“m”
Nhiều học giả cho rằng phần lớn các âm tiếng Việt biểu thị một cái gì đó. Như phụ âm “m”, hàm ý nghe rất…êm dịu, thỏai mái, như:
Mịn màng, mềm mại, mượt mà, man mát, mơn mởn..v..v..
(Nguyễn Triệu Việt – tạp chí Tân Văn)
Xạo luận vui về chữ “Tử”
Chết ở nông trại gọi là…Trang Tử.
Người to lớn mà chết gọi là…Khổng Tử.
Không ốm đau mà chết gọi là…Mạnh Tử.
Chết khi mọi việc đã hoàn tất gọi là…Chu Tử.
Chồng leo núi mà chết gọi là…La Sơn Phu Tử.
(Nguồn ĐatViet.com)
Truyện ngắn V
Văn hay chẳng luận đọc dài
Vừa mở đầu bài đã biết văn hay
Câu này là ca dao của các cụ ta xưa như một châm ngôn. Ngày còn trên ghế nhà trường, tôi (Lâm Chương) sợ nhất là môn tập làm văn. Trong đầu không có bao nhiêu chữ nghĩa, nhưng phải nặn óc viết cho ra chữ, càng dài càng tốt. Tưởng sẽ được khen, nào ngờ cô giáo phê một câu độc địa: “nhiều lời ít ý”.
Sau này ngẫm lại thấy đúng. Nhất là đời sống thôi thúc phải chạy đua từng giờ từng phút, không ai có thì giờ ngồi đọc những bài dài lê thê, nhưng nội dung tư tưởng nghèo nàn. Mất thì giờ lắm. Người đọc chỉ muốn biết chuyện gì đã xảy ra. Nói thế không phải tôi hoàn toàn phủ nhận những bài dài đầy tính nghệ thuật, ý nghĩa sâu xa và lôi cuốn người đọc. Một tác giả viết được nhiều quyển sách, số lượng nhiều vẫn không có gì bảo đảm chất lượng cao.
Viết văn trong thời buổi @ giống như sắc thuốc Bắc, ba chén nấu còn tám phân. Chỉ giữ lại phần cốt tủy mà thôi. Ngắt bỏ những chi tiết râu ria rườm rà không cần thiết cho bài viết cô đọng gọn gàng càng đỡ tốn thì giờ người đọc.
(Lâm Chương – Tán gẫu trong quán cà phê)
Trái, phải
Theo người Tầu bên trái thuộc âm, bên phải thuộc dương, nên khi vua ngự triều, công chúa đứng bên trái, hoàng tử đứng bên phải.
Khi văn hóa Tầu du mục xuống phương Nam đã đổi chỗ:
Nam (dương tính) dành chỗ bên trái, để nữ (âm tính) bên phải.
Vì ta có câu “Nam tả nữ hữu”.
