Chương Mười Hai: Họ Ăn Nuốt Dân Ta Như Ăn Bánh

Giới Thiệu: TỰ TRUYỆN “HY VỌNG” CỦA CỐ GIÁO HOÀNG FRANCIS

Chương 12.

Họ ăn nuốt dân Ta như ăn bánh
(They Feed upon My People as They Feed upon Bread)

Song song với việc đi học, mỗi buổi sáng tôi làm việc tại phòng thí nghiệm kiểm định. Tôi rất thích công việc đó. Người phụ trách là một phụ nữ tuyệt vời, bà Esther Ballestrino de Careaga, một nhà nghiên cứu dược sinh học, và giữa những ống nghiệm, thuốc thử và kính hiển vi, bà không chỉ dạy tôi cách làm việc mà còn dạy tôi sự cẩn trọng tỉ mỉ vốn là yếu tố cốt lõi của công việc đó.

Bà rất cảnh giác mỗi khi tôi tỏ ra vội vàng khi nộp kết quả:
— “Nhưng em đã làm thêm xét nghiệm kia chưa?”
Tôi trả lời rằng tôi nghĩ không cần thiết, vì mọi chỉ số khác đều chỉ ra cùng một kết quả.
— “Thế là chưa đủ,” bà đáp. “Sự cẩn trọng và chính xác trong công việc là tất cả. Lập luận khoa học phải được củng cố bằng kinh nghiệm thực nghiệm.”

Nhưng người phụ nữ tuyệt vời ấy còn làm nhiều hơn thế nữa: bà đã dạy tôi cách suy nghĩ—ý tôi là suy nghĩ về chính trị.

Bà sinh năm 1918 tại Encarnación, Paraguay, lấy bằng sư phạm rồi sau đó là bằng đại học, và trở thành một nhà hoạt động tích cực trong Đảng Cách mạng Tháng Hai (Partido Revolucionario Febrerista), trong Phong trào Giải phóng Phụ nữ Tháng Hai (Movimiento Femenino Febrerista de Emancipación), và cho giới công nhân nông thôn.

Bà là một người theo chủ nghĩa Marx, bị chính quyền và giới địa chủ nhắm đến, bị đàn áp trong thời kỳ độc tài Morínigo, và cuối cùng phải lưu vong sang Argentina, nơi bà kết hôn và sinh ba cô con gái—mà đến nay tôi vẫn còn giữ liên lạc.

Bà ba mươi lăm tuổi, còn tôi khi ấy chưa đầy mười bảy, khi chúng tôi gặp nhau.
Đó là những năm diễn ra vụ án nổi tiếng Rosenberg, trong đó một cặp vợ chồng người Mỹ gốc Do Thái bị kết án tử hình tại Hoa Kỳ. Họ bị bắt vào thời kỳ đỉnh điểm của làn sóng chống cộng McCarthy, và sau một phiên tòa đầy cảm xúc và nhiều tranh cãi, họ bị kết tội chuyển giao tài liệu liên quan đến bom nguyên tử cho Liên Xô.

Vụ án thu hút sự chú ý của toàn thế giới, đến mức đã có một chiến dịch kêu gọi khoan hồng quy mô lớn, với sự tham gia của những nhân vật nổi tiếng như nhà văn Mỹ Dashiell Hammett, Bertolt Brecht, Pablo Picasso, Frida Kahlo, Jean-Paul Sartre, Albert Einstein, thậm chí cả Giáo hoàng Piô XII. Nhưng tất cả đều vô ích. Họ đã bị xử tử trên ghế điện tại nhà tù Sing Sing.

Tôi vẫn nhớ đó là một trong những đề tài thảo luận đầu tiên giữa tôi và Esther. Bà kể cho tôi nghe và trình bày quan điểm của bà với tư cách một nhà hoạt động.

Bà đưa cho tôi nhiều sách để đọc và khuyến khích tôi mở rộng kiến thức qua việc đọc thêm.
Thời kỳ đó, unidad básica (chi nhánh địa phương của phong trào Peronist), cũng như comité radical (chi nhánh địa phương của phe Radicals), hay chi nhánh của đảng Xã hội, đều là những trung tâm hoạt động chính trị rất sôi nổi.

Tôi thích đến tất cả những nơi đó.

Tôi cũng thường đọc tờ La Vanguardia, tờ báo được các nhà hoạt động xã hội chủ nghĩa phát miễn phí trên đường phố thời ấy. Và khi Esther mang đến cho tôi tờ báo cộng sản Nuestra Palabra, tôi cũng đọc luôn.
Dĩ nhiên, tôi không đồng tình với tất cả những gì viết trong đó, nhưng chúng tôi thảo luận và điều đó khiến tôi suy nghĩ.
Esther là một người phụ nữ rất tôn trọng người khác, không hề cực đoan, và cũng rất hài hước. Tương tự, tôi cũng quan tâm đến nghệ thuật xã hội và các hoạt động văn hóa-chính trị của Nhà hát Nhân dân (Teatro del Pueblo) do Leónidas Barletta sáng lập, vốn biểu diễn trong tầng hầm ở Diagonal Norte.

