Chương Bẩy: Chơi Trên Khắp Cõi Đất Người

Một vị hồng y vui vẻ trong chiếc áo đấu azulgrana của San Lorenzo năm 2011.

Giới Thiệu: TỰ TRUYỆN “HY VỌNG” CỦA CỐ GIÁO HOÀNG FRANCIS

Chương 7.
Chơi Trên Khắp Cõi Đất Người

Tôi luôn thích chơi bóng đá, dù chẳng phải là người giỏi. Ở Buenos Aires, những người như tôi được gọi là pata dura—tức là hai chân vụng về như nhau. Nhưng tôi vẫn chơi. Tôi thường giữ vị trí thủ môn. Một vị trí không tồi: Nó rèn luyện cho bạn khả năng đối mặt với thực tế, đối phó với các vấn đề: Có thể bạn không biết trái bóng đến từ đâu, nhưng bạn vẫn phải cố bắt lấy nó. Giống như trong cuộc đời vậy.

Chơi là một quyền, và còn có quyền thiêng liêng được phép không trở thành nhà vô địch. Đằng sau mỗi quả bóng lăn là một cậu bé với những ước mơ và khát vọng, với cả thể xác lẫn tâm hồn. Chơi không chỉ vận động cơ bắp, mà vận động cả nhân cách, cả những chiều sâu bên trong. Khi ai đó nỗ lực hết mình, người ta thường nói: “Cậu ấy chơi bằng cả linh hồn.”

Chơi thể thao là cơ hội lớn để học cách cống hiến hết mình, chấp nhận hy sinh và trên hết là học cách không đơn độc. Ngày nay chúng ta sống trong một thế giới dễ khiến con người tự cô lập, tạo ra những mối liên kết ảo và xa cách. Trên lý thuyết thì kết nối, nhưng thực chất lại cô đơn. Vì vậy, thật tuyệt vời khi được chơi với một trái bóng thực sự, được chuyền bóng cho nhau, cùng tính toán chiến thuật, cùng trưởng thành, cùng làm việc nhóm… Khi ấy quả bóng không còn đơn thuần là một dụng cụ, mà trở thành nhịp cầu để con người thực sự gặp gỡ nhau, đối mặt và chia sẻ.

Nhiều người gọi bóng đá là “trò chơi đẹp nhất thế giới” và với tôi, điều đó là đúng. Nếu được sống đúng nghĩa như thế—như một trò chơi xây dựng sự tương tác tự do và xã hội—nó không chỉ làm mạnh đôi chân, mà còn bồi đắp trí óc và trái tim.

Trong Sách Châm Ngôn, Đức Khôn Ngoan nói: “Ngày ngày Ta làm vui thỏa trước mặt Người, vui đùa trên khắp cõi đất Người.” (Châm Ngôn 8:31). Trước cả khi thế giới hình thành, Người đã chơi.

Hàng triệu triệu thiếu niên trên thế giới có thể hình dung Người đang đá bóng.

Một nhà văn lớn của châu Mỹ Latinh, Eduardo Galeano, kể rằng một nhà báo từng hỏi nữ thần học gia Tin Lành Dorothee Sölle: “Bà sẽ giải thích cho một đứa trẻ thế nào là hạnh phúc như thế nào?” Bà trả lời: “Tôi sẽ không giải thích. Tôi sẽ ném cho nó một quả bóng và để nó chơi.”

Không cách nào tốt hơn để giải thích hạnh phúc ngoài việc làm cho ai đó thực sự hạnh phúc.

Và chơi thể thao mang lại hạnh phúc, bởi nó cho bạn cảm nhận tự do, thi đấu vui vẻ, sống đúng với đam mê—dù bạn có là một pata dura đi chăng nữa.


Theo lời mẹ tôi, Regina, vốn mang họ Sivori, trong huyết quản gia đình chúng tôi có chảy dòng máu của những nhà vô địch. Ông nội của Omar Sívori—người sau này trở thành một trong những tiền đạo xuất sắc nhất trong lịch sử bóng đá—cũng đến từ cùng khu vực Lavagna, vùng Liguria nội địa, nơi tổ tiên chúng tôi sinh sống. Omar, người đầu tiên được mệnh danh là El pibe de oro (cậu bé vàng), khi Maradona còn chưa ra đời, sinh tại Argentina trước tôi một năm. Sau khi giành chức vô địch với đội Río de la Plata, anh chuyển sang Ý, đầu quân cho Juventus rồi Napoli. Khi gia đình tôi nhắc đến họ hàng nhà Sívori ở Argentina, và đôi khi cũng nhắc tới chàng cầu thủ ấy, mẹ tôi thường giải thích cho chúng tôi nghe mối quan hệ thân thuộc, dù đôi khi hơi xa, và kể về hành trình mỗi nhánh gia đình phân tán khắp nơi trên đất nước. Omar Sívori đã khoác áo cả đội tuyển quốc gia Ý lẫn Argentina, và từng đoạt danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu cùng Quả bóng Vàng vào đầu những năm 1960. Chúng tôi gần bằng tuổi nhau và dẫu có chút liên hệ họ hàng, anh ấy rõ ràng không thừa hưởng “hai chân vụng về” như tôi…


