Ngọc Tự họ Trần, Trần Ngọc Tự, sinh ngày 06.9.1948 tại Văn Hải, Ninh Bình. Ngoài bút danh Ngọc Tự, trước đây còn ký Ninh Văn, Trần Ninh Bình. Làm thơ, viết văn từ cuối trung học. Trong nhóm chủ biên tập san sinh viên 1966–1968: Ý Thức (Luật Khoa), Đất Đứng (Quốc Gia Hành Chánh). Trong ban biên tập tạp chí Quần Chúng 1967–1970 (bộ cũ & bộ mới), tờ báo do cố Chuẩn tướng Lưu Kim Cương bảo trợ sáng lập, chủ nhiệm Cao Thế Dung. Viết cho Tuần báo Diễn Đàn Chính Đảng 1971, Chủ nhiệm Trương Vĩnh Lễ, Chủ bút Nhị Lang.
Nhập ngũ tháng 3/1969, ngành Chiến tranh Chính trị Không Quân. Viết cho các nội san của Quân chủng Không Quân: Lý Tưởng, Tập san Chính Huấn, Tập san Quân Huấn (Bộ Tư Lệnh Không Quân), Cánh Thép (Sư đoàn 5 KQ). Thư ký Tòa soạn sau cùng của tờ Lý Tưởng (1974 – 4/1975).
Các tác phẩm thơ ấn hành trước năm 1975 dưới hình thức ronéotype, phổ biến trong bạn hữu: Quê hương tôi và em (1968), Điệp khúc đời (1969), Những mảnh tình rời (1970), Ở cuộc tình này (1971). Sau ngày 30/4/1975, đi tù hai lần: tù cải tạo (6.1975 đến tháng 01.1981), án tù 4 năm (5.1984 – 5.1988), vì liên lạc và gửi bài cho Văn Bút Hải Ngoại, trong vụ án với các nhà văn, nhà báo, nhà thơ.
Ngọc Tự định cư tại Hoa Kỳ từ tháng 12/2006, hiện ở thành phố Richmond, Texas. Cộng tác với trang T.Vấn & Bạn Hữu. Có hai tác phẩm do trang mạng này thực hiện ấn bản điện tử: Những dòng chữ từ năm tháng – Thơ (2016), Những đoạn đời qua (tập văn, 2017).
Có bài đăng rải rác trên trang mạng Hội Quán Phi Dũng và các đặc san Lý Tưởng (Úc Châu), Lý Tưởng (Hoa Kỳ).
(T.Vấn ghi)
HAI THỜI KỲ TRONG THƠ NGỌC TỰ
Có thể chia những thi phẩm của Ngọc Tự ra làm hai thời kỳ khá rõ ràng. Thời kỳ thứ nhất là những thi tập được viết khi còn ở trong nước, lúc chiến tranh vẫn đang diễn ra. Cuộc nội chiến kéo dài suốt 20 năm, từ 1955 đến 1975. Nhưng từ năm 1965, khi quân đồng minh có mặt trên chiến trường miền Nam, thì ở phía này đã bắt đầu xuất hiện thơ phản chiến — toàn những cây bút trẻ. Có những nhà thơ phản chiến đã ngả về bưng biền, nhưng cũng có một số khác khoác lên người chiếc áo lính QLVNCH. Đây là thế hệ tuổi trẻ, còn nặng cảm tính. Dẫu vậy, không thể phủ nhận ảnh hưởng của sự tuyên truyền từ phía Hà Nội.
Riêng Ngọc Tự, anh viết về chiến tranh với những đau thương, mất mát. Như thế, cũng có thể nói Ngọc Tự chống chiến tranh, nhưng không “phản chiến”.
Sang đến thời kỳ thứ hai, khi anh và gia đình sang định cư tại Hoa Kỳ, thì thơ của Ngọc Tự bộc lộ những nỗi ưu tư về cuộc đời nơi xứ người. Và anh như tha thiết với quê hương hơn, đau cái đau bị đồng minh bỏ rơi. Anh như thấy mình cô đơn hơn.
Tập thơ Những dòng chữ từ năm tháng gồm có: 7 bài trong tập Những mảnh tình rời (1970), 8 bài trong tập Ở cuộc tình này (1971), và 31 bài thơ viết sau tháng 4/1975.