Tôi đã từng nói rằng những người cộng sản đã “lấy cắp lá cờ” của chúng ta, bởi vì lá cờ của người nghèo đích thực là lá cờ Kitô giáo, và điều đó hoàn toàn đúng. Tin Mừng, đặc biệt chương 25 của Phúc Âm Mátthêu—chính bản án sẽ được dùng để phán xét chúng ta—đã có từ lâu trước khi có Lênin. Về mọi mặt.

Những ai tin vào Thiên Chúa, những ai tin vào Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người, đều biết rằng trung tâm của Tin Mừng chính là Tin Mừng cho người nghèo. Chỉ cần đọc là thấy.
Chúa Giêsu đã nói rất rõ ràng về điều này: “[Đức Chúa] đã xức dầu cho tôi để loan báo Tin Mừng cho người nghèo. Ngài đã sai tôi công bố sự giải thoát cho những kẻ bị giam cầm và trả lại ánh sáng cho người mù lòa, thả tự do cho những ai bị áp bức…” (Lc 4:18).

Cho người nghèo, cho những ai cần được cứu rỗi, cần được đón nhận vào xã hội.

Và nếu chúng ta tiếp tục đọc Tin Mừng, chúng ta sẽ thấy rằng Chúa Giêsu luôn đứng về phía những người bị gạt ra ngoài lề: những người cùi hủi, những người góa bụa, những đứa trẻ mồ côi… và cả những kẻ tội lỗi nữa… Và điều này là niềm an ủi cho tôi. Bởi vì tội lỗi cũng là một thứ nghèo đói cần được cứu chuộc, một sự nô lệ cần được giải phóng.

Tôi xuất thân từ một gia đình theo phe Radical (Đảng Cấp Tiến). Ông ngoại tôi là một trong những người đã tham gia khởi xướng cuộc gọi là Cuộc Cách mạng tại Công viên (Revolución del Parque) năm 1890, cuộc nổi dậy dẫn đến việc lật đổ tổng thống Miguel Juárez Celman vào cuối thế kỷ XIX.
Theo một nghĩa nào đó, gia đình chúng tôi mang tính “tinh hoa,” nhưng lại một cách khá trớ trêu, bởi vì thực tế chúng tôi không hề giàu có. Chúng tôi chỉ là những người nghèo từng bước leo lên tầng lớp trung lưu—và đôi khi cũng trượt dài một cách ầm ĩ trở lại.

Năm 1946, khi nước Ý—trong niềm hân hoan của ông cố Giovanni—bỏ phiếu chống chế độ quân chủ và thành lập nền cộng hòa, thì Argentina bắt đầu bước vào một giai đoạn dài, khó khăn và đa diện của chủ nghĩa Peron. Gia đình tôi đều là những người chống Peron, tất cả. Phó tổng thống lúc đó là Hortensio Quijano, và khi còn nhỏ, chúng tôi đã học hát bài: “Perón, Quijano, due sporchi della mano!” (“Perón, Quijano, hai bàn tay bẩn!”).

Thế nhưng, vài năm sau, khi bước vào tuổi thiếu niên, tôi bắt đầu quan tâm hơn đến những cải cách xã hội mà Perón thực hiện, và dần dần cảm thấy có thiện cảm với ông ấy. Tôi còn nhớ có một bữa trưa Chủ nhật, khi tôi khoảng mười lăm tuổi, tại nhà ông bà ngoại.
Có một người cậu—Guillermo, một doanh nhân, người chồng tốt bụng của dì Catalina—cứ thao thao bất tuyệt công kích Perón… Cho đến khi tôi không thể chịu nổi nữa và mất bình tĩnh:
— “Nhưng cậu không có quyền phán xét như thế!” Tôi phản đối. “Cậu giàu có, cậu biết gì về người nghèo, về nỗi đau khổ của họ?”
Rồi ông ấy quay sang công kích Evita, cho rằng bà ấy là người không đứng đắn vì từng là diễn viên điện ảnh.
— “Nhưng bà ấy giúp người nghèo,” tôi đáp trả. “Còn cậu, cậu đã làm được gì cho người nghèo?”

Cuộc tranh luận trở nên gay gắt, cho đến khi tôi chộp lấy bình soda và xịt thẳng vào mặt cậu.
Dì Catalina phải kéo tôi ra ngoài, và rồi, có thể nói là “sóng yên biển lặng.”
Tôi đã xin lỗi, dĩ nhiên. Nhưng đó đã trở thành một kiểu “lễ rửa tội” công khai đầu tiên cho niềm đam mê chính trị của tôi—dù nước hôm đó không đổ xuống đầu tôi.