(Trần Ngọc Thêm – Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam)
Giai thoại làng văn
Nhớ đó là một buổi trưa rảnh rỗi, tôi ghé vào thăm một diễn đàn bạn. Người bạn đang cắm cúi làm việc. Tôi kéo ghế ngồi hút thuốc lá, thấy ở cạnh mình một cái sọt rác đựng đầy những bản thảo gởi đăng không đăng và liệng bỏ đi. Buồn tay tôi nhặt những tờ bản thảo bị xé bỏ ấy lên coi. Cuối cùng và ở tận đáy cái sọt rác ấy là một bản thảo truyện ngắn. Tôi đọc mấy dòng đầu, giật mình vì lối vào truyện mạnh dạn, mới lạ, khác biệt hẳn với lối vào truyện vòng vo ngập ngừng thường thấy ở những người viết mới. Đọc tiếp mấy trang nữa; tôi hỏi người bạn: “Bỏ đi tất cả đây à?” Người bạn không ngửng đầu lên: “Ừ, đã đọc rồi bỏ không đăng” “Moi lấy đi được không?” “Để làm gì vậy?” người bạn ngạc nhiên hỏi.”Mặc moi” tôi nói, và cất cẩn thận cái truyện ngắn bị vất bỏ ở một diễn đàn bạn vào túi áo, trở về đăng ngay nó và nguyên văn không sửa một cái dấu phẩy trên tờ Sáng Tạo số đang làm. Người bạn tôi, chỉ biết thấy giá trị những tác giả đã thành danh, không thấy được những hạt ngọc lóng lánh lăn ra từ những cõi viết còn vô danh chưa tên tuổi đã liệng đi cái hạt ngọc văn xuôi ấy là truyện ngắn Rượu Chưa Đủ, truyện đầu tay của một người trẻ tuổi mới viết văn bấy giờ là Dương Nghiễm Mậu. Hạt ngọc bị vất bỏ ấy và tôi đã tình cờ lượm được, đúng là một hạt ngọc. Bao năm rồi không đọc lại tôi chẳng thể nhớ hết từng chi tiết của truyện chỉ nhớ cái chàng nào đó với bút hiệu Dương Nghiễm Mậu đã có ở Rượu Chưa Đủ một đoạn văn kết thúc tuyệt hay. Đoạn văn tả người anh đến đón em ở viện mồ côi. Hai anh em cùng mồi côi cha mẹ từ sớm. Hai anh em đi lang thang một ngày trong thành phố, không có một đồng xu nhỏ. Buổi chiều, trước khi đưa em trở về viện, người anh dẫn em vào một công viên, yên lặng lấy đất đắp thành những mô hình sông núi quê hương, thầm nghĩ hai anh em trơ trọi giữa đời, thôi bầy trò chơi đắp hình, sông núi với em, để có được cùng em, dù một cách rất tội nghiệp buồn rầu, một ý niệm về điểm tựa, về nguồn gốc. Thật là chửng chạc và cũng thật là cảm động. Đó là truyện ngắn thứ nhất của Dương Nghiễm Mậu.
(Mai Thảo – Con đường Dương Nghiễm Mậu)
Văn chương
Văn chương – Văn: lời văn. Chương: từng bài.
Những gì diễn tả bằng chữ, thành câu, thành bài ghi lại những sự kiện trong đời hay do trí tưởng tượng mà ra, gọi là văn chương.
Truyện Kiều có câu: “Văn chương nết đất – Thông minh tính trời”.
I và y
Cho là dùng chữ “ i “ sáng tạo hơn, hay hơn và…ngắn gọn hơn chữ “ y “ nên Bộ Giáo Dục Việt Nam ra hẳn một quyết định ngày 5. 4. 84 về việc thay thế chữ y.
Giai thoại làng văn 54-75
Khi nhóm Sáng Tạo có tổ chức một buổi Hội thảo Văn Học bàn về thi ca do Thanh Tâm Tuyền tổ chức. Người khách mời không thể thiếu được trong những buổi thảo luận này là thi sĩ Nguyên Sa..Ông đã không có mặt vì không được mời. Cung Trầm Tưởng tham dự các buổi thảo luận này, cũng xác nhận là không có mặt Nguyên Sa.
Trước đó, Nguyên Sa có ý chê trách gián tiếp những người của nhóm Sáng tạo muốn xoá sạch văn nghệ tiền chiến. Nhiều người hiểu lầm Nguyên Sa thuộc nhóm Sáng Tạo. Đã thế, lúc đầu có thể Nguyên Sa còn bị nhóm Sáng Tạo “tránh né”. Đặc biệt là Thanh Tâm Tuyền. Bởi vì Thanh Tâm Tuyền có vẻ không ưa gi lối thơ lục bát của Nguyên Sa. Sau này Nguyên Sa viết:
“Tôi đã nói là một số các anh em (ám chỉ Sáng Tạo) đã nói không với tiền chiến. Nhưng thật ra tiếng nói ấy, lời phủ nhận đó mơ hồ lắm, chẳng có gì là rõ rệt cả. Chúng ta vẩn nói là ra đi và vẫn nằm yên trong nơi ở mùa đông đó. Văn nghệ những năm 50, 60 đã cất tiếng, mà tôi gọi là ồn ào phủ nhận văn nghệ tiền chiến, nói lên ý muốn làm mới, làm khác tiền chiến. Vì ồn ào cho nên không rõ rệt…”.