Thật tình, khi tôi có ý định viết về một số nhà thơ Công giáo Việt Nam hiện nay, thì anh Trần Ngọc Tự là một trong những Kitô hữu có thơ in thành sách, tôi đã đọc và có thể sẽ nói với anh vài lời. Tuy nhiên, trong các tập thơ anh viết trước năm 1975, tôi không thấy có bài thơ đạo nào cả. Hoặc giả như có mà tôi chưa được đọc chăng?
Thế nhưng, khi Ngọc Tự sang sống ở Mỹ và nạn dịch Coronavirus xảy ra từ cuối năm 2019, thì anh đã viết một bài thơ đượm chất đạo Kitô – Giêsu. Đó là bài:
LỜI NGUYỆN CẦU ĂN NĂN SÁM HỐI
(chút suy ngẫm riêng tư nhỏ nhoi)
những tháng năm xưa quê hương binh đao lửa đạn
bản tin chiến sự và con số thương vong chết chóc nhẩy múa mỗi sớm mai
có phải đã từng là nỗi lo âu sợ hãi
nhắc nhớ thân phận mong manh nhỏ bé kiếp nguời
lúc cúi xuống và ngẩng đầu đối diện đất trời
cho đến khi qua hết thời đoạn cần thiết phải đánh động tâm thức nghĩ suy
và lúc tàn cơn binh lửa
vừa nhặt nhạnh sót lại được đây đó những nụ cười
đã vội quên thôi đâu còn nhận biết về điều bắt buộc
vẫn vang lời nhắc nhớ quen thuộc
(thân phận mong manh nhỏ bé kiếp người)
cũng đã lại dửng dưng với sự vô tình bất chợt
trước những lần các điều chuyện như dấu chỉ lặng thầm nối tiếp xẩy ra
cơn gió thoảng và mây bay qua
nơi mỗi con người và những con người
nơi cả một tôi
giữa thế trần tiếp tục mê mải quanh cuộc sống cuồng quay hối hả
bỗng mùa cơn đại dịch này đây
đã ập đến và tất cả mọi thứ như phải dừng lại thật quá đỗi bất ngờ
không một dự liệu
cũng chẳng còn chỗ cho sự thờ ơ
những mất mát đổ vỡ kinh hoàng tất bật
bao nỗi đe dọa vô hình mỗi ngày thường trực bủa vây rình rập
tưởng chừng tuyệt vọng trong run sợ bế tắc chưa lối thoát nào khả thi
chợt nhớ ra cơ may còn kịp thức tỉnh điều gì
vẫn với lời nhắc nhớ quen thuộc
vẫn đã biết và vẫn thường luôn là quên tuốt
(thân phận mong manh nhỏ bé kiếp người)
Chúa ơi giây phút này đây
xin cho tâm hồn con biết đến thống hối ăn năn
sống lại tâm thức luôn sẵn sàng
trọn vẹn trao dâng và tín thác
trông mong được ơn cứu thoát
để mà có thể cất bước đến thẳng trước cánh cổng thiên đàng
hay là sẽ mãi cô đơn lặng thinh ngay bậc thềm tối tăm hỏa ngục
nơi chỗ nào đang đợi chờ
câu hỏi một lần cuối cùng khẩn thiết
cho sự lựa chọn của mỗi một con người
hãy giật mình tỉnh ngộ để kịp thời sám hối ăn năn
trước khi đã quá muộn màng
nếu vẫn chìm sâu trong cao ngạo mê cuồng thách đố
bây giờ những cái chết đã không còn có đủ các lễ nghi và phần mộ
chừng như câu hỏi cũng đặt ra cho chính tôi
kẻ cũng đầy lòng tội lỗi
giữa mùa cơn đại dịch thống khổ này
tháng 3/2020
(Nguồn: T.Vấn & Bạn Hữu)
Đây là một bài thơ bao gồm ngôn từ, cách suy nghĩ, diễn tả tâm trạng của tác giả — có thể nói là rất Ngọc Tự, trong thơ và trong cả những giao tiếp đời thường. Anh triết lý, và cũng như thể buông bỏ, ngay cả Thiên Đàng hay Hỏa Ngục tăm tối. Để nói về dịch Covid, anh nghĩ đến chiến tranh, đến tâm trạng của con người trong lửa đạn và trong cơn dịch, sự chết bao phủ, không còn chỗ, cũng như không còn các lễ nghi và phần mộ cho người chết. Thật bi đát cho phận người mong manh. Bài thơ cũng nói lên cái tâm lý chung của nhiều Kitô hữu trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, thử thách cận kề bên mình.