Trong những nguyên lý ban đầu của học thuyết Peron có một sự liên hệ nhất định với học thuyết xã hội của Giáo hội: Perón thường gửi các bài diễn văn của mình cho Đức Giám mục Nicolás De Carlo, lúc đó là giám mục giáo phận Resistencia ở tỉnh Chaco, để được góp ý xem có phù hợp với giáo lý hay không.

Tôi luôn luôn, luôn luôn là một con người thao thức chính trị.

Ở Nam Tư cũ có câu: “Hai người Slovene thì thành hợp xướng, hai người Croat thành quốc hội, còn hai người Serb thì thành quân đội.” Còn ở Argentina, cứ hai người thì thành một cuộc nội chiến.

Điều quan trọng nhất là: cuộc cãi vã với cậu tôi hôm đó là lần đầu tiên tôi công khai phản kháng để bảo vệ người nghèo. Một ngọn lửa, một cam kết xã hội, mà sau này tôi tìm thấy được nhiều nhất trong Giáo hội—trong giáo huấn dạy ta phải đấu tranh chống lại mọi bất công, mà không để mình bị cuốn vào những hình thức “thực dân hóa ý thức hệ” hay “nền văn hóa của sự thờ ơ.”

Esther Ballestrino de Careaga là một người phụ nữ phi thường. Tôi rất quý bà.

Khi cuộc chiến bẩn thỉu (guerra sucia) bắt đầu—chương trình đàn áp bạo lực của Argentina nhằm dập tắt mọi bất đồng trong lĩnh vực văn hóa, chính trị, xã hội, công đoàn hay đại học—vòng kim cô cũng dần siết lại quanh Esther.

Sau cuộc đảo chính ngày 24 tháng 3 năm 1976 do Jorge Rafael Videla cùng các tướng lĩnh thực hiện, Esther đã xin và được cấp quy chế tị nạn bởi Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn.
Nhưng đến cả điều đó cũng không đủ bảo vệ bà: nhà bà bị lục soát nhiều lần, người thân bị bắt giữ.

Ngày 13 tháng 9 năm 1976, con rể bà, Manuel Carlos Cuevas—chồng của cô con gái Mabel—bị bắt đi.
Ngày 13 tháng 6 năm 1977, đến lượt con gái bà, Ana María, bị bắt khi mới chỉ mười sáu tuổi và đang mang thai ba tháng.

Một tháng sau đó, Esther đến trụ sở báo Buenos Aires Herald để tố cáo việc con gái bị bắt cóc và mất tích.
Mọi người đều kể lại rằng họ ấn tượng mạnh với sự cứng cỏi và uy nghi mà bà thể hiện.

Vào tháng Mười, sau bốn tháng chịu đựng kinh hoàng, Ana María được thả về.
Cô kể rằng mình bị giam tại Trung tâm giam giữ bí mật Club Atlético—một kho tiếp tế của cảnh sát bị biến thành trại tập trung.
Cô bị xích cùng những người khác, bị ép phải nghe những bài diễn văn của Hitler, những bài ca phát xít qua loa phóng thanh để át đi tiếng la hét của những người bị tra tấn.

Ana María kể rằng cô bị trùm đầu, lột trần truồng, đánh đập, chích điện vào người, bị treo ngược tay chân, bị bóp nghẹt bằng túi nhựa, bị đốt bằng thuốc lá…
Việc cưỡng hiếp là một phần trong phương pháp tra tấn, nhưng Ana María đã thoát được bằng một sự lanh trí chớp nhoáng:
Khi bị lột trần, cô có một vết nhiễm trùng trên da.
— “Cái gì thế kia?” bọn tra tấn hỏi.
Cô cúi đầu:
— “Em xấu hổ…”
Chúng quát:
— “Nói mau, đó là gì?”
— “Bệnh phong,” cô thì thầm.
— “Mày bị phong cùi?”
— “Vâng,” cô đáp.
Chúng sợ hãi và nhốt cô lại.

Anh rể cô thì không còn dấu vết.
Ông là một trong 30.000 người mất tích ở Argentina.

Sau khi Ana María được thả, Esther gọi cho tôi.
Lúc đó tôi đã được bổ nhiệm làm Bề trên tỉnh dòng Tên và đang giảng dạy tại Colegio Máximo de San Miguel ở Córdoba.

Bà bảo:
— “Mẹ chồng tôi bệnh nặng lắm, tôi muốn cha đến ban bí tích xức dầu. Cha có thể đến nhà tôi không?”
Dù biết gia đình họ không theo đạo, tôi vẫn thấy có điều gì đó không ổn.
Tôi đến bằng một chiếc xe van nhỏ.
Vừa tới nơi, Esther nói thật: bà cần cất giấu thư viện sách của mình—những sách nghiên cứu xã hội, chính trị, rất nhiều sách Marxist—vì nếu bị phát hiện, bà sẽ gặp nguy hiểm lớn.

Chúng tôi nhanh chóng chất đầy sách lên xe và tôi cất giữ chúng tại Colegio Máximo.

