót trong nghĩa vụ đối với gia đình nhưng trong đời công bạn đã làm việc và chiến đấu không biết mệt mỏi góp phần mưu cầu kiến tạo một xã hội dân sự tốt đẹp, trọng pháp và quyền con người được tôn trọng.

Mong bạn về cõi bình yên và sống ở một thế giới khác thênh thang hơn, không còn chiến tranh và cũng chẳng làm gì còn thù hận. Bạn xứng đáng được hưởng một “cõi” như thế. Cái phúc phần đáng nói nhất bạn để lại cho trần thế này là tiếng nói tha thiết nhất của một người yêu nước và yêu con người qua bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền 1977 mà bạn và luật sư Triệu Bá Thiệp là đồng tác giả mà kết quả của việc phổ biến nó khiến bạn phải trả cái giá của tù đầy lâu dài. Bạn cứ yên tâm rằng vắng bóng bạn, chúng tôi vẫn còn mãi mãi nhớ đến San “lùn” của A-20 Xuân Phước ngày nào và tôi sẽ nói với những đứa con đã trưởng thành và làm nên của bạn rằng bố San là người hùng của chúng tôi và cũng là người hùng của chính các cháu đó. (VA)

PHÂN ƯU

Nhận được tin cựu luật sư TRẦN DANH SAN, người đọc Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền ngày 23-4-1977 tại trước Vương Cung Thánh Đường Saigon, cựu tù cải tạo trại trừng giới A-20 Xuân Phước vừa qua đời vì bạo bệnh ngày 11-11-2013 tại tư gia ở Little Saigon, quận Cam, Nam California, hưởng thọ 77 tuổi.

Chúng tôi, những anh em cựu tù cải tạo trại A-20 Xuân Phước thành kính phân ưu cùng gia đình tang quyến và cầu mong hương linh Trần Danh San sớm về cõi Phật.

MỘT SỐ CỰU TÙ CẢI TẠO TẠI TRẠI A-20 XUÂN PHƯỚC Ở BẮC VÀ NAM CALIFORNIA, TEXAS, VIRGINIA, MASSACHUSETTS, WASHINGTON STATE, UTAH, FLORIDA, GEORGIA, MINNESOTA VÀ AUSTRALIA

 

Luật Sư Trần Danh San, người đọc Tuyên Ngôn Nhân Quyền năm 1977 tại Sài Gòn, qua đời

Nguồn : Danluan.org

clip_image004

LS Trần Danh San (đứng – trái) và LS Triệu Bá Thiệp (ngồi – phải). Ảnh: Vietbao.com

Sau sự kiện giới trí thức Tiệp Khắc ban hành Hiến chương 77 chống lại nhà cầm quyền Cộng sản Tiệp Khắc, LS Trần Danh San đã cùng với LS Luật Sư Triệu Bá Thiệp viết và công khai đọc bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Nam Khốn Cùng” trước nhà thờ Đức Bà tại Sài Gòn ngày 23-4-1977.

Ngay sau đó, cả 2 LS đã bị bắt cùng một số người khác như: LS Vũ Đăng Dung, Nguyễn Hữu Giao, Nguyễn Quý Anh, Vũ Hùng Cương, Trần Nhật Tân, Phạm Biểu Tâm, Huỳnh Thành Vị, Nguyễn Hữu Doãn và KTS Nguyễn Văn Điệp và GS Hà Quốc Trung… Họ bị giam giữ nhiều năm trong tù, KTS Nguyễn Văn Điệp và GS Hà Quốc Trung đã tự tử trong tù, LS Trần Danh San bị giam 10 năm.

“Trong một lần trả lời phỏng vấn của Người Việt năm 2011, Luật Sư Trần Danh San kể lại thời điểm đọc bản Tuyên Ngôn: ‘Chúng tôi gồm hơn 10 luật sư trước 1975 đang hành nghề tại Huế và Sài Gòn đã hẹn nhau chia làm hai ngả tiến theo hai đường tập trung trước nhà thờ Ðức Bà vào chiều ngày 23 Tháng Tư. Chúng tôi đã dùng một cái loa phóng thanh qua một máy ghi âm nhỏ để đọc lên bản Tuyên Ngôn. Ngay lúc đó công an ập đến bắt chúng tôi về Tổng Nha Cảnh Sát cũ rồi sau đó giải về Phan Ðăng Lưu’.”