Ngọc Tự với chiến tranh
Đại dịch Covid-19 và chiến tranh mà nhà thơ Ngọc Tự đã trải qua — tôi không biết, với anh, cái họa nào lớn hơn, cái họa nào gây khủng khiếp cho con người hơn, để rồi tác động đến tác giả và anh đã bật lên tiếng nói?
Tiếng nói của một tín hữu Kitô?
Hoặc do hoàn cảnh mà tác giả phải chọn lựa đất sống ở xứ người, mà đây lại là yếu tố chính, yếu tố của một tâm thức Việt khi xa nguồn cội?
Có lẽ cả hai.
Sẽ là thiếu sót và không hiểu được nhà thơ Ngọc Tự nếu chúng ta đọc thơ của anh một cách vội vã, như thể “cưỡi ngựa xem hoa”, hay như đi thăm rừng mà chỉ thấy rừng mà không thấy cây, không thấy được sự sống nơi các thân cây non đang muốn bứt luôn cả cái vỏ khô cằn bên ngoài nó.
Bài thơ Lời tự nguyện đầu năm, in ở đầu tập Những mảnh tình rời, tạp chí Quần Chúng xuất bản năm 1970, là một minh chứng. Tác giả xúc cảm quá mãnh liệt trước một hiện thực chiến tranh, lừa lọc, phản bội, điếm đàng. Thế nhưng, nhà thơ Ngọc Tự cũng vẫn còn một hy vọng: một con người mới, một mùa xuân mới, một khu rừng bình yên, và loài chim di trú tìm về.
Bài thơ diễn tả nỗi kinh hoàng của cõi người. Anh sợ hãi nó. Anh muốn chặt đôi tay,
“đôi tay cầm súng đạn nhắm chừng có da thịt người làm bia”; chọc mù đôi mắt:
“ta đã nhìn thấy chiến tranh,
ta đã nhìn thấy khốn khổ,
ta đã nhìn thấy muôn vàn vênh váo đê tiện”;
“hãy đẽo cả sống mũi này cho bằng phẳng
như một lần giật mìn quốc lộ
cái sống mũi thật thô bỉ chưa khi nào phập phồng hớn hở
sao chỉ ngửi toàn nồng nặc hơi người…”
LỜI TỰ NGUYỆN ĐẦU NĂM
bắt đầu thêm một thời gian nữa của thượng đế
bắt đầu thêm già nua cho đời
những điều nhớ – điều quên
ta đã đánh mất tuổi thơ ơi
ta đã đánh mất ta
không còn gì cho hôm nay
những gã điên khùng đã ngạo nghễ lớn tiếng
cất giọng cười tội nghiệp
xin chặt đứt dùm đôi tay này
đôi tay nâng niu tóc huyền thần thoại
đôi tay cầm súng đạn nhắm chừng
có da thịt người làm bia
đêm hay ngày
bây giờ cũng là lừa lọc
xin chọc thủng cho mù lòa dùm đôi mắt
ta đã nhìn thấy chiến tranh
ta đã nhìn thấy khốn khổ
ta đã nhìn thấy muôn vàn vênh váo đê tiện
xin chọc thủng luôn hai tai
không bao giờ còn phải nghe lời ngon ngọt độc dược
không bao giờ bom đạn còn làm giấc ngủ dở chừng
không bao giờ còn nghe khóc lóc thở than
hãy đẽo cả sống mũi này cho bằng phẳng
như một lần giật mìn quốc lộ
cái sống mũi thật thô bỉ chưa khi nào phập phồng hớn hở
sao chỉ ngửi toàn nồng nặc hơi người
xin chặt què dùm đôi chân, chớ nên nghĩ ngợi
sẽ chẳng bao giờ ta cất bước rình mò
mà rất có thể
không chừng đạp nhằm chông
hay một quả lựu đạn nghĩ là lần thắng cuộc
khóa cứng ngắc luôn cho cái mồm
không khi nào còn cổ vũ hoan hô
không khi nào còn cất lời nguyền rủa
không khi nào còn đọc được tuyên ngôn, diễn văn
không khi nào còn uống nhầm mật đắng
không khi nào còn chân thật tỏ tình
giữa muôn phản bội, điếm đàng
xin bửa đôi dùm trí óc ngu muội thật ngọt
sẽ chẳng bao giờ suy nghĩ như một kẻ già nua
thôi, hãy làm khô đặc trái tim
cho thân xác này hóa thành cây cỏ
khu rừng vô cùng bình yên
hoa bắt đầu nở nơi cuối chào
và loài chim di trú cũng lũ lượt bay về
đấy là một mùa xuân
có ai nghe thấy không?
thượng đế có nghe được không?
ngỏ lời chào năm vừa vội vã đi qua.
