Đặt vấn đề
Trong dòng chảy của thơ Nghệ An nói riêng, thơ Việt đương đại nói chung, những tìm tòi, cách tân về thi pháp đã trở thành một xu hướng nổi bật. Nguyễn Hữu Quyền, với tập thơ Át cơ (2025, Nxb Đại học Vinh), tiếp tục khẳng định những nỗ lực sáng tạo bền bỉ sau bốn tập thơ đã xuất bản trước đó. Át cơ không chỉ kế thừa phong cách nghệ thuật của tác giả mà còn khẳng định khả năng biểu đạt của ngôn ngữ thơ, thông qua một hệ thống biểu tượng, cấu trúc thơ giàu tính siêu thực. Bài viết này vận dụng lý thuyết biểu tượng, ký hiệu học, thi pháp học và tiếp nhận để khảo sát tập thơ Át cơ, nhằm làm rõ dấu ấn siêu thực trong thơ Nguyễn Hữu Quyền, từ đó nhận diện phong cách và những đóng góp của ông đối với sự vận động và phát triển của thơ Nghệ An trong dòng chảy chung của thơ Việt Nam đương đại.
Nội dung
Chủ nghĩa siêu thực, hình thành tại Pháp từ những năm 1920 gắn với tên tuổi André Breton (1896-1966), được xem như một cuộc cách mạng trong tư duy sáng tạo nghệ thuật. Trong thơ ca, khuynh hướng này thể hiện qua việc khai thác tiềm thức và vô thức; vận dụng thủ pháp liên tưởng bất ngờ; xây dựng ngôn ngữ giàu tính biểu tượng và ẩn dụ phi lý; kiến tạo những hình tượng khó nắm bắt và phi thực tại, đồng thời phá vỡ các quy tắc ngôn ngữ, cấu trúc truyền thống để tạo ra một cái nhìn “khác thường” về thế giới… Điều này cũng làm thay đổi cách đọc thơ: từ tiếp nhận nghĩa trực tiếp sang tham dự vào quá trình sáng tạo thông qua những tầng ẩn dụ và biểu tượng đa nghĩa [10].
Ở Việt Nam, mặc dù không hình thành một trào lưu siêu thực thuần túy, nhưng ảnh hưởng của khuynh hướng này vẫn luôn hiện diện, từ phong trào Thơ mới cho đến thơ ca đương đại. Trong tiến trình vận động và phát triển của thơ ca Nghệ An, tác giả Nguyễn Hữu Quyền có thể xem là một trường hợp tiêu biểu, khi tiếp thu và sáng tạo trên nền tảng tinh thần siêu thực, để mở rộng biên độ biểu đạt của ngôn ngữ thơ, góp phần làm mới diện mạo thi ca Nghệ An đương đại.
1. Một trong những đặc điểm nổi bật của thơ Nguyễn Hữu Quyền là hệ thống ngôn ngữ giàu tính biểu tượng.Trong nghiên cứu văn học, biểu tượng được hiểu là một hình tượng nghệ thuật có khả năng gợi ra những tầng nghĩa vượt lên trên ý nghĩa trực tiếp, trở thành “ký hiệu mở” cho nhiều cách diễn giải khác nhau [1,2]. Ở bình diện thi pháp, Trần Đình Sử khẳng định: “Biểu tượng trong thơ là nơi hội tụ cao độ của tư duy hình tượng, nó vừa giàu sức khái quát, vừa khơi gợi những tầng nghĩa ẩn chìm, vượt khỏi khuôn khổ ngôn từ trực tiếp” [10, tr. 45]. Có thể hiểu biểu tượng thơ như là những hình ảnh đặc biệt, được lựa chọn, xây dựng trong tác phẩm theo những cách thức riêng, mang nghĩa tượng trưng, trùng phức.
Khác với quan niệm truyền thống, nơi hình ảnh thơ thường gắn liền với sự tái hiện hiện thực, tập thơ Át cơ của Nguyễn Hữu Quyền hướng đến việc kiến tạo những ký hiệu mở, cho phép nhiều cách đọc và cách giải thích khác nhau. Ở đó, hình tượng thơ không chỉ là dấu vết của thế giới bên ngoài, mà còn là “cửa ngõ” dẫn vào những tầng sâu của vô thức và ký ức. Đây chính là tinh thần siêu thực, nơi ngôn ngữ được giải phóng khỏi chức năng mô tả thuần túy, để trở thành một không gian liên tưởng, mơ mộng, huyễn tưởng.