Esther đưa mẹ chồng và ba đứa trẻ sang Brazil, rồi sang Thụy Điển, nơi Ana María sinh con gái đầu lòng.
Các cô con gái van xin bà ở lại, nhưng bà từ chối:
— “Mẹ sẽ tiếp tục ở lại cho đến khi tất cả desaparecidos trở về, vì tất cả bọn trẻ đó cũng là con của mẹ.”

Bà tham gia nhóm Madres de Plaza de Mayo ngay từ đầu.

Ngày 8 tháng 12 năm 1977, Esther bị lực lượng cảnh sát chính trị bắt cóc trước cửa nhà thờ Santa Cruz.
Bà năm mươi chín tuổi. Không ai trong gia đình còn gặp lại bà nữa.

Năm 2015, tôi gặp lại hai cô con gái của bà—Ana María và Mabel—tại tòa Sứ thần Tòa thánh ở Asunción, Paraguay, trong chuyến tông du. Chúng tôi ôm nhau. Họ nói với tôi:
— “Các bạn trẻ của chúng tôi đang gây bão, và cha cũng vậy.”
Tôi trả lời:
— “Để có thể tiếp tục như vậy, cha vẫn cần sự giúp đỡ của các con.”

Họ tặng tôi một bức ảnh chụp Esther cùng các đồng nghiệp tại phòng thí nghiệm, trong đó có tôi—cậu Jorge trẻ tuổi, mặc áo blouse trắng, với gương mặt còn non nớt.
Kèm theo đó là bài thơ của Eduardo Galeano: Những người mẹ của Plaza de Mayo, những người đã sinh ra con mình, là dàn đồng ca bi tráng của thảm kịch này…

“Tôi thức dậy và cảm thấy con còn sống,” một người nói, tất cả cùng nói.

“Buổi sáng trôi qua, tôi dần mất hy vọng. Đến trưa con chết. Chiều về, tôi lại tin rằng nó sẽ về, tôi dọn chỗ cho con trên bàn, nhưng rồi con lại chết. Và đêm xuống, tôi thiếp đi trong tuyệt vọng.
Tôi thức dậy và cảm thấy con còn sống…”

Họ gọi họ là “những người đàn bà điên.” Người ta thường không nhắc tới họ.
Giờ đây, khi mọi thứ đã “trở lại bình thường,” đồng đô la thì rẻ, và con người cũng vậy.
Những nhà thơ điên thì chết, còn những nhà thơ “bình thường” thì hôn lưỡi gươm và ca tụng, im lặng.

Trong sự “bình thường” hoàn toàn ấy, bộ trưởng tài chính săn sư tử và hươu cao cổ ở rừng châu Phi, còn các tướng lĩnh thì săn công nhân ở vùng ngoại ô Buenos Aires.

Các đạo luật ngôn ngữ mới buộc người ta phải gọi chế độ độc tài quân sự là “Quá trình Tái tổ chức Quốc gia” (Process of National Reorganization).

Một người con gái thứ ba vẫn sống ở Thụy Điển: cô mang tên của mẹ mình.

Về sau, người ta còn phát hiện thêm một sự thật khác về chiến dịch mà qua đó Esther bị bắt vào đầu tháng 12 năm 1977. Có một kẻ chỉ điểm đã trà trộn và giành được lòng tin của các gia đình và các nhà hoạt động tập trung tại nhà thờ Santa Cruz. Hắn tự xưng là Gustavo Niño, biệt danh là “thiên thần tóc vàng” vì mái tóc sáng và đôi mắt xanh.
Người ta kể rằng hắn thường bịa chuyện về một người anh em của mình cũng bị cuốn vào những cuộc chiến đẫm máu nào đó của quân đội. Thỉnh thoảng hắn còn la cà trò chuyện với các nữ tu ngoài nhà thờ. Một nụ hôn nhẹ lên má là tín hiệu bí mật để đánh dấu những người sẽ bị bắt. Tên thật của kẻ tự xưng là Gustavo Niño chính là Alfredo Astiz, một sĩ quan của Hải quân Argentina. Trong vòng hai ngày, cùng với Esther, toàn bộ nhóm “Santa Cruz” đã bị bắt. Trong số đó có Azucena Villaflor và María Ponce, hai người đồng sáng lập Madres de Plaza de Mayo, và hai nữ tu người Pháp thuộc Hội Truyền giáo Notre Dame de La Motte: Alice Domon, còn được gọi là Sœur Caty, và Léonie Duquet.

Họ được dòng của mình gửi đến để phục vụ người nghèo ở các khu ổ chuột (villas miserias) tại Buenos Aires. Một người cháu gái của sơ Léonie, sơ Geneviève Jeanningros thuộc dòng Tiểu Muội Chúa Giêsu, vẫn còn sống. Bà đã sống hơn năm mươi năm trong một chiếc caravan nhỏ ở khu Luna Park tại Rome.
Tôi đã hai lần đến thăm bà khi làm giáo hoàng: Một chiếc bếp nhỏ, rất nhiều sách vở, giấy tờ vương vãi, một tấm nệm mỏng trải trên sàn… Một chứng tá Tin Mừng sống động giữa những người làm xiếc và công nhân hội chợ.

