Khải Triều: Nén Hương Lòng Cho Trần Ngọc Tự, Người Anh Em Vừa Rời Khỏi Chỗ “Ngụ Cư”!

Tôi viết cho Tự những lời này, khi thân xác anh còn ở tại thế để cho thân nhân, như vợ con anh, như bằng hữu và những người yêu mến anh đến bên anh để cầu nguyện, chia buồn với những người trong gia đình của anh, trong lúc họ đang trống vắng, phiền muộn vì người thân yêu vừa rời khỏi họ, nơi căn nhà của chốn “ngụ cư” như Trần Ngọc Tự nói thế trong một bài thơ. Anh nhận mình là một “gã ngụ cư” trên đất nước Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.

Theo tín lý Kytô giáo, tôi tin vào mầu nhiệm của sự chết. Cái chết của con người không dừng lại ở sự “chấm hết” như cách nghĩ thông thường của người đời, nghĩa là “chết là hết”. Nghĩ như thế thì chỉ nghĩ về một mảng sống, đã quên lời “sống gửi thác về”. Về đâu? Không phải về với hư vô như các văn nghệ sĩ hay nói về mình như thế, một tâm niệm giả định thôi. Người ta thường nói “vong linh” của người chết. Cái “vong” của con người linh thiêng lắm.

Trần Ngọc Tự “ra đi” là điều tôi không ngờ. Bởi trong bữa tiệc chia tay với bạn hữu trước khi gia đình anh sang sống tại Hoa Kỳ, tháng 12/2006. Bàn tiệc hôm đó là một cái bàn dài, các bạn ngồi hai bên, có khoảng hơn 10 người. Ngọc Tự xếp tôi ngồi ở đầu bàn, đối diện với vợ chồng anh, chị Tuyết Nga, vợ anh. Một người bạn nào đó lên tiếng yêu cầu tôi nói vài lời chia tay với anh Tự. Các bạn khác đổ dồn mắt về phía tôi, vợ chồng Tự cũng đưa mắt nhìn tôi. Bị đẩy vào tình huống này như chưa bao giờ xảy ra cho tôi, đành phải đáp lễ với bạn hữu. Tôi nhìn vợ chồng anh chị Tự, rồi nhìn các bạn. Tôi chỉ nói được vài lời cách riêng giữa Tự và tôi thôi. Tôi nói: “Có lúc tôi đã nghĩ, khi nào tôi chết, tôi muốn có anh Tự ở bên tôi”. Lời này khiến anh Tự ngạc nhiên, anh nói, vì tôi nói thế, nên anh phải nghĩ cách nào đó…Rồi anh có dáng suy nghĩ.

Bây giờ thì Ngọc Tự đã “đi” trước tôi, anh ở tuổi 77, còn tôi 89. Ở cái tuổi như tôi, có nhiều điều, nhiều việc đã quên, nhưng lạ cho con người, có nhiều cái quên thì cũng còn đó những điều những việc còn nhớ. Vậy tôi nhớ những gì trong giao hảo thân tình với Ngọc Tự?

Lần theo thời gian, tôi gặp Trần Ngọc Tự 1,2 lần trước ngày tôi vào lính KQ/BTL/Khối CTCT đầu tháng 2/1967. Sau đó Trần Ngọc Tự được điều về ngay tại đơn vị tôi. Trong suốt thời gian hai chúng tôi cùng ở một đơn vị là Khối CTCT/BTLKQ, tôi vẫn giữ lễ với anh như mọi sĩ quan khác, vì tôi là lính. Tôi nhớ lời của nhà văn NĐT (xin miễn ghi cả tên) nói với tôi ngay trước mặt sĩ quan trưởng phòng. Ông đang ngồi đó, còn tôi ngồi ở cái bàn bên trái ông. NĐT đến trước trước mặt tôi nói: “Ông cứ ngồi đây suốt ngày, vô tình tố cáo tụi này “lặn”. Ông ám chỉ đến mấy người khác là văn nghệ sĩ cùng phòng. Tôi là lính bình thường, nên làm việc theo lệnh của chỉ huy trực tiếp trong thời kỳ chiến tranh. Nói điều này ở đây, tôi chỉ muốn xác định điều tôi giữ “lễ” với sĩ quan trẻ Trần Ngọc Tự, không có gì là khó hiểu. Có lẽ tôi vẫn thế cho tới bây giờ, như Ngọc Tự nhận xét sau lần anh từ Mỹ về, có đến thăm tôi.

Có một câu nói: Tình người quân tử nhạt như nước ốc.

Thời gian qua đi gần 10 năm sau, có lúc tôi là lính, thuộc quân số trong ban văn nghệ do một sĩ quan là Trần Ngọc Tự làm trưởng ban. Anh được trao cho tờ Lý Tưởng. Anh bảo tôi viết bài cho số Mùa Xuân. Sài Gòn thuở ấy, mùa Xuân nào, các Nhật báo cũng đều có số Tất Niên. Còn Tuần báo và các Tạp chí thì ra số đặc biệt. Tờ Nguyệt san Lý Tưởng cũng có ra số đặc biệt.