Với cách tiếp cận ký hiệu học [2], có thể xem thơ Nguyễn Hữu Quyền như một hệ thống dấu hiệu phi quy ước: chúng không ổn định trong một nghĩa duy nhất, mà liên tục sản sinh những lớp nghĩa tiềm ẩn. Lấy ví dụ, các hình ảnh “biển ướt nhoẹt”, “lỗ thủng khởi thuỷ”, “nguy nga vũ trụ” (Nguy nga vũ trụ), hay chuỗi động từ “ập oà”, “chảy”, “lách”, “nhô lên”, “sinh nở” (Mưa tháng 3) không chỉ đơn thuần miêu tả trạng thái tự nhiên, mà còn kích hoạt một trường liên tưởng phồn sinh – gắn với khởi nguyên, sự sinh sôi, phát triển, sức sống nhân bản. Có thể nói biểu tượng phồn sinh đã trở thành một mạch ngầm xuyên suốt tập Át cơ. Từ “vạch vôi” (Vạch vôi) như ranh giới của dục tính và cám dỗ, đến hình ảnh Cửa Lò như một “sinh thể” căng tràn (Cửa Lò), từ những vầng sáng trong Ánh sáng phồn sinh đến hình ảnh “cuống”, “rốn” “nhau” xuất hiện nhiều lần trong nhiều bài thơ (Mưa giông, Ta sẽ đón người trong mưa rơi, Mưa tháng ba, Nhau hoa trong rốn bão mặt trời…) – có thể xem là những dấu chỉ của sự gắn kết nguyên thủy- tất cả làm nên một trường biểu tượng tồn sinh, vừa cụ thể, vừa siêu hình. Ở đây, sự vật, hiện tượng không còn tồn tại như cái “đang là” mà như những “ẩn dụ sinh thể học”, luôn vận động giữa hiện thực và huyễn tưởng.
Thơ Nguyễn Hữu Quyền cũng dày đặc những biểu tượng mang nỗi ám ảnh về sự cô đơn, đứt gãy và khát vọng hồi nguyên. Có những hình ảnh thơ nhẹ nhàng thôi mà đầy ám ảnh: “Tôi có một bãi bờ/ Phù sa là những ngồng cải/ Rải màu vàng trơ cuống ngu ngơ” (Dòng sông tôi), “Cuối chợ có một ngồng cải mọc lên/ Trơ vơ trổ hoa/ Màu vàng loang trong gió” (Trống vắng), “Lật đất lên thấy sao nằm úp/ Ánh sáng đầy luống cày/ Thương cuống mình sao khóc” (Sao rơi), “Bì bõm trong thơ tôi về/ Bên đường khế rụng nhiều quá” (Những điều trông thấy) … Đó là những hình ảnh gắn với thân phận con người trong mối tương quan với vũ trụ bao la, nơi cái hữu hạn va đập vào cái vô biên, để lại những dư chấn hoang hoải, cô đơn, đứt gãy. Tuy nhiên, đằng sau những nỗi niềm đó, khát vọng vẫn là mạch ngầm chảy xuyên suốt. Thơ Nguyễn Hữu Quyền nhiều lần hé lộ ước muốn tìm kiếm bến đỗ, tìm về nơi chốn hồi nguyên, sự hòa hợp: “Đắm đuối cuộc người/ Theo sông đến bể/ Khao khát bến về/ Mê tơi..” (Giăng mắc), “Tôi là ngọn cỏ đến giờ vẫn hoang sơ/ Như thuở sơ khai trở dạ…” (Tên tôi là khởi thuỷ), “Tôi đi tìm chi?/ Chỉ có biển đang yêu sông/ Tồng ngông cái hạc…” (Biển yêu sông)… Chính điều này đã phản ánh sâu xa những trải nghiệm nhân sinh: con người nhỏ bé, hữu hạn, cô đơn, song vẫn chưa từng nguôi khát vọng vượt thoát để tìm về bản thể, khao khát một bến đỗ tinh thần. Đó cũng chính là trục ý niệm nối thơ Nguyễn Hữu Quyền với truyền thống nhân sinh phổ quát của thi ca nhân loại.
