05/28/2019
Khuất Đẩu: Đọc bài thơ TA VỀ của TÔ THÙY YÊN

 

Tôi không dám có ý phê bình, chỉ muốn ghi lại một vài cảm xúc sau khi đọc bài thơ rất nổi tiếng Ta Về của thi sĩ Tô Thùy Yên, người vừa mới qua đời.

     1. Hình ảnh một bóng trên đường lớn, trong bài Ta Về, rất giống với một vệt nâu giữa nền nhung trong bài thơ Cánh đồng con ngựa chuyến tàu.

Một ở câu đầu, một ở câu cuối. Như mở ra và đóng lại một vở kịch dài mà thời gian là lịch sử như một cuộc đảo điên/ sắt thép kinh hoàng va chạm nhau.

Vệt nâu của con ngựa mệt nhoài ngã gục trên cỏ sau khi rượt theo con tàu và cái bóng của gã tù lưu xứ sau 10 năm chết dấp, giống nhau ở chỗ, cả hai đều mong manh, đều rất bé nhỏ. Cả hai đều thua cuộc.

Con ngựa, chỉ để lại một chấm nâu, giống như lão ngư ông sau hơn 80 ngày một mình trên biển cả, chỉ đem về một bộ xương cá kiếm. Đó là một  cuộc thua hết sức bi tráng, nhưng rất đáng tự hào chứ không bi phẫn.

Cuộc thua của người tù thì không được như vậy, thua rất đắng cay, rất đáng xấu hổ. Nói một cách Nam bộ, là thua vô duyên, thua lãng xẹt.

Ta bằng lòng phận que diêm tắt

Chỉ giận sao mồi lửa cháy suông.

2. Năm 1956, bài thơ của chàng trai 18 tuổi ra đời, trong bối cảnh: một nước Việt Nam bị chia đôi. Non 1 triệu người miền bắc di cư vào nam. Và, chính cái điều dự cảm, sẽ có một cuộc chiến tương tàn sắp xảy ra, một cuộc chiến phi lý ngu xuẩn dài đến nỗi, tàu chạy mau mà qua rất lâu, đã khiến cho cái nhìn của chàng về thân phận con người tuy đẹp nhưng rất tuyệt vọng.

Như Trần Dần ở bên kia nửa nước, tai nghe thét gào đến nhẫy óc “nhất định thắng” mà chân bước đi giữa lòng Hà Nội, vẫn “không thấy phố, không thấy nhà/ chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”.

Thế rồi, hơn 30 năm sau, dù đã thua muối mặt, dù đã mười năm xạm mặt soi khe nước, ông lại nghe ra có điều gì như niềm hy vọng. Bởi vì, từ con đường nhỏ bước ra đường lớn, ông thấy thấp thoáng ở cuối đường hãy còn khung trời cũ với cây cỏ cũ, con dế vẫn là con dế cũ… và như thế, so với địa ngục chín tầng vừa trải qua, đó chính là thiên đường.

3. Chữ “về” ở đây, tuy không bịn rịn như “về”* trong ca dao, nhưng vẫn là tiếng gọi thầm trong tận cùng sâu kín suốt mười năm đá cũng ngậm ngùi. Mười năm là bao nhiêu đêm? Và bao nhiêu chữ “về” hiện ra trong những giấc mơ? Nhiều, rất nhiều. Không chỉ trong đêm mà cả trong ngày. Không chỉ những khi mệt quá cái đôi chân này, mà cả những khi chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau.

Cho nên, hai tiếng “ta về” như một tiếng thì thầm ( được nhắc lại 17 lần), tưởng rất khẽ, thực ra là tiếng reo vang động khắp núi rừng, khắp truông cùng phá…

Ta về như hạt sương trên cỏ

Ta về như sợi tơ trời trắng

Ta về như tứ thơ phiêu tán

Ta về như đứa con phung phá

Ta về như tiếng kêu đồng vọng

Ta về như giấc mơ thần bí

Ta về như nước Tào khê chảy

Ta về như bóng ma hờn tủi

Ta về như hạc vàng thương nhớ.

Ta về khai giải bùa thiêng yểm

 Và, bởi vì thời gian còn lại rất hữu hạn, nên ông đành phải dừng lại. Nếu không, ông còn gọi mãi “ta về”.

4. Sau mỗi tiếng “ta về” là những ước mơ, những dự tính:

Chiều nay ta sẽ đi thơ thẩn
Thăm hỏi từng cây, những nỗi nhà
Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa? 


Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh

 

Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm

Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này

5. Cũng được nhắc lại đến những mười lần, là hai tiếng “mười năm”. Đó là khung thời gian khủng khiếp mà người tù lưu xứ không thể nào quên được. Nó chính là nơi chín tầng địa ngục hiển hiện không ở cõi nào khác, mà ở chính cõi đời này, ở giữa trại tù.