Thường thì người ta viết về con vật biểu tượng của năm mới, hay viết về những gì đã qua trong năm cũ và những gì của những ngày sắp đến v.v… Riêng tôi, không hiểu sao, tôi lại cứ nghĩ đến một đề tài mà mình viết trong dịp cuối năm. Đó là “Năm cùng tháng tận”, không nghĩ gì đến những việc khác nữa. Nhà thơ Kiêm Thêm, họ Trần, người Huế, sinh năm 1940, sống tại Hoa Kỳ, cùng khóa thi BTV, hạ sĩ quan đồng hóa, do BTL/KQ tổ chức vào khoảng năm 1966, (đầu năm 1967, tháng 2, chúng tôi nhập ngũ), và cùng đơn vị. Có lần nói với tôi, vẻ ngạc nhiên: “Tại sao ông cứ thích viết về cái đề tài này nhỉ?”. Tôi không nhớ đề tài này viết vào năm nào trên tờ báo Lý Tưởng Xuân, nhưng cái năm xảy ra biến cố lịch sử đưa đến ngày ngậm ngùi, uất hận 30 tháng 4 năm 1975, thì một sự kiện xảy ra tại Khối CTCT/BTL/KQ trong dịp chúng tôi chuẩn bị Tết. Đó là việc một Thiếu tá, dạy võ tại Võ đường Thần Phong, Tân Sơn Nhất, dựng cây nêu trước Văn phòng Khối. Vừa dựng lên thì cây nêu đổ, gẫy ở phần cuối. Ngay lúc đó, anh em trong đơn vị đã xì xào với nhau là điềm chẳng lành đây.

Trước ngày 30-04-1975, anh Tự nhờ tôi làm bõ “đỡ đầu” cho trưởng nam, theo Kitô giáo, trong nghi thức Rửa tội. Ngày đó anh ở bên nhà vợ, gần nhà thờ Hàng Xanh. Còn sau ngày 30-04-1975, từ trong nhà tù, anh nhắn về nhà, nhờ tôi “đỡ đầu” cho trưởng nam trong nghi thức “Bí tích Thêm Sức”, nhận ơn Thánh Linh. Cả hai Bí tích này, đối với người tín hữu Kitô giáo là một việc thiêng liêng, cao cả. Người “bõ” đỡ đầu cũng phải là một tín hữu, đạo đức, gương mẫu trong việc sống đạo. Kể lại việc này, tôi chỉ muốn nói rằng Trần Ngọc Tự lo lắng cho con trai của mình về mặt tinh thần và đã tín nhiệm tôi trong vai trò làm “bõ” cho cậu ấy.

Trước ngày gia đình anh sang Mỹ, chị Tuyết Nga, vợ anh dẫn con trai tới nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế, trên đường Kỳ Đồng, Sài Gòn dự thánh lễ lúc 10 giờ sáng Chúa Nhật. Bình thường tôi cũng đi lễ tại nhà thờ này những chiều thứ bảy và sáng Chúa nhật, hôm đó tôi cũng đi lễ ở đây. Gặp chị tại nhà sách, chị chỉ vào Tuấn, con trai, nói với tôi: Nó đấy, anh muốn nói gì với nó thì cứ nói.

Còn sau ngày 30-04-1975, buổi chiều trước khi anh Ngọc Tự đi tập trung cải tạo, tôi lên Hàng Xanh gặp anh để chia tay, hai chúng tôi ra quán đầu ngõ uống cà phê thật lâu. Giờ tôi không còn nhớ những gì chúng tôi đã tâm sự với nhau buổi chiều hôm ấy.

Về vụ án văn nghệ, “liên lạc và gửi bài cho Văn Bút hải ngoại” (theo bản tiểu sử của Trần Ngọc Tự trên trang T. Van & BanHuu.)

Trần Ngọc Tự cũng nói cho tôi hay vụ này. Anh còn nói tôi đưa cho anh bản thảo cuốn sách tôi đã viết xong vào tháng 3 năm 1983, là cuốn “Công Giáo Miền Nam Việt Nam Sau 30-04-75”, anh sẽ chuyển sang Pháp cho Trần Tam Tiệp Trung tá An ninh KQ, như anh đang làm, qua cô Nhạn, nhân viên trẻ ở Bưu điện Sài Gòn do ông Tiệp giới thiệu. Mỗi lần chuyển, anh sẽ chép lại ít trang gửi đi, bản thảo của tôi giữ lại. Tôi nghĩ đường dây liên lạc này không an toàn. Tuy nhiên, nể Tự và ông Tiệp, tôi cũng đưa cho Tự một bài thơ. Bây giờ tôi không nhớ tên bài thơ này, viết về điều gì. Cũng không biết, ông Tiệp có đăng nó ở đâu hay không. Bởi vì lúc ấy, tôi đang “bận tâm” về cuốn sách của tôi. Rồi tôi nhận tin Tự bị bắt từ gia đình anh. Trần Ngọc Tự, cô Nhạn và một số nhân vật đáng kính ở Sài Gòn có liên quan đã ra tòa và sau mấy năm trong tù về, Ngọc Tự đến nhà tôi, anh kể khi nhân viên an ninh hỏi cung anh, họ có nhắc đến tôi, một ông già lùn hay đến anh là người thế nào. Anh trả lời họ là tôi thích việc anh làm, nhưng không tham gia.