Cầu vồng cũng là là một biểu tượng lặp lại với nhiều hình thái, trở thành một trong những hình ảnh trung tâm của tập Át cơ. Theo góc nhìn phân tâm học [1], cầu vồng có thể coi như một biểu tượng nguyên mẫu của sự nối kết, vượt thoát. Trong thơ Nguyễn Hữu Quyền, cầu vồng là khát vọng (Dòng sông tôi), là nhân chứng (Mười ba bến nước), là niềm vui rạng rỡ (Mưa giông), là ảo tượng mong manh (Cầu vồng ở đảo vịnh Hạ Long), cũng có khi mang những sắc thái kỳ diệu của tái sinh (Cầu vồng)…. Nó mở ra một không gian “giữa” – vừa hiện thực vừa siêu thực – khẳng định khát vọng hướng đến cái đẹp, cái toàn vẹn của con người.
Thơ Nguyễn Hữu Quyền cũng thường xuyên sử dụng thời gian như một biểu tượng. Tuy nhiên, thời gian trong thơ ông không tuyến tính, mà bị gián đoạn, đứt gãy, nhiều khi chỉ tồn tại như một ký ức mơ hồ. Những câu thơ “Ngày mai. Ngày mai. Can qua…/Em sẽ về mà” (Xao xác), hay “Bốn ngày nữa thì em tới?” (Nhà còng), “Cột tháng mười hai lại/Để cho bãi bờ/Em kịp phơi nắng ban mai” (Bãi bờ), “Tháng hai đậu trên ngồng cải” (Tháng hai)… Ông cũng hay nhắc đến “thưở ấy”, “khởi thuỷ”, “hậu thế”… Tất cả đều minh chứng cho việc thời gian đã trở thành một “tình thái biểu cảm”, chứ không phải quy luật vật lý. Đây là cảm quan hiện đại về thời gian, gần với tinh thần của chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại, nơi con người sống trong dòng chảy ký ức, mong chờ, lo âu hơn là trong “thời gian khách quan”.
Có thể nói rằng biểu tượng trong thơ Nguyễn Hữu Quyền không dừng lại ở tầng nghĩa hiển ngôn, mà mở những liên tưởng đa tầng. Chính đặc điểm này khiến thơ ông vừa gần với tinh thần siêu thực, vừa tạo nên một “mỹ học tiếp nhận” mở, nơi độc giả trở thành đồng sáng tạo. Đây là một đặc điểm khá nổi bật của thơ đương đại Việt Nam, khi ngôn ngữ thơ được đẩy đến giới hạn của sự ám gợi, khơi dậy chiều sâu nhân sinh từ những hình tượng rất gần gũi, rất giản dị, rất đời thường.
2.Một phương diện quan trọng làm nên màu sắc siêu thực trong thơ Nguyễn Hữu Quyền là việc sử dụng liên tục những câu hỏi không có lời giải cùng với thủ pháp lạ hoá ngôn ngữ. Trong Át cơ, người đọc bắt gặp khá nhiều những câu hỏi có vẻ như vu vơ, mơ hồ: “Lệ ơi, bao giờ người từ suối, ra sông, về bể/ Ta sẽ đón người trong mưa rơi?…” (Ta sẽ đón người trong mưa rơi), “Còn nhớ đường lên núi không? Chỗ gần nhà con ấy” (Giếng nước), “Không hiểu vì lẽ gì lần này núi lửa phun nham thạch lạnh?… Hồi nào là hồi này mà bên kia chú cào cào cứ thản nhiên chơi với hoa đỗ ván?” (Xao xác), “Sao cầu vồng lại rơi?/Chớp giống bong bóng” (Cầu vồng), “Từ nơi nao đến đây?/ Hoa chỉ còn một cánh/Người đạp xích lô cầm cuống lên chơi/Ông bỗng chạm phải mình/Sao trong đó có nhiều sắc đỏ?” (Ẩn ức về màu đỏ), hay “Biết bao biến thiên/Sao giờ người mới đến?” (Viết trong mê tỉnh)… Những câu hỏi kiểu này không nhằm tìm câu trả lời cụ thể, mà đúng hơn, nó mở ra những chiều kích không gian nghĩa tiềm ẩn, nơi hiện thực và ký ức, vô thức và hữu thức giao thoa. Các câu hỏi ấy tạo nên một tình thái bất an, biểu đạt nỗi khắc khoải bản thể, nơi con người luôn ở trong trạng thái một mình đối diện với những câu hỏi không có lời đáp dứt khoát. Chính việc đặt ra câu hỏi – hơn là trả lời – mới là cách mà thơ Nguyễn Hữu Quyền tái hiện được sự tồn sinh mong manh, ngập tràn hoài nghi nhưng cũng đầy thao thiết, khát vọng.