Nhóm khi đó đang chuẩn bị một bản kiến nghị với danh sách các tên tuổi của những người bị mất tích (desaparecidos), yêu cầu chính phủ công khai nơi họ đang bị giam giữ.
Bản kiến nghị được đăng trên nhật báo La Nación vào ngày 10 tháng 12 năm 1977—cùng ngày mà hai nữ tu biến mất. Trong số những người ký tên có cả kẻ mạo danh Gustavo Niño. Hắn bị kết án tù chung thân ba mươi tư năm sau đó.

Tôi đã cố gắng bằng mọi cách để tìm kiếm thông tin.
Và còn nhiều lần khác nữa, ngay khi mức độ nghiêm trọng của những gì đang xảy ra bắt đầu lộ rõ: Về Esther, về hai nữ tu người Pháp, cũng như một cậu trai trẻ mà tôi quen biết rất rõ, người cũng bị bắt cùng thời điểm đó, vì lời tố cáo của chính kẻ giả mạo Gustavo Niño. Tên cậu ấy là Remo Carlos Berardo: Một họa sĩ, một người lý tưởng hóa, một chàng trai tuyệt vời. Cậu lớn lên ở khu La Boca, nơi ai cũng biết đến cậu. Cậu có năm anh chị em.
Một người trong số đó, Amado, em út, nhân viên ngân hàng, đã biến mất năm tháng trước đó:
Anh ấy từng cộng tác với cha Carlos Mugica, vị linh mục tử đạo bị ám sát bằng năm phát súng ngày 11 tháng 5 năm 1974 trước nhà thờ San Francisco Solano ở villa 31, ngay sau khi dâng lễ xong.

Remo đã bắt đầu lui tới nhóm Santa Cruz cũng trong hy vọng tìm được tin tức về người em trai mất tích. Nhưng họ đã biến mất hết. Nhiều nhân chứng sau này kể lại rằng Esther, cùng với những người mẹ khác và hai nữ tu Pháp, đã phải chịu mười ngày tra tấn tàn bạo tại khu vực có biệt danh Capucha trong ESMA (Escuela de Mecánica de la Armada), trung tâm giam giữ man rợ nằm ngay giữa trung tâm Buenos Aires.

Vào ngày 17 hoặc 18 tháng 12, những người phụ nữ bị tiêm thuốc an thần, chất lên một máy bay hải quân, và bị ném xuống biển khi còn sống, ngoài khơi Santa Teresita, cách thủ đô khoảng 200 km. Đó là một trong vô số những chuyến bay tử thần—một tội ác thường xuyên của chế độ độc tài. Họ đã chết ngay lập tức khi va chạm với mặt nước.

Chúng tôi đã tìm kiếm họ khắp nơi, gõ cửa mọi nhà, tràn đầy giận dữ, đau đớn, tuyệt vọng và một nỗi bất lực khôn cùng. Đối mặt với những lời dối trá và sự che giấu. Với hai linh mục Dòng Tên là cha Orlando Yorio và cha Franz Jalics—cả hai đều bị bắt và giam giữ gần năm tháng—tôi đã cố gắng làm mọi cách.
Kể cả việc dâng lễ cho Videla.

Sau lần gặp mặt chính thức đầu tiên đầy mơ hồ, trong đó Videla chỉ ghi chép và hứa hẹn rằng ông ta sẽ “điều tra,” tôi hiểu rằng cần phải thử các con đường khác. Bất kỳ con đường nào.
Tôi tìm hiểu xem ai sẽ dâng lễ tại dinh Tổng tư lệnh khi gia đình Videla tụ họp đông đủ.
Tôi bảo vị linh mục chịu trách nhiệm: “Cha giả ốm đi,” và tôi thay thế.

Sau Thánh lễ, tôi lại trực tiếp đến gặp Videla và yêu cầu ông ta phải hành động.

Và khi nghe tin đồn ở khu Flores rằng hai linh mục đã bị một toán lính hải quân bắt cóc, tôi đến gặp đô đốc Emilio Massera hai lần, yêu cầu ông ta điều tra và giải quyết.
Họ kéo dài thời gian, phủ nhận mọi thứ, chơi trò vòng vo.
Cuối cùng, tôi nổi giận, đứng dậy ra về và nói: “Tôi muốn họ trở về, còn sống!” May mắn thay, cuối cùng họ đã trở lại.

Nhưng sẽ còn hàng ngàn vụ giết người, tra tấn, mất tích.
Người viết Thánh vịnh đã hỏi: “Chúng chẳng hay sao, những kẻ làm điều ác, nuốt dân Ta như nuốt miếng bánh?” (Thánh vịnh 14:4). Chỉ cần một sơ suất nhỏ là có thể gặp chung số phận, vì chế độ ấy có tay sai ở khắp nơi.