Ca dao
Ca dao là thơ, được gạn lọc từ thời này qua thời khác do những thi sĩ khuyết danh. Cách gieo vần hạ chữ tài tình, giầu âm thanh mộc mạc tượng hình, tượng cảnh:
Có rửa thi rửa chân tay
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh
Đúng ra thì còn hai câu nữa là:
Có chết thì chết cá mè ranh
Đừng chết cá trắm, chép mà anh bắt đền
Theo một vị cao niên, uyên bác thì trong hai câu cuối này:
Không phải là cá mình tròn như cá xộp, cá quả, cá trê. Mà toàn những cá mầu trắng. Thân hình như chiếc lá. Rất gợi hình, ví von.
(Nguyễn Phú Long – báo Xây Dựng)
“Hư từ” với…“chớ”
“Hư từ”, theo Hồ Ngọc Đức là những: “Từ không tiêu biểu cho sự vật, hành động hoặc không có đối tượng và chỉ biểu thị những mối
quan hệ giữa các thực từ trong câu.”
Chẳng hạn như từ “chớ” trong phương ngữ miền Nam.
“Chớ”, thoạt tiên, là từ đồng nghĩa với “chứ” theo cách nói của người phương Bắc. Hãy nghe lời thề non hẹn biển của đôi tình nhân trai Bắc gái Nam: “Sao em lại nghĩ thế, anh yêu em lắm chứ. Đứa nào nói dối, trời phạt.” Nếu chàng gốc gác Nam kỳ, thì câu nói sẽ khang khác: “Nói tầm bậy nà, anh thương em lắm chớ. Đứa nào nói láo, trời đánh.” Vậy mà bạn bè của nàng cứ rủ rỉ khuyên ngăn: “Mầy chớ nghe những gì thằng đó nói, mà hãy mở mắt coi kỹ những gì nó làm!”.
Thì ra, “chứ” hay “chớ” từ vị trí khẳng định trong “lắm chứ” hay “lắm chớ” đột nhiên biến thành “chớ” mang nghĩa phủ định, có nghĩa như “đừng”, nhưng “yếu” hơn, gần như “không nên”. Nhưng, khi ai đó nói: “Với anh, chuyện gì tôi cũnglàm, chớ chuyện cho anh mượn tiền, tôi chịu thua.” Thêm lần nữa, “chớ” thay xiêm đổi áo, không khẳng định hay phủ định gì ráo, mà đâm ra lưỡng lự và biến dạng tương tự như “còn”. Nguyên nhân gì xui khiến “chớ” thay lòng đổi dạ chóng vánh như vậy, thú thật, tôi không rõ.
(Ngô Nguyên Dũng – “Ảo từ” hay “biến từ” trong tiếng Việt?)
Chữ nghĩa làng văn
Văn hóa là vô cùng vô tận, là thiên biến vạn hóa theo thời gian; với văn hóa thì không thể áp đặt, không thể đem văn hóa của dân tộc mình để gán ép cho văn hóa của dân tộc khác. Như Tết cổ truyền của chúng ta là vào tháng 3 chứ không phải vào đầu tháng giêng âm lịch theo người Trung Quốc.
Tết với người Trung Quốc có thịt mỡ, câu đối, nhưng Tết của người Việt ngoài thịt mỡ, câu đối còn có thêm dưa hành với bánh chưng, bánh tét.
Ấy là sự phát triển để hình thành nên một nền văn hóa khác.