“CÁI TÔI” TRONG THƠ NGỌC TỰ
Cho dù nhà thơ Ngọc Tự đã đi qua hết cuộc chiến hào hùng, đã vào cửa ngục tù của thân “chiến bại”, và một lần nữa mang thân phận trí thức trẻ cầm bút, anh vẫn hết mực quyến luyến khi biết mình sẽ phải rời xa “xóm nhỏ” thân yêu – nơi bao năm gắn bó, đi về, ngày nắng hay mưa…
MAI TÔI XA XÓM NHỎ
“bỗng sao quạnh vắng cảnh nhà
quanh vuông chiếu cũ trải ra thiếu người”
— Ngọc Tự
mai tôi xa xóm nhỏ
mà bỗng nghe buồn rưng
buổi đi chân chưa bước
sao đã thấy ngập ngừng
mai tôi xa xóm nhỏ
chào căn nhà thân quen
bao tuổi tôi nơi đó
buồn vui và êm đềm
mai tôi xa xóm nhỏ
nhìn bầy cháu trẻ thơ
lòng già thêm trĩu nặng
giọt nước mắt thẫn thờ
mai tôi xa xóm nhỏ
chia tay bạn hữu ơi
bồi hồi xao xuyến quá
những tấm giao một thời
mai tôi xa xóm nhỏ
bỏ quên chuyện sông hồ
thây kệ quanh biển lớn
khuất triền sóng nhấp nhô
mai tôi xa xóm nhỏ
xin nhận chút bình yên
lời ân cần đưa tiễn
đi qua những muộn phiền
mai tôi xa xóm nhỏ
nào phải đâu biệt tùng
khi vẫy tay giã biệt
là nhắc buổi ngộ trùng.
Tháng 10/06
(Ký tên Ngọc Tự và đóng dấu đỏ)
(những ngày của cuộc đi)
Bài Mai tôi xa xóm nhỏ là bản viết tay của tác giả gửi cho tôi ngày 08/11/2006. Cuối bài có chữ ký và dấu đỏ của Ngọc Tự, bên dưới viết một hàng chữ để trong ngoặc đơn: (những ngày của cuộc đi).
Ngoài bài thơ Mai tôi xa xóm nhỏ, nhà thơ Ngọc Tự còn gửi cho tôi mấy bài nữa, cũng viết tay, ký tên và đóng dấu đỏ, cùng dòng chữ trong ngoặc đơn: (những ngày của cuộc đi).
Những bài thơ đó gồm:Tra vấn, Khi rời bến cũ, Khi xa quên hắn gửi, Khúc quân ca mới (cuối bài tác giả ghi rõ: “trại Phong Quang, Bảo Thắng, Lào Cai, 1978”),Ngày bạn đi (viết về nhà thơ Phan Lạc Giang Đông khi ông qua đời tại Mỹ, ngày 09.11.2001)
Bài Mai tôi xa xóm nhỏ là nỗi lòng của nhà thơ Ngọc Tự đối với mái nhà và những người thân yêu còn ở lại. Còn bài Khi rời bến cũ là nỗi bâng khuâng của nhà thơ khi biết mình sẽ tới một bến đậu khác xa lạ — “nơi bến mới có bình yên”. Quả thật là rất xúc động khi anh viết:
chưa đi đã nhớ bến này
xuôi giòng viễn xứ tháng ngày hoài hương
bâng khuâng trước buổi lên đường
mơ ngày cố quận vấn vương tay chèo
(Trích 4 câu cuối bài “Khi rời bến cũ” – Tháng 10/06. Ký tên Ngọc Tự và đóng dấu đỏ)
Thấy chưa đủ để nói lên nỗi bồi hồi, quyến luyến khi biết mình sẽ phải rời xa nơi thân yêu này, nhà thơ – khi còn chưa rời bến cũ – mà đã “bâng khuâng trước buổi lên đường, mơ ngày cố quận vấn vương tay chèo”. Rất đậm đà tình nghĩa với xóm nhỏ và những điều lung linh mà chỉ có nhà thơ mới cảm nhận được trong cuộc đời qua hai thời kỳ lịch sử của dân tộc và của chính mình — những gì có được và những gì đã mất. Trong thời kỳ được viết thành sách này, của một cây bút nhiều trăn trở, nhà thơ Ngọc Tự bó thân trong thân phận “thua cuộc”, và anh gọi đó là: “Khúc quân ca mới.”