Đó là những năm tháng khủng khiếp và, với tôi, cũng là những năm chịu áp lực tinh thần kinh khủng:Lén đưa người qua các trạm kiểm soát ở vùng Campo de Mayo, những con người mà tính mạng đang bị đe dọa. Hay sắp xếp để cứu một chàng trai trẻ được một linh mục Uruguay giao phó cho tôi vì anh ta đang bị truy đuổi ở quê nhà.

Anh ta đến Buenos Aires bằng máy bay với giấy tờ giả, và tôi đích thân lái xe đi đón.
Tôi cho anh ta nằm khuất phía sau xe, trùm kín bằng một tấm chăn dày, và lái xe qua ba trạm kiểm tra khác nhau để đưa về Colegio Máximo ở San Miguel. Khi tới nơi, tôi tháo nhẫn cưới của anh ta (vì anh ta đã có gia đình), và giới thiệu anh ta như một người đang tham gia tĩnh tâm để phân định ơn gọi linh mục—nhằm tránh liên lụy người khác.

Anh ta ở lại một tuần, trong khi tôi sắp xếp cho anh trốn sang Brazil. Một buổi sáng sớm, tôi cho anh ta mặc áo chùng linh mục, cấp cho anh ta giấy tờ tùy thân mang tên tôi (vì chúng tôi có nét giống nhau), rồi chở anh ta đến sân bay Jorge Newbery, nơi có chuyến bay tới Foz do Iguaçu, thành phố biên giới Brazil.

Cả hai chúng tôi đều hiểu rằng nếu bị phát hiện, anh ta sẽ bị giết ngay, và sau đó sẽ đến lượt tôi.

Nhưng tạ ơn Chúa, mọi việc diễn ra suôn sẻ. Cậu trai đã trốn thoát, chờ đợi ở Brazil cho đến khi chế độ độc tài sụp đổ, và cuối cùng được trở về quê hương. Anh ấy vẫn còn sống và đã từng viết thư cho tôi khi tôi ở Vatican…

Những tình huống như thế, xúc động tột cùng, cũng đầy khủng hoảng.
Suốt gần một năm trời, tôi đã được một nữ bác sĩ tâm thần Do Thái, rất khôn ngoan và tài giỏi, giúp đỡ: Bà cũng chính là người hỗ trợ tôi đọc và phân tích các bài kiểm tra tâm lý cho các chủng sinh. Tôi đến gặp bà mỗi tuần một lần, và những lời khuyên của bà đã luôn hữu ích.
Cho đến hôm nay, tôi vẫn ghi nhớ và áp dụng chúng.

Tuy nhiên, trong những năm đen tối ấy, nhiều bóng đen cũng phủ lên chính Giáo hội—
và đó là lý do, để đảm bảo sự trung thực và đầy đủ,
khi làm giáo hoàng tôi đã chỉ thị mở toàn bộ các tài liệu lưu trữ của Vatican liên quan đến giai đoạn đó: từ Phủ Quốc vụ khanh đến Sứ thần Tòa thánh tại Buenos Aires.

Nhiều linh mục đã bị sát hại trong chế độ độc tài. Cả các giám mục nữa.

Trong số đó có Đức cha Enrique Angelelli, cũng là con trai của những người di dân Ý.
Tôi quen ngài rất rõ vì chúng tôi có các tu sĩ Dòng Tên hoạt động tại giáo phận Andean của La Rioja, nơi ngài làm giám mục. Ngài đã giảng tĩnh tâm cho chúng tôi vào năm 1973, chỉ vài tuần trước khi tôi được bầu làm Giám tỉnh Dòng Tên.
Và tại La Rioja—nơi tôi đến cùng Bề trên Tổng quyền—chúng tôi chứng kiến một Giáo hội bị bách hại, nhà thờ bị đập phá, nhưng đoàn chiên và mục tử thì vẫn kiên vững.

Lần đó, ngài nhắn nhủ một lời khuyên mà tôi vẫn gìn giữ đến tận hôm nay như một kho báu:
“Một tai lắng nghe Lời Chúa, và một tai lắng nghe dân chúng.”

Ba năm sau, ngài gửi cho tôi ba chủng sinh để học ở San Miguel vì tính mạng họ đang bị đe dọa, và tôi đã cưu mang họ, gắn bó với họ mãi về sau: Một người giờ là giám mục phụ tá ở Santiago del Estero, Hai người kia là linh mục chánh xứ. Nhiều người trẻ khác cũng theo sau trong hai năm kế tiếp, mỗi lần lại ngụy trang dưới danh nghĩa tham gia tĩnh tâm hay học tập. Angelelli là một mục tử vĩ đại: Một con người của Thiên Chúa, Của cầu nguyện, Của tự do đích thực, Và của lòng yêu thương.