Sívori là một nhà vô địch, nhưng không thể là “thần tượng” thời thơ ấu của tôi; bởi lẽ khi đó cả hai chúng tôi đều còn nhỏ, và hơn nữa, tôi lại là fan của San Lorenzo! Ở khu phố Boedo, không xa nơi ông bà ngoại tôi sống, màu áo azulgrana (xanh dương và đỏ) của câu lạc bộ San Lorenzo de Almagro tràn ngập trên các ban công và cửa sổ. CLB này được thành lập vào năm 1908 bởi một linh mục Dòng Salesian, cha Lorenzo Massa, cũng gốc Piedmont, với màu áo lấy cảm hứng từ Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu. Cha tôi, Mario, một người cao lớn, từng chơi bóng rổ tại đây. Tôi cũng thích bóng rổ và thỉnh thoảng có chơi. Môn thể thao này cũng là một trường học tuyệt vời cho cuộc sống. Ngay cả bây giờ, khi tôi nói về những điểm tựa vững chắc trong cuộc đời, tôi thích hình ảnh cầu thủ bóng rổ giữ chân trụ, xoay người tìm cách chuyền bóng hoặc tiến lên rổ. Với tất cả chúng ta là Kitô hữu—và đặc biệt với chúng tôi, các linh mục—chân trụ ấy, nền tảng quanh đó mà ta phải xoay quanh để xây dựng đời sống mỗi ngày, chính là thập giá của Chúa Kitô.


Nhưng trong tất cả các môn thể thao tại câu lạc bộ, bóng đá vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối. Và dù tôi không phải cầu thủ bóng đá hay bóng rổ xuất sắc, tôi luôn là một cổ động viên cuồng nhiệt. Tôi thường cùng cha tôi và các anh em, Oscar và Alberto, tới sân Viejo Gasómetro để cổ vũ San Lorenzo—nơi linh thiêng của tất cả chúng tôi, những người Cuervos (bầy quạ)—biệt danh do các cổ động viên đối thủ đặt cho vì các tu sĩ Salesian mặc áo đen. Mẹ tôi cũng thường đi cùng. Đó là một hoạt động gia đình tuyệt vời, và lời lẽ chửi bới nặng nề nhất vang lên từ khán đài cũng chỉ dừng lại ở mức “ăn gian” hay “đồ lừa đảo” mà thôi.

Trước khi trận đấu bắt đầu, chúng tôi đi bộ tới sân, mang theo hai chiếc hũ thủy tinh lớn để gửi ở một tiệm pizza ven đường, nơi Papá đặt hàng. Trên đường về, chúng tôi ghé qua lấy lại hũ, lúc này đã được đổ đầy ốc sên trong nước sốt cay, kèm theo một chiếc pizza nướng đá nóng hổi. Vì vậy, bất kể thắng thua ra sao, sau mỗi trận đấu, gia đình chúng tôi vẫn luôn có một bữa tiệc nhỏ.

Tôi vẫn còn nhớ rõ hương thơm của chiếc pizza ấy: Có lẽ nó giống như chiếc bánh madeleine của Proust đối với tôi. Thật ra, một trong những điều nhỏ bé mà tôi nhớ nhất chính là được ra ngoài ăn pizza. Tôi luôn yêu thích việc đi bộ. Khi còn là hồng y, tôi thường đi bộ quanh thành phố và dùng tàu điện ngầm. Có người thấy lạ và nhất định đòi tháp tùng hoặc bắt tôi đi xe, nhưng thực ra cuộc sống đơn giản lắm: Tôi chỉ thích đi bộ. Đường phố dạy tôi rất nhiều điều. Tôi yêu thành phố—trên mặt đất và dưới lòng đất, các quảng trường, các quán ăn nhỏ, và một chiếc pizza ăn ngoài trời, hương vị khác hẳn pizza giao tận nhà. Tôi là người sinh ra để sống giữa lòng thành phố.

Khi còn nhỏ và khi trở thành tổng giám mục, tôi luôn thích sống ở thành phố.