(Dẫn theo tập “Những dòng chữ từ năm tháng”, trang 76, ấn bản điện tử của Tủ sách T.Vấn & Bạn Hữu, 2016)
Khúc quân ca mới
(Trại tù cải tạo Vĩnh Quang, Vĩnh Phú, 1980)
thế rồi đất nước bỗng xa khơi
chinh chiến ta đi tiếp một đời
bài hát tự do hồn phơi phới
chẳng chút nao lòng — Tổ quốc ơi
những nông trường từng sớm bình minh
cũng mồ hôi nhòe mắt lung linh
còn chặng cuối này qua cho nốt
đoạn đời hay đoạn đường chiến binh
như bước vào mùa huấn nhục mới
tay cuối dài thay khẩu súng trường
cấp hiệu nào thêm đời trai trẻ
nhơ mãi khôn nguôi những nẻo đường
ta thấy ta trong mắt đồng đội
vẫn còn chăng ánh lửa niềm tin
có chút gì bâng khuâng xao xuyến
đừng vội bối rối — hãy ngẩng nhìn
nụ cười vui giữa đời thương khó
vai áo tù ngỡ sắc chiến bào
hát nhẩm quân hành, mơ vào trận
mộng mãi cho đầy gối chiêm bao
Bốn câu cuối của bài thơ Khúc quân ca mới, đặc biệt câu:
“hát nhẩm quân hành, mơ vào trận”, đã diễn tả một cách thầm lặng mà thấm thía tâm trạng của một chiến binh trẻ, bao năm trời “vai áo tù” mà vẫn còn ngỡ sắc chiến bào. Nhà thơ Ngọc Tự đã thể hiện điều đó không chỉ bằng thi ngữ, mà còn bằng chính sứ mệnh cầm bút của mình.
Những ngày sống trên đất người — mà sao người ta cứ gọi là “đất lạ”, là “lưu vong”, hay “lưu đày”!? Còn người cũ ở lại nhà thì sao lại bị gọi là “lạc lõng”, là “ở bên lề”, v.v… Những câu nói đầy cảm tính, chủ quan, và như chưa thoát được phạm trù sai biệt.
Tuy nhiên, với những cá nhân đã sống, đã chịu đựng, đã lựa chọn, thì cái gọi là “lạ” ấy — của một miền đất mình vừa ký nhận cuộc sống chung thân, hay chiếc chiến bào bạc màu của người cũ ở lại, hoặc chỉ là chiếc áo mong manh của Socrates, người đã nhận chén thuốc độc và thản nhiên uống trước mặt bạn hữu — những hình ảnh đó mới thật sự nói lên chiều sâu nhân tính, phẩm cách và sự hiện hữu đau đớn của lịch sử trong lòng một con người.
Chỉ những cá nhân ấy, những con người của lịch sử ấy, mới hiểu được cái lẽ ấy nó tồn tại và lung linh trong cõi sâu của lòng họ như thế nào.
Cuộc chiến này nó khủng khiếp — đôi lúc nó cần đến đặc sủng của một Thiên Chúa làm người và chịu đóng đinh trên thập giá.
Và trong những ngày ở “đất lạ” ấy, nhà thơ Ngọc Tự vẫn tiếp tục đi tiếp nẻo đường thi ca mà anh đã mở ra khi còn ở nhà — một ngôi nhà đã trở nên thiêng liêng, trìu mến lạ thường, đến nỗi:
“buổi đi chân chưa bước – sao đã thấy ngập ngừng”
Cho nên từ Houston, Texas, anh viết:
KẺ XA QUÊ NHẮN GỬI
Kèm chú thích viết tay: “Gửi các bằng hữu nơi quê nhà – nhất là buổi sớm Chủ nhật.”