Đây là nội dung bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Nam Khốn Cùng”

“Chúng tôi những người Việt Nam khốn cùng, với tàn lực còn lại với tinh thần tàn phế, quyết đấu tranh bằng con đường bất bạo động để kêu gọi lương tâm nhân loại, các lực lượng của thế giới văn minh, hãy lắng nghe những lời cầu cứu thảm thiết của những kẻ hấp hối.

– Tàn lực vì chúng tôi ăn đói và sẽ chết đói.

– Tinh thần tàn phế vì chúng tôi không được sống và suy tưởng như con người.

Chúng tôi buộc phải cúi đầu khom lưng tung hô vạn tuế chủ nghĩa – một chủ nghĩa đã lỗi thời và chống lại con người. Mặc dầu vậy, chúng tôi vẫn tiếp tục dùng ngôn ngữ con người để thức tỉnh bọn đao phủ mù quáng và tham tàn. Vì chỉ có con đường bất bạo động mới tránh khỏi các cuộc thảm sát huynh đệ tương tàn và khỏi làm nhơ bẩn tấm lòng trong trắng của những người Việt Nam khốn cùng.

Hỡi các nông dân trên thế giới hãy hướng về Việt Nam – nơi mà người nông dân phải cực nhọc suốt ngày với bụng đói. Hoa màu của họ bị tịch thâu nhân danh quy luật duy vật sử quan. Con trâu sau khi cày còn được nghỉ chứ người nông dân Việt Nam buộc phải theo dõi các buổi học tập nhồi sọ vô tận.

Hỡi các nông nhân trên thế giới, các bạn có thấu hiểu thân phận của người công nhân Việt Nam không? Người công nhân Việt Nam phải theo chế độ “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm ngày nghỉ.” Ngày nghỉ họ buộc phải làm gấp đôi để dâng lên đảng, lên lãnh tụ mồ hôi, máu, và nước mắt của họ. Quyền thiêng liêng nhất của công nhân là quyền đình công, quyền này đã bị tước đoạt. Mọi ý kiến và hành động không theo khuôn mẫu sát của đảng đều đương nhiên bị coi như hành động phá hoại, gián điệp.

Hỡi các nhà truyền giáo, các khoa học gia, các triết gia, các văn nghệ sĩ, các trí thức, những ai đang tụng kinh hãy ngừng lại, những ai đang say mê nghiên cứu trong tháp ngà, hãy tung cửa ra, những ai đang sáng tác với ngòi bút, hãy bẻ gãy nó đi, tất cả hướng về Việt Nam – nơi mà chùa và nhà thờ đã bị biến thành hội trường để tuyên truyền chính trị – nơi mà các định luật khoa học bị móp méo để thỏa mãn chủ nghĩa – nơi mà các văn nghệ sĩ chỉ còn một việc duy nhất là tung hô Nhà nước theo lệnh của đảng.

Các vị và các vị hơn ai hết đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời mình cho Lòng tin, Sự thật, Công lý, Hòa bình và Tiến bộ, các vị không có thể làm ngơ quay lưng lại thảm họa Việt Nam trong đó có con người Việt Nam khốn cùng đang bị đày đọa trong xác thịt và câu thúc trong tinh thần. Thảm trạng này là do một thiểu số – bọn đảng viên và tay sai của chúng – muốn áp lên dân tộc khốn cùng này là những ảo mộng điên khùng nhất, quỉ quái nhất mà nhân loại chưa từng thấy. Các lực lượng văn minh trên thế giới hãy đứng dậy.

Không còn chờ đợi gì nữa!

Liên Hiệp Quốc phải can thiệp cấp thời để áp dụng và áp dụng triệt để Bản Quốc Tế Tuyên Ngôn Nhân Quyền đối với những người Việt Nam khốn cùng chiếu theo sự quy định của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

Luật Sư Trần Danh San

(ký tên)

Luật Sư Triệu Bá Thiệp

(ký tên)

23 tháng 4, 1977″.

Nguồn: Tuyên Ngôn Nhân Quyền tại Sài Gòn, 23 tháng 4, 1977