Song song với mạch câu hỏi khắc khoải là thủ pháp lạ hoá ngôn ngữ. Nguyễn Hữu Quyền ưa sử dụng những kết hợp từ ngữ, hình ảnh “nghịch chuẩn” với logic thông thường, từ đó làm đảo lộn nhận thức quen thuộc, buộc người đọc phải “dừng lại để nhìn thế giới” bằng con mắt khác. Chẳng hạn: “Trăng chưa rời khỏi nắng” (Bình minh) – một nghịch lý thị giác, nơi hai trạng thái đối lập (trăng và nắng) đồng hiện; “Tôi bóc thời gian/thấy sông chảy nghiêng qua tờ lịch” (Tiếng trống rằm tháng giêng) – biến dòng sông thành ẩn dụ của thời gian chảy nghiêng, làm vật chất hóa cái vô hình; “Ra phố mua hoa/gặp Mai An Tiêm/Ông từ đảo xa về/Gánh dưa đỏ vào chợ Vinh bán” (Ngày hai mươi tám tết) – sự xáo trộn không gian – thời gian, đưa nhân vật huyền thoại chen lấn vào đời thường… Cũng cần phải nói rõ rằng, những thủ pháp này hoàn toàn không chỉ là trò chơi chữ hay tìm kiếm sự mới lạ bề ngoài, mà chính là cách tái cấu trúc hiện thực. Thơ Nguyễn Hữu Quyền vì vậy mang đậm tính siêu thực: thế giới trong thơ vừa quen thuộc vừa xa lạ, vừa cụ thể vừa mơ hồ, vừa đời sống vừa huyễn tưởng.
3. Điểm nổi bật của dấu ấn siêu thực trong thơ Nguyễn Hữu Quyền còn là cách ông kiến tạo điểm nhìn như một “mắt lưới” đa tầng, nơi hình ảnh và chi tiết được đặt cạnh nhau tưởng chừng rời rạc, song lại ngầm kết nối bởi một logic nội tại. Đây là thứ logic của vô thức chứ không phải của lý tính, khiến cho mỗi văn bản thơ trở thành một trường liên tưởng bất định và đa thanh. Chẳng hạn, trong Lạch phồn sinh, những chi tiết: bò đực, người đàn bà váy trắng, tiếng ve, cây tre cụt ngọn, con chim, câu nói đời thường… thoạt nhìn không hề có mối liên hệ. Nhưng khi đặt trong dòng chảy toàn bài, tất cả lại cùng quy tụ về một điểm: khát vọng bản năng – sinh tồn. Ở đây, cái nhìn thơ vừa bao quát vừa phân mảnh, vừa hiện thực vừa ảo mờ, phản ánh đúng sự vận động của vô thức và ẩn ức trong quá trình sáng tạo. Tương tự, trong bài Bình minh, các chi tiết: cặp ngựa trời, chiếc lốp xe của người ship hàng, vầng trăng, ánh nắng, bọn trẻ con đá bóng, cây nhọ nồi… tưởng như phi lý, không chút liên hệ, nhưng lại cùng nhau kiến tạo nên một không gian độc đáo: “Lúc đó bình minh đến”. Sự “cắt dán” hình ảnh ở đây cho thấy thơ của Nguyễn Hữu Quyền vận động như một theo một chiều hướng siêu thực, nơi các mảnh ghép tưởng chừng ngẫu nhiên lại đồng vọng trong một trường nghĩa tiềm ẩn.
Ở phương diện này, có thể thấy thêm một đặc điểm trong thơ Nguyễn Hữu Quyền là xu hướng “thả lỏng” theo mạch liên tưởng. Rất nhiều bài thơ, chất chứa những hình ảnh “không đầu không cuối”, đơn cử như bài thơ Lơ ngơ với: người vô gia cư, mặt trời, xác châu chấu, thiếu nữ ngồi trong ô tô, em bé, chiếc vòi nước…; hay bài thơ Tháng hai với bìm bịp, mặt trời, vũ trụ, bãi bờ, em bé, bà mẹ, ngồng cải… tất cả đan xen để tạo thành một dòng chảy mơ hồ, bất định. Cái tôi trữ tình nhờ vậy được giải phóng, không bị gò ép trong những cấu trúc cố định, mà trở thành một hành trình tự đối thoại, vừa bộc lộ cảm xúc, vừa triết luận, vừa tìm kiếm sự cứu rỗi tinh thần.