Mai bạn về thăm lại quê cũ
Cho ta gửi theo trọn nỗi lòng
Và rồi còn thêm gì nữa nhỉ?
Dường như cũng chỉ những hoài mong
Từ độ xa quê chiều hôm ấy
Trong ta thường khắc khoải khôn nguôi
Bao điều ngổn ngang loay hoay mãi
Lặng thầm theo mỗi buổi mây trôi
Ly rượu vơi đầy sao nhạt thếch
Bao giờ mới cạn sầu tha hương
Để ta rũ sạch bụi viễn khách
Dốc ngược cho khô đáy hồ trường
Đêm nay quê người như lạnh quá
Khẽ ép mẩu gió vào tim hoang
Không nghe chút thương thừa nồng ấm
Ta gọi ta — thảng thốt bàng hoàng
Bạn về thưa dùm lời khất hẹn
Rằng ta vẫn nhớ nợ quê xưa
Canh cánh bên lòng luôn thao thức
Đau đáu mãi thôi — biết sao vừa
Đêm Houston buồn tênh và xám ngắt
Bài thơ này anh đánh máy, có chữ ký và con dấu, kèm theo mấy dòng viết tay:* “Gửi các bằng hữu nơi quê nhà – nhất là buổi sớm Chủ nhật.”
Hai câu cuối trong bài thơ trên, Ngọc Tự dùng hai trạng từ có nghĩa tương đương: canh cánh/đau đáu, để diễn tả tâm trạng của anh trong những ngày trước và sau buổi rời xa bến cũ hoặc xa xóm nhỏ, đó là những bâng khuâng, trăn trở, thao thức, u uẩn mà anh chưa biết mở ra với ai, vẫn còn đó, canh cánh bên lòng, đau đáu khôn nguôi.
Một con người tình cảm như thế, thì không thể là một kẻ coi xứ người là “đất hứa”! Nhà thơ Ngọc Tự đã mô tả tâm sự của mình, nói về cái tôi của mình, day dứt với những tâm tư day dứt, trăn trở với những trăn trở liên lỉ, như không bao giờ ngưng nghỉ, lặng thinh. Vì như thế là đánh mất mình, mà Ngọc Tự thì không bao giờ chấp nhận “đánh mất mình”.
Sau đây là mấy bài thơ của Ngọc Tự trong ý hướng đó:
THOÁNG TRONG CHIỀU LUÂN LẠC
Tháng 04/2007
loanh quanh cơm áo quên người
vai nghiêng bóng lệch rối bời hoàng hôn
thấp thỏm đi qua nỗi buồn
bước chân xiêu vẹo nghe hồn lặng thinh
chợt ra — bỗng thấy thương mình
bao mùa lưu lạc ngỡ hình như thôi
cầm bằng cũng đã pha phôi
quên nhà xa lắc cuối trời mây sương
thẫn thờ ngồi xuống bên đường
vu vơ vẫy gọi đoạn trường bâng khuâng
SỚM MAI TÔI
Tháng 01/2010
bần thần tay nắm nhẹ tay
bỗng như vừa thấy mình gầy hơn xưa
chắc rằng bao buổi nắng mưa
đã dần phai nhạt từng mùa tóc xanh
giờ thì vẫn giữa loanh quanh
còn đâu lưng vốn của cành bạc đời
thật thầm tôi gọi: tôi ơi
chỉ nghe vọng lại một trời quạnh hiu
BÀI CHO TÔI
xòe tay nhẩm đếm dại khôn
chừng như đời đã hoàng hôn bao giờ
loanh quanh giữa cõi ngẩn ngơ
riêng ta một chỗ ngu khờ nơi đâu
chập chùng vẫn đấy biển dâu
sóng xô chưa hết dãi dầu tháng năm
muộn màng còn chút ăn năn
bờ xa cát xóa vết hằn bước chân
cũng đành thương lấy một thân
văn chương nửa chữ, nông dân nửa cày
Trên đây quý bạn đọc đã thấy một Ngọc Tự, nhà thơ viết về cái tôi của riêng mình, vây bủa bởi những day dứt khi rời xa xóm cũ cũng như cái tôi của anh trên đất người. Chúng ta chưa gặp nhà thơ với những “cái tôi” khác trong nhân thế khổ đau này. Tuy nhiên, bài thơ dưới đây, Ngọc Tự đã có một quan điểm rất khác với những cái nhìn của anh mà chúng ta đã từng thấy. Cái “rất khác” ấy là cái tinh thần gắn bó với quê hương, tổ quốc ngàn đời yêu dấu, sau khi anh “ngụ cư” ở trên đất người. Ngọc Tự là thế.