Sân Viejo Gasómetro của San Lorenzo nay không còn nữa. Năm 1979, chế độ độc tài quân sự buộc câu lạc bộ phải thi đấu trận cuối cùng tại đó để rồi phá dỡ sân, phục vụ cho các mưu đồ tài chính. San Lorenzo bị trục xuất khỏi Boedo. Suốt mười lăm năm sau, đội bóng phải lưu lạc qua nhiều sân vận động khác nhau trong thành phố, cho đến khi xây dựng được một sân mới. Nhưng các Cuervos chưa bao giờ thôi khao khát trở về Boedo. Năm 2019, Câu lạc bộ Atlético San Lorenzo de Almagro tuyên bố đã giành lại quyền sở hữu mảnh đất cũ và sẽ tái xây dựng Gasómetro tại đó. Người ta còn nói rằng sân vận động mới nên mang tên “Papa Francisco,” nhưng tôi thì không mấy thích ý tưởng đó.


Tôi đã theo dõi gần như tất cả các trận đấu sân nhà trong mùa giải vô địch năm 1946, và chỉ vài ngày trước sinh nhật mười tuổi của mình, San Lorenzo đã lên ngôi. Hơn bảy mươi năm sau, tôi vẫn có thể hình dung ra đội hình ấy như thể mới hôm qua: Blazina, Vanzini, Basso, Zubieta, Greco, Colombo, Imbellone, Farro, Martino, Silva… Mười người tuyệt vời. Và rồi… rồi có Pontoni. René Alejandro Pontoni, tiền đạo trung tâm, là cây săn bàn chủ lực của San Lorenzo, động lực thúc đẩy El Ciclón (Cơn lốc), và cũng là thần tượng của tôi. Chắc chắn ông ấy không có “hai chân vụng về” như tôi. Pontoni sút tốt cả hai chân như nhau, lừa bóng khéo léo, sáng tạo, đánh đầu mạnh mẽ và cực kỳ thành thạo những cú vô lê móc bóng ngược. Ông có thể ghi bàn theo mọi cách, và tôi đã thấy ông làm được điều đó theo mọi cách.

“Khi tôi gặp các đội tuyển quốc gia Argentina và Ý, do Messi và Buffon dẫn dắt, trong một trận đấu từ thiện ngay sau khi tôi được bầu làm giáo hoàng, tôi đã nói đùa: ‘Có ai trong số các cậu đủ can đảm để ghi một bàn kiểu Pontoni không?’” Các cầu thủ trẻ mỉm cười, có vẻ bối rối vì không hiểu ý tôi, nhưng bàn thắng ấy—tac, tac, tac, goal—đã in sâu trong tâm trí tôi, như nhiều thứ khác từng khiến một đứa trẻ chăm chú theo dõi và ghi nhớ mãi mãi. Tháng 10 năm 1946: Giải đấu đang đến hồi kết và San Lorenzo đối đầu với Racing de Avellaneda. Một đường chuyền từ cánh trái, Pontoni quay lưng về phía khung thành, khống chế bóng bằng ngực, rồi không để bóng chạm đất, anh tâng bóng vượt qua hậu vệ đang lao tới, sau đó từ ngoài vòng cấm tung cú sút sấm sét vào góc phải thủ môn. Gooooooooooal! Bởi vì ở Nam Mỹ, mỗi bàn thắng bao giờ cũng kéo dài tiếng “o” hơn ở châu Âu, và bàn thắng nhỏ nhất cũng trở thành một golazo vĩ đại, huống chi là bàn thắng như thế này! Tôi ôm chầm lấy cha mình, ôm lấy các anh em, mọi người ôm chầm lấy nhau. Với tôi, Pontoni là biểu tượng của bóng đá, của tinh thần đồng đội, của tình yêu đối với môn thể thao không chỉ vì tiền bạc: thay vì những cám dỗ triệu đô từ châu Âu, ông chọn ở lại với câu lạc bộ, ở bên gia đình, bạn bè và những người thân yêu. Ông ấy là một cầu thủ vĩ đại và luôn vĩ đại, ngay cả sau chấn thương nặng vài năm sau đó đã làm gián đoạn sự nghiệp. Ông từng lang bạt một thời gian ở Nam Mỹ—Colombia, Brazil—trước khi trở về San Lorenzo rồi giải nghệ, mở một quán ăn kiểu Ý. Ông đã có một cuộc đời tuyệt vời.

Con trai của ông là René—cùng tên với cha mình—đã đến gặp tôi tại Vatican vài năm sau khi tôi được bầu làm Giáo Hoàng.

Một vị hồng y vui vẻ trong chiếc áo đấu azulgrana của San Lorenzo năm 2011.