Đau đớn thay, đó là cái khung thời gian quý như vàng để một người có thể làm nên những gì đáng làm nhất, cho mình và cho đời. Như thi sĩ, việc phải làm, là làm thơ. Nhưng ai cho phép anh làm. Chỉ có thể góp nhặt những ý những từ trong đêm tối, rồi giấu kín trong tâm thức như điệp viên dấu chất độc trong kẽ răng. Chỉ rơi ra một đôi chữ như “ta về” hay “mười năm” là đủ để tiêu đời.

Cho nên, có thể nói mỗi chữ trong bài thơ này, không phải là mỗi giọt mồ hôi như của phu chữ Lê Đạt, mà là mỗi giọt máu, hay là những mảnh xương đã trở thành phế liệu góp nhặt trong suốt 10 năm, giờ đã khô, đã là một vệt nâu như xác con ngựa trên cánh đồng thuần một màu năm nọ.

Mười năm ấy đến đá cũng phải ngậm ngùi, huống chi là thi sĩ.

Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ

Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu

Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi


Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức mong buồn tận cõi xa 


Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta

Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời

Ta về như đứa con phung phá
Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu
Mười năm, con đã già trông thấy
Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu

6. Tuy gọi mười năm chết dấp, nhưng ông chỉ ngậm ngùi đau chứ không nguyền rủa, hận thù. Không hề nghe ông nhắc đến những cực hình, những tủi nhục mà người tù cải tạo phải chịu đựng như ở quần đảo Goulag. Cũng không nghe ông bóng gió ám chỉ ai. Dường như, dưới mắt ông, những ông những bà cán bộ cũng đã bị lưu đày. Giống như thân phận người lính của cả hai miền, cũng chỉ là cánh quạt. Quạt và quạt mãi, vậy thôi.

Nếu những ai gây ra tội ác (nhiều, nhiều lắm) thì ông mong:

Những ai hôm trước từng gây tội

Hãy lắng tâm tha lấy lỗi mình.

Xin đừng bảo ông cao thượng, ông nhân ái, hay người mở đường cho hòa hợp hòa giải. Nỗi đau quá sâu, quá dài khiến ông vượt lên tất cả, không phải để thành thiền sư, thành Phật mà để “ta vẫn là ta”, tức vẫn “là thi sĩ”, mặc dù trong bài Tàu đêm, ông cảm thán:

Ngồi đây giữa những phân cùng bụi

Ta trở thành than, thành súc vật

Ta gọi rụng rời ta thất lạc

Ta chẳng còn đủ nửa ta đây.

Cho nên hãy cứ để những ai đó “tha lấy lỗi mình”. Việc tha tội không phải của ông. Việc của ông khi được “về” là, tạ ơn đời (trong đó có những ai hôm trước từng gây tội) và tạ ơn đất trời, trong đó có những bông hoa.

Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta

 

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi 

Ngày xưa đã từng có một nhà nho “bái thạch vi huynh”, nghe cũng cao khiết lắm, nhưng vẫn có chút gì kiểu cách, ngạo mạn. Còn ông: cảm ơn hoa đã vì ta nở. Nghe thật nhún nhường, bằng hữu.

Đó chính là nét đẹp của người tù thi sĩ, cho dù bị cướp mất đi quá nửa trong mười năm,  nhưng chỉ cần hoa đã vì ta nở là đã tìm lại được nửa kia, để “Ta vẫn là Ta”.

7. Bài thơ tuy dài nhưng không phải là bản án của chế độ như hồi ức của Solzhenitsyn, mà là những tiếng khóc khô không lệ, giống như thơ của Đỗ Phủ.

Đặng Tiến có một nhận xét rất sâu sắc, rằng thơ của Tô lang (Tô Thùy Yên), không thời gian, không tổ quốc. Tức là thơ không chỉ một thời mà của nhiều thời, không của một người mà của muôn người.

Chữ “ta” trong “ta về”, phải được hiểu là “chúng ta”, có tôi và cả triệu người buồn của miền Nam, cho dù không bị đưa vào trại cải tạo, nhưng bị nhốt trong những nhà tù không chấn song, cũng đã bị tẩy não không khác gì họ.

Điều bi thiết nhất, ác độc nhất mà chế độ toàn trị này gây nên, chính là “chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau”.

Vì là không thời gian, nên tôi mong 5 năm, 10 năm hay quá lắm là 20 năm, bài thơ Ta về sẽ được dạy trong các trường học, để khai giải bùa thiêng yểm, cho các thế hệ sau thấy được các thế hệ trước đã sống qua cơn mộng dữ như thế nào.

8. Trên cõi người bao la như đường lớn, ông chỉ là một chiếc bóng nhỏ. Nhưng trong nhóm khai phá Sáng Tạo, theo tôi, ông là cái bóng lớn. Vượt qua cả Thanh Tâm Tuyền và Mai Thảo. Bởi những con chữ của ông đơn giản, mộc mạc, những hình ảnh thuần Việt quê mùa và nhất là, hơn ai hết trong bọn họ, ông đã vượt qua chín tầng địa ngục.

Bài này xin vì ông mà viết. Như một bông hoa dại bên đường, xin vì ông mà nở.

Khuất Đẩu

28/5/2019

 

*mình về, ta chẳng cho về

Ta nắm chéo áo ta đề bài thơ.

 

©T.Vấn 2019