VÀI LỜI THƯA CỦA GÃ NGỤ CƯ
— mùa bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ, Houston 10/2012 —
xin thưa với đất nước Hoa kỳ
cho tôi được bầy tỏ như một lời tạ lỗi
khi bây giờ quanh đây
rộn ràng vào mùa chuyển đổi
trong tôi vẫn một nguội lạnh dửng dưng
không chút tha thiết bận tâm Cộng Hòa hay Dân Chủ
những phát biểu và các điều tuyên ngôn quen thuộc chừng như đã cũ
(ôi những ông chính khách và thân phận nhược tiểu da vàng đất nước tôi)
có điều gì đó sao bỗng phải ngập ngừng
và nỗi quặn thắt rưng rưng
Việt Nam.
xin thưa với đất nưóc Hoa kỳ
cho tôi được bầy tỏ như một lời tạ lỗi
mặc bộ quần áo đẹp và bữa ăn ngon mỗi buổi
tôi hiểu về những ân cần từ tâm và vòng tay độ lượng bao dung
mà cũng không thể nào quên sự bội bạc quay lưng đến lạnh lùng
đã một thời bạn hữu đồng minh
ơi quê hương khổ hạnh
Việt Nam
xin thưa với đất nước Hoa kỳ
cho tôi được bầy tỏ như một lời tạ lỗi
khi long trọng giơ tay ngày tuyên thệ để nhận lấy điều thay đổi
tôi nghe điệu Folksong rộn rã quanh đây
và cũng ứ nghẹn trong tim bài ca vong quốc
tôi đã ở nơi đây qua những năm tháng dài lạnh buốt
chưa bao giờ nuốt trọn nổi mẩu hot dog và bánh pizza
quên sao được vuông sân nhỏ quê nhà
những bữa cơm khó nghèo qua suốt mùa binh đao lửa đạn
Việt Nam
xin thưa với đất nước Hoa kỳ
cho tôi được bầy tỏ như một lời tạ lỗi
gã ngụ cư tôi đã bạc đầu vẫn còn loay hoay mà hỏi
có thật hay không giấc mơ Mỹ và nỗi trằn trọc khôn cùng
tổ quốc là đây hay tổ quốc đã khuất nẻo mịt trùng
mong ngóng mãi một buổi về mỏi mòn vô vọng
cay đắng đến thế sao
chén rượu nhỏ người ly khách
vơi đầy thấp thoáng bóng cố hương
khôn khuây những chiều lặng thầm tưởng nhớ.
Việt Nam
xin thưa với đất nước Hoa kỳ
cho tôi được bầy tỏ như một lời tạ lỗi
cái lỗi lầm mà đâu thể nào sám hối
vậy ra tôi đã là kẻ ngụ cư tệ bạc đến vô cùng
sự tệ bạc chân thật và cần thiết
vì cội rễ này nên có một điều vẫn mãi phải tín trung
Việt Nam
ngọctự
mùa bầu cử. Houston 10/2012
Thực sự, những gì trong thơ Ngọc Tự chúng ta đã đọc –chỉ là những hình ảnh rời tuy đậm nét về những năm tháng nhà thơ đã trải qua: chiến tranh, ngục tù (2 lần), xóm nhỏ quê nhà v.v… Nhưng sẽ là thiếu sót, khi viết về Ngọc Tự mà bỏ qua một điều nó làm cho Ngọc Tự khác với người khác. “Cái khác” ấy, Ngọc Tự đã thể hiện nơi bài Vài lời thưa của gã ngụ cư. . Đó chính là cái “bao quát”. Qua bài thơ này, Ngọc Tự nói cho mình nhưng biết đâu, anh chẳng nói cho nhiều người, cả ở ngoài nước và người “ở lại”.
Khải Triều
(Trích trong tập NHỮNG NHÀ THƠ CÔNG GIÁO VIỆT NAM Tháng 9/2022)