Cách kết thúc một cách bất ngờ, tưng tửng ở khá nhiều bài thơ cũng là một minh chứng thú vị cho xu hướng thả lỏng cảm xúc theo mạch liên tưởng. Ở đó, người đọc thường được dẫn dụ vào một câu chuyện giàu chiều sâu, miên man, rồi bất ngờ bị “thả rơi” bởi một cái kết nhẹ tênh nhưng cũng đầy ám ảnh (Biến thiên, Giếng nước, Lịch sử, Bí ẩn cuộc sống, Trước bình minh…). Chẳng hạn, trong Biến thiên, sau khi dõi theo những lớp trầm tích của “lịch sử đóng gói”, với những “mộ Đội Cung”, “thi thể người phụ nữ tóc vàng”…, nhưng kết thúc bài thơ lại là cảnh đời thường: “Sáng nay người bán bánh ngồi đó/Bà thản nhiên mời tôi mua hàng/Mới sớm mai mà nắng chang chang”. Những hình ảnh vụt hiện, những cú rẽ bất ngờ… đã thực sự tạo nên hiệu ứng đột biến thẩm mỹ, buộc độc giả dừng lại, suy ngẫm, đồng thời phơi mở tính bất định của đời sống.
4. Ở cấp độ hình thức, Nguyễn Hữu Quyền thường sử dụng câu thơ ngắn, hàm súc, có khi đứt đoạn, rời rạc như những mảnh ghép (thỉnh thoảng chêm đệm những câu thơ dài bất thường). Nhưng chính trong sự rời rạc ấy lại có một nhịp điệu nội tại ngấm ngầm kết nối, khiến cho khoảng trắng, sự lặng im, sự dừng đột ngột trở thành một yếu tố thẩm mỹ chủ đạo. Đây là một dấu hiệu quan trọng cho thấy thơ ông đang thoát ly khỏi cấu trúc niêm luật truyền thống để hòa nhập vào tinh thần thơ tự do hiện đại.
Kết luận
Trong dòng chảy thơ Việt đương đại, nhiều tác giả đã nỗ lực giải phóng ngôn ngữ, vượt khỏi mô hình truyền thống, tạo lập những vùng sáng tạo mang tính thể nghiệm, định hình được những phong cách thơ riêng biệt, có thể kể đến một số nhà thơ như Trần Dần, Bùi Giáng, Lê Đạt, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Inrasara… Họ đã tạo nên những quỹ đạo sáng tác đa dạng, từ việc cách tân hình thức đến mở rộng biên độ tư duy thi ca, góp phần làm cho diện mạo thơ Việt sau 1975 thêm phong phú, đa tầng và không ngừng vận động.
Ở Nghệ An, Nguyễn Hữu Quyền với tập thơ Át cơ có thể xem là một trường hợp tiêu biểu cho những nỗ lực cách tân như vậy. Có thể thấy, trong hành trình vận động và phát triển của thơ ca Nghệ An đương đại, Nguyễn Hữu Quyền với Át cơ đã xác lập được một phong cách riêng, khi mạnh dạn thử nghiệm ngôn ngữ theo tinh thần siêu thực, mở ra những liên tưởng bất ngờ và những tầng nghĩa đa chiều – nơi người đọc đối diện với những câu hỏi về thân phận, về cái hữu hạn/vô hạn, sự sống/cái chết, về những khát vọng hiện sinh của con người trong cuộc tồn tại nhiều bất trắc. Thơ ông không dừng lại ở sự bộc lộ cảm xúc mà trở thành một trường triết luận giàu tính suy tưởng, nơi trực giác và tiềm thức giao thoa, tạo nên chiều sâu nhận thức.
CAO THỊ ANH TÚ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Carl Gustav Jung (2002), Con người và các biểu tượng của nó, Nxb. Văn hoá – Thông tin.
2. Trịnh Bá Đĩnh (2004), Ký hiệu học văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, tái bản 2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục.
4. Nhiều tác giả (2016), Thế hệ nhà văn sau 1975, Nxb Hội Nhà văn.
5. Nguyễn Hữu Quyền (2020), Về miền hoa lộc vừng, Nxb Nghệ An.
6. Nguyễn Hữu Quyền (2021), Nơi con sông đổ về biển, Nxb Nghệ An.
7. Nguyễn Hữu Quyền (2022), Nụ cười sót lại sau mưa, Nxb Nghệ An.
8. Nguyễn Hữu Quyền (2024), Khởi thuỷ, Nxb Nghệ An.
9. Nguyễn Hữu Quyền (2025), Át cơ, Nxb Đại học Vinh.
10. Đỗ Lai Thúy (2001), Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
11. Trần Đình Sử (2007), Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Giáo dục.