Sức mạnh của Công đồng Vatican II đã đem đến cho giáo phận của ngài một luồng gió mới, đầy can đảm. Ngài không ngần ngại tố cáo: nạn cho vay nặng lãi, ma túy, cờ bạc, mọi hình thức bóc lột của kẻ quyền thế và chủ đất. Ngài từng nói:
“Tôi không thể giảng về sự cam chịu. Thiên Chúa không muốn con người sống trong cam chịu.” Ngài nhiều lần bị đe dọa, ngay cả trước khi bị sát hại, nhưng ngài không im lặng: “Tôi sợ, dĩ nhiên. Nhưng Tin Mừng không thể bị giấu dưới gầm giường,” ngài thổ lộ với gia đình.

Ngày 4 tháng 8 năm 1976, khi trở về từ El Chamical sau Thánh lễ tưởng niệm hai linh mục và một giáo dân cộng tác thân tín đã bị ám sát, Chiếc Fiat 125 của Angelelli bị đâm liên tục và lật nhào. Cha Arturo Pinto, người đi cùng ngài, may mắn sống sót vì bị tưởng nhầm là đã chết.

Tất cả chúng tôi đều hiểu điều gì đã xảy ra, dù cảnh sát và tòa án nhanh chóng khép vụ việc như một tai nạn giao thông thông thường.

Phải mất ba mươi tám năm sau, hai sĩ quan cấp cao trong quân đội, những kẻ đã bắn phát đạn kết liễu ngài, mới bị kết án tù chung thân.

Mỗi câu chuyện đều che giấu một bi kịch. Mỗi bi kịch lại kể một câu chuyện. Đôi khi có cái kết có hậu.

Giống như câu chuyện của người bạn thân yêu của tôi, Sergio Gobilin, một người Ý đến Buenos Aires khi còn nhỏ, mới bốn tuổi, ban đầu là một chủng sinh, sau đó kết hôn. Sau khi hoàn tất việc học, anh chọn chuyển tới sống ở khu ổ chuột Mitre, tại San Miguel, để giúp đỡ người nghèo, không xa trường Dòng Tên nơi giáo dân cũng có thể theo học. Tôi đã đến thăm anh trong ngôi nhà với nền đất nện của anh. Và vào năm 1975, khi anh quyết định cưới Ana, một giáo viên mà anh gặp tại khu vực đó, tôi đã cử hành thánh lễ cưới cho họ. Năm sau, quân đội đến và bắt anh đi. Ana may mắn thoát được vì lúc đó cô đang ở ngoài nhà với đứa con gái mới vài tháng tuổi. Họ bắt Sergio khi anh đang tự tay xây dựng hệ thống dẫn nước, với sự giúp sức của cư dân khu ổ chuột.

Người ta nói rằng anh bị giam giữ tại một khu vực thuộc quyền kiểm soát của không quân. Tôi đã tìm đến gặp chỉ huy căn cứ không quân: ông ta có vẻ lúng túng, tìm cách trì hoãn. Cuối cùng tôi nói: “Máu của người đàn ông đó sẽ đưa ông xuống địa ngục.” Tôi còn miêu tả cho ông ta địa ngục trông như thế nào. Thật ra, ông ấy là một người tốt bụng trong sâu thẳm, một “con quỷ tốt”. Hai ngày sau, tôi được thông báo rằng bạn tôi vô tội và sẽ được thả vào buổi tối hôm đó. Nhưng rồi lại nảy sinh một vấn đề khác: Sergio trong thời gian giam giữ không bị bịt mắt và đã thấy tất cả mọi chuyện. Những kẻ khác nói rằng anh phải bị giết. Đó là những ngày tháng đầy đau đớn và tuyệt vọng. Cuối cùng anh cũng được thả. Anh bị bỏ lại trên một con đường, bị bịt mắt, cách nhà chưa đầy một dặm. Anh ở trong tình trạng thảm hại, bị đánh đập đẫm máu, thân thể đầy thương tích, cả thể xác lẫn tinh thần. Anh kể với tôi rằng họ đã tra tấn anh suốt mười tám ngày. Tôi đã thông báo cho vợ anh, và tìm cách xin phép để Sergio được điều trị tại Bệnh viện Ý, cùng với vợ và con gái nhỏ của họ. Tôi lập tức gọi điện cho lãnh sự quán để xin cho anh được tị nạn chính trị. Họ buộc phải rời đi, dù không muốn, để tránh số phận như những người desaparecidos khác. Họ được đưa bằng tàu thủy sang Ý không lâu sau đó.

Giờ đây Sergio sống ở Pordenone với vợ, và chúng tôi vẫn giữ liên lạc. Một lần anh gọi điện cho tôi và nói rằng sau khi tôi được bầu làm giáo hoàng, anh không biết nên xưng hô với tôi thế nào. “Anh cứ kiểm tra giấy khai sinh của tôi,” tôi đáp. “Tên vẫn như cũ thôi!”