Tôi chưa từng xem truyền hình kể từ năm 1990, để giữ trọn lời khấn mà tôi đã nguyện với Đức Mẹ Núi Carmel vào đêm 15 tháng 7 năm đó. Hôm ấy tôi cùng cộng đoàn ở Buenos Aires đang xem TV, và một cảnh tục tĩu đột nhiên hiện ra trên màn hình, khiến tôi vô cùng bối rối và phẫn nộ: tôi đứng dậy và bỏ đi. Ngày hôm sau tôi chuẩn bị chuyển về Córdoba. Cứ như thể Thiên Chúa đã nói với tôi rằng, truyền hình không dành cho tôi, rằng nó chẳng mang lại điều gì tốt lành. Trong thánh lễ hôm đó, tôi đã khấn hứa với Đức Mẹ, và từ đó đến nay, lời hứa ấy chỉ bị phá vỡ trong vài trường hợp đặc biệt, như ngày 11 tháng 9 năm 2001 hoặc vụ tai nạn máy bay ở Buenos Aires năm 1999, và hầu như không gì khác. Vậy nên suốt ba mươi năm, tôi chưa từng xem San Lorenzo thi đấu trên TV.

Một lần trong một cuộc phỏng vấn, người ta hỏi tôi rằng giữa Messi và Mascherano, trong số các giáo hoàng, tôi thấy mình “giống ai hơn” . Tôi phải trả lời rằng tôi không thể đưa ra so sánh, vì tôi đã không xem bóng đá từ lâu, mặc dù Messi đã nhiều lần đến Vatican trong các sự kiện chính thức. Dẫu vậy, tôi chắc chắn rằng cả hai đều không phải dạng “chân vụng về” như tôi!
Tất nhiên, tôi vẫn luôn cập nhật thông tin—về mọi thứ và về San Lorenzo nữa. Một vệ binh Thụy Sĩ thường để kết quả và bảng xếp hạng trên bàn làm việc của tôi. Năm tôi được bầu làm giáo hoàng, San Lorenzo đã vô địch giải quốc gia, rồi lần đầu tiên trong lịch sử giành Copa Libertadores. Khi một nhóm cầu thủ đến Vatican trao chiếc Cúp các nhà vô địch châu Mỹ cho tôi sau buổi yết kiến chung, tôi đã nói với họ: “Các anh là một phần bản sắc văn hóa của tôi.”

Như đại văn hào bóng đá Osvaldo Soriano, một Cuervo chính gốc từ Boedo, từng viết:
“Trong bóng đá, người ta không chọn đội vô địch. Là người của San Lorenzo là một trách nhiệm len lỏi vào cuộc sống, với niềm tự hào xen lẫn những nỗi chua xót, cũng như là người Argentina vậy.”
Bên cạnh bàn tay của cha đã dẫn tôi tới sân vận động thuở nhỏ, còn có khu phố, những người dân, quảng trường nhỏ, bạn bè, và những giấc mơ tuổi thơ của chúng tôi…


Tôi từng nghe một huấn luyện viên trẻ nói rằng, trên sân bóng, bạn phải bước đi bằng đầu ngón chân, để không giẫm nát những giấc mơ thiêng liêng của những đứa trẻ. Thật quan trọng biết bao khi không làm nặng lòng các em bằng những áp lực, những hình thức ràng buộc làm tổn thương tự do và trí tưởng tượng của chúng. Và cũng không nên dạy các em những con đường tắt dễ khiến các em lạc lối trong mê cung cuộc đời. Thật buồn nếu cha mẹ trở nên quá nhiệt tình, thành những cổ động viên cuồng nhiệt hay thậm chí thành “quản lý” cho con mình, như tiếc thay đôi khi vẫn xảy ra.
Sự vĩ đại trong cuộc đời: đó là chiến thắng chung cho tất cả chúng ta, và cũng là điều duy nhất thực sự đáng kể.

Đối với tôi, những trận bóng đá đẹp nhất vẫn luôn là những trận đấu ở quảng trường khu phố—dù đó là Plazoleta Herminia Brumana, quê tôi, hay bất cứ quảng trường nào khác—trên con đường lát đá, trên bãi cỏ trong vườn, hay trên con đường đất nứt nẻ dưới ánh mặt trời, ở bất kỳ góc nào trên thế giới.
“Dù những kẻ kỹ trị có lập trình nó chi li đến đâu,” Galeano viết, “dù những người quyền thế có thao túng nó ra sao, bóng đá vẫn luôn khao khát trở thành nghệ thuật của sự bất ngờ.” Và là tài sản của nhân dân.

Vậy thì nào, chúng ta hãy đếm xem ai sẽ vào đội cùng tôi; đánh dấu hai điểm trên mặt đất để làm khung thành; có thể ai vụng về nhất sẽ làm thủ môn, hoặc tất cả chúng ta thay phiên nhau làm “thủ môn bay.” Tất cả cùng nhau chạy theo và khống chế quả bóng: không cần biết bạn tên gì, gia đình bạn ra sao, bạn đến từ đâu. Đó mãi mãi sẽ là vẻ đẹp đích thực của bóng đá.

Và đó cũng chính là cách để lớn lên.

Bài Mới Nhất
Search