Đoạn văn này tôi viết buông, không để trong ngoặc kép những lời Tự nói hay nhân viên an ninh hỏi cung Tự, họ có nhắc đến tôi. Nhưng tôi nghĩ rằng quý vị hiểu được những điều này. Tôi chỉ xin thưa: Tất cả đều là sự thật. Cả những gì tôi viết trong bài này về Trần Ngọc Tự với tôi, cũng đều là thật. Trần Ngọc Tự có thể làm chứng về điều này, tuy anh nằm đấy, nhưng vong linh của anh chưa đi xa đâu, bởi anh còn người vợ và những người con, các cháu nội, ngoại, những người thân yêu khác, cả bạn hữu nơi quê nhà và ở xứ sở nơi anh “ngụ cư”, vẫn đang hướng về anh, thương tiếc anh vô cùng.

Còn một vài điều nữa liên quan đến hai chúng tôi, cũng xin được kể lại cho trọn đôi bề thân tình.

Tôi có một người bạn rất thân, nhiều năm cùng ra vào trong căn gác trọ trên đường Nguyễn Thông (nối dài), nay là Trần Văn Đang, quận 3 Sài Gòn, đến bữa cùng nhau ra quán bình dân ăn bát cơm. Trong suốt nhiều năm như thế. Anh nhập ngũ tại Trường Võ bị Thủ Đức giữa mùa binh lửa. Ra đơn vị, anh về SĐ 21 BB. Rồi bom đạn đã cướp anh đi. Anh được đơn vị đưa xác về nhà vợ ở Cần Thơ. Lúc đó, vợ chồng anh mới có cậu con trai đầu lòng. Tôi được báo cho biết. Ngày tôi xuống Cần Thơ để dự vào việc an táng cho bạn, Ngọc Tự đi với tôi, dù chưa găp bạn tôi lần nào, là do anh quý tôi nên quý cả bạn tôi.

Khi vợ tôi sanh con gái đầu lòng, được mấy tuần, mâu thuẫn giữa vợ chồng tôi xảy ra. Vợ tôi bỏ về nhà mẹ, để con gái còn nhỏ như thế cho tôi. Tôi phải vắng mặt tại đơn vị khoảng một tuần lễ. Ngọc Tự biết, anh đã đến với tôi, gặp lúc tôi đang ru con gái ngủ trên võng. Sự có mặt của anh lúc đó, thật là quý.

Về báo chí, tôi không biết anh Tự có tham gia vào việc viết bài cho tờ Tạp chí Quần Chúng (bộ cũ) hay không (1968). Nhưng khi tôi được trao làm tờ này, (1969-tới khi báo bị tịch thu, 1970), anh Tự đã tham gia vào BBT. Cả khi tôi nhận lời cụ Trương Vĩnh Lễ làm tờ Tuần báo Diễn Đàn Chính Đảng, (1971) anh Tự thuộc BBT của báo này, một số bài anh viết cho tờ này, anh ký tên là Trần Ninh Bình, được người khó tính nhất trong BBT của báo, là một Luật sư. Ông ủng bộ Trần Ninh Bình.

Anh Trần Ngọc Tự thân mến,

Anh còn nằm đây, trên mảnh đất “ngụ cư”. Tôi không quên bài thơ này và đã nhắc đến trong một cuốn sách về Những nhà thơ Công giáo Việt Nam hiện nay, năm 2022. Tôi nghĩ rằng anh đã đọc và anh đã tha thứ cho tôi tất cả những vụng về, thiếu sót của tôi trong suốt quãng đời hai chúng ta quen nhau và tôi trở thành “bõ” đỡ đầu cho trưởng nam của vợ chồng anh là Trần Ngọc Tuấn. Vì anh từ trong tù đã chọn tôi làm việc này để anh được an tâm.

Giờ đây, tôi nghĩ rằng anh đã an tâm. Ngọc Tuấn đã ở bên anh chị ít năm nay và anh biết Tuấn đã trưởng thành. Còn tôi, khi anh T. Vấn báo tin cho tôi là anh mất, sáng thứ bảy, thì con gái tôi, cháu Phúc Thảo đã xin một thánh lễ cầu nguyện cho anh ngay. Thiên Chúa là Cha nhân từ, Ngài sẽ nhậm lời cầu của tất cả những người thân yêu của anh.

Vĩnh Biệt Trần Ngọc Tự

Khải Triều

(Viết vào ngày 12-6-2025, giáp lễ Thánh Antôn Pađôva)

Bài Mới Nhất
Search