Vào tháng 7 năm 2005, một nhóm bác sĩ công bố rằng họ đã xác định được hài cốt của năm phụ nữ thuộc nhóm bị bắt giữ từ ngày 8 đến 10 tháng 12 năm 1977, được chôn vội vã mà không có danh tính, ngoài những ký tự NN—nomen nescio, “không biết tên”. Họ là Azucena Villaflor, María Ponce de Bianco, Ángela Auad, sơ Léonie Duquet và Esther Ballestrino de Careaga, một người phụ nữ tuyệt vời và cũng là người bạn vĩ đại của tôi. Biển cả đã trả lại hài cốt của họ. Lúc đó tôi đang là hồng y, và tôi đã thu xếp để họ được an táng trong nhà thờ Santa Cruz, nơi họ từng tụ họp.

Esther cùng ba người con gái: một người bạn vĩ đại, can đảm

Với một người mẹ đã chịu đựng những gì các bà mẹ ở Plaza de Mayo đã chịu đựng, tôi sẽ cho phép bất cứ điều gì. Họ có thể nói bất cứ điều gì. Bởi nỗi đau của một người mẹ ấy là không thể tưởng tượng nổi. “Ít ra tôi muốn thấy thi thể con mình, thấy bộ xương của nó, biết nó được chôn ở đâu, họ đã ném nó ở đâu…” Nỗi tuyệt vọng của một người mẹ Plaza de Mayo thật khủng khiếp, nó là một ký ức vật chất, bằng xương bằng thịt. Người ta đôi khi hỏi: “Nhưng lúc đó Giáo hội ở đâu?” Tôi lặng im và ở bên họ. Chúng ta phải đồng hành và tôn trọng nỗi đau ấy, chúng ta phải nắm tay họ. Và cả nỗi đau của con cái họ nữa.

Ana María Careaga, con gái của một chiến sĩ vĩ đại, người đã chiến đấu bên cạnh biết bao phụ nữ đã mất con cái hoặc đã mở lòng mọi người trước thảm kịch của các bà mẹ khác, ngày nay là giám đốc Viện Nghiên cứu Nhân quyền tại Universidad Atlántida Argentina và đứng đầu cuộc điều tra về những người desaparecidos ở departamento de La Costa. Anita, đứa bé mà cô mang thai khi bị bắt, đã đến thăm tôi tại Vatican vào tháng 8 năm 2024. Cô ấy giờ đã là một người phụ nữ: “Đừng từ bỏ,” tôi nói. “Hãy giữ lấy ký ức, hãy nhớ những gì mình đã nhận được, không chỉ là những ý tưởng mà còn cả chứng nhân sống động.” Giống như mẹ cô, như bà ngoại cô—chân dung bà vẫn treo trong phòng làm việc nhỏ của tôi ở Santa Marta—và như những Bà mẹ Plaza de Mayo khác đã dẫn đường, cô tiếp tục chiến đấu cho công lý. Tôi tin chắc rằng, vượt lên trên sự công nhận của nhân loại, Thiên Chúa ôm họ vào lòng cách đặc biệt, tất cả bọn họ, vì họ là những chiến binh. Tôi cầu nguyện cho họ. Tôi cầu nguyện cho tất cả những con người thiện chí, những người dấn thân và chiến đấu để thực hiện một dự án về công lý và tình huynh đệ.

Ngày 8 tháng 6 năm 2018, tôi đã ký sắc lệnh phong chân phước cho Đức cha Angelelli, cha Carlos de Dios Murias (một chàng trai trẻ đầy nhiệt huyết và tràn đầy sức sống, thuộc dòng Phanxicô Viện Tu), cha Gabriel Longueville người Pháp và Wenceslao Pedernera, một giáo lý viên và là người tổ chức Phong trào Nông thôn Công giáo. Ông bị tấn công tại nhà mình, ngay trước mặt vợ và các con gái, bởi bốn người đàn ông trùm đầu đột nhập vào. Ông bị bắn hai mươi phát đạn và qua đời tại bệnh viện sau khi tha thứ cho những kẻ giết mình. Bị bách hại vì công lý và đức ái Tin Mừng, cả bốn vị tử đạo của El Chamical đã bị giết bởi chế độ độc tài thù ghét đức tin, và tất cả sẽ được tôn phong lên bàn thờ vào tháng Tư năm sau. Những kẻ tưởng mình chiến thắng bằng máu của họ cuối cùng lại chứng kiến thất bại của chính mình.

Thi thể của Alice Domon, sơ Caty, vẫn chưa bao giờ được tìm thấy.

Cô đã ba mươi tuổi khi lên đường đến Argentina để chăm sóc và dạy giáo lý cho các trẻ em khuyết tật. Cô và sơ Léonie từng được giới thiệu với Videla trước khi ông ta được thăng chức tướng. Ông ta cần sự giúp đỡ cho con trai mình là Alejandro, một đứa trẻ bị động kinh và thiểu năng trí tuệ nặng, mà hai sơ đã chăm sóc tại Nhà Tình Thương ở Morón.

Cô đã không bao giờ được tìm thấy.

Bài Mới Nhất
Search