(Trần Quốc Vượng – Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm)
Cái ngông trong thơ
Ngông là một phong thái có sức quyến rũ lớn trong cuộc sống cũng như trong văn học. Không hiếm người muốn khẳng định cá tính lúc nào cũng tỏ ra ngông.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Trãi là người đầu tiên nhận mình ngông. Cái ngông của Nguyễn Trãi được vào thơ, hóa thành thơ. Người ngông nhất trong làng thơ xưa có lẽ là Tú Xương. Sau Tú Xương, có Tản Ðà. Chưa chắc ngông hơn Tú Xương song rõ ràng là Tản Ðà tự giác về cái ngông của mình hơn Tú Xương.
Thời 30-45, không có ai ngông. Thời kháng chiến cũng như mấy chục năm thi ca xã hội chủ nghĩa Miền Bắc, không có ai ngông. Văn học Miền Nam giai đoạn 54-75 thì có. Có hai người: Bùi Giáng và Nguyễn Ðức Sơn. Cả hai đều tận cùng ngông. Sau năm 1975, trong nền thi ca hải ngoại Cao Tần chỉ ngang tàng chứ chưa ngông nghênh.
Dĩ nhiên, trong thơ, không phải ngông mới hay. Nguyễn Du không ngông. Nguyễn Du rất nhẹ nhàng lau lách nhưng lại làm vàng một cõi đìu hiu mênh mông trong lịch sử…
(Nguyễn Hưng Quốc – Nghĩ về thơ)
Việt khác Tầu thế nào
Người Tầu ở nhà hầm, người Việt nhà sàn.
Tầu đúc đỉnh, Việt Nam làm trống.
Kẻ sĩ Tầu nằm ở các đô thị, Việt phần lớn nằm ở làng quê.
Tâm lý dân tộc:
Tầu tâm lý làm lớn, làm lố, duy ý chí.
Việt chủ tình ưa dung hòa…nửa vời.
(Trần Quốc Vượng – Văn hóa Việt Nam – Tìm tòi và suy ngẫm)
Mục hạ vô nhân
Có người hiểu “mục” là “thú vật”, “mục đồng”. “Hạ” là “thấp hèn”, “hạ cấp”. “Vô nhân” hiểu nghĩa “không phải là người”.
Thực ra “mục” đây là “mắt” như “mục kích”. “Hạ” là “dưới” như “thượng, hạ”. “Mục hạ” là dưới con mắt mình. “Vô nhân” là “không có ai”. Hiểu là tự kiêu vì dưới con mắt mình không có ai hơn mình.
(Duy Lý – báo Tự Do)
Trường hợp Chùa Đàn
Chúng tôi cho rằng, Chùa Ðàn là sự kết hợp (có phần khiên cưỡng) của hai mạch văn khác nhau của Nguyễn Tuân. Một mạch văn mới được khơi lên mà có thể gọi là mạch “Sám hối” hay “Lột xác” (chữ dùng của Nguyễn Tuân). Hồi ấy, tâm lý chung của các nhà văn gọi là lãng mạn là như thế: Cảm thấy cái tôi và nghề văn của mình là một cái gì hết sức tầm thường, nhỏ bé, vô ích, thậm chí tội lỗi trước cuộc khởi nghĩa. Họ tuyên bố từ bỏ quá khứ của mình và quyết “lột xác”.
Làm sao có thể diệt được hết con người cũ một cách chóng vánh, gọn ghẽ như thế được! Cho nên mạch văn thứ hai ra đời từ trước cuộc khởi nghĩa vẫn tồn tại và phát triển trong Chùa Ðàn: Mạch “yêu ngôn”. Xét tương quan giữa hai mạch văn này thì “Sám hối”, “Lột xác” phần mở đầu và kết luận là cái vỏ của tác phẩm, Yêu ngôn mới là cái ruột.
(Nguyễn Đăng Mạnh – Yêu ngôn của Nguyễn Tuân)
Ngộ Không
(Sưu Tập)
