TRẦN THỊ NGUYỆT MAI: Giới thiệu tập truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” của Phan Tấn Hải

Văn Học Press vừa cho xuất bản “Đuổi Bắt Một Mùi Hương”, tập truyện của Phan Tấn Hải, phát hành trong tháng 12/2025, dày 408 trang.

Tập truyện bắt đầu bằng Lời Thưa, tiếp đó là 32 truyện ngắn và kết thúc bằng bài viết “Hạnh phúc là đang sống với chữ”. Ở cuối sách là phần trích nhận định từ các học giả, văn nghệ sĩ về Nguyên Giác Phan Tấn Hải.

Trong Lời Thưa, tác giả chia sẻ, “cũng có thể nói, tôi không thực sự viết truyện. Tôi chỉ viết lên những dòng chữ như thả lên những cánh chim trong tâm mình cho bay qua bầu trời văn học. Có những cánh chim bay cao, có con bay thấp, có con lạc vào mây, có con biến mất sau một cơn gió. Rồi một ngày nào đó, độc giả sẽ quên tất cả những cánh chim mang theo chữ đó. Độc giả sẽ quên hết những chữ tôi viết, và sẽ chỉ còn nhớ rằng tôi đã đem truyện cổ tích vào đời thường, để làm cho cuộc đời đẹp hơn. Và đó sẽ là hạnh phúc của người viết và của người đọc.” Ông cũng bày tỏ ước mong, “Tôi mong độc giả sẽ không chỉ đọc bằng mắt, mà đọc bằng tim, bằng hơi thở, bằng sự lặng lẽ của chính mình.” Tại sao tác giả lại mong như vậy? Có phải vì như ông tâm tình, “dù truyện hay hay dở, thì vẫn có một chút ánh sáng, một chút đẹp, một chút nhắc nhở về tình người trong đó”?

Đầu tiên, tôi tìm đọc “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” (trang 149). Tên truyện được dùng làm tựa sách hẳn tác giả muốn ngầm bày tỏ điều gì chăng? Hai nhân vật chính của truyện là tôi và cô bé. Lúc đó tôi 17 tuổi, vào ngồi sân Chùa Xá Lợi để học thi. Cô bé lúc đó học Gia Long, sau tôi cỡ một hai lớp. “Một lần tôi chợt nắm tay cô bé, và tay tôi như điện giật tự nhiên rút về. Chính ngay lúc đó, tôi ngửi thấy một mùi hương từ cơn gió nhẹ trong sân chùa thoảng qua. Và hai cảm giác, mùi hương và cái nắm tay bất chợt đó đã theo tôi gần trọn cả đời.” Chỉ có như thế. Vậy mà, “Trong các buổi ngồi thiền ban đêm hay rạng sáng, mùi hương đó vẫn thoang thoảng quanh tôi. Và khi nghĩ tới bàn tay, cảm giác vẫn đầy rung động.” Tác giả đã mượn lời Thầy để chỉ ra: “Tâm con trước giờ vốn lặng lẽ, trước giờ vốn không tịch, trước giờ không có tướng mạo, như tấm gương trong trẻo vậy, và bây giờ khi chim kêu thì tâm con mới khởi ra tiếng chim kêu, khi tiếng gió xao xác thì tâm con mới khởi ra tiếng gió thổi. Do vậy, tiếng chim kêu không hề lìa tánh không tịch. Các pháp đều không hề lìa tánh không tịch. Các pháp đều hiện trong tâm, dù là những gì con thấy hay nghe, những gì con cảm thọ vui hay buồn, những gì con tham hay sân, đều từ tánh không tịch khởi lên, trụ lại, rồi hoại đi và rồi mất dạng về không tịch. Hãy thấy như vậy, đừng để tâm mình trụ vào bất kỳ thứ gì… Khi con thấy có cảm thọ nào khởi lên, khi thấy có niệm tưởng nào khởi lên, hãy thấy rằng nó đang biến hiện, theo tuần tự thành trụ hoại không, rằng nó khởi lên, rằng nó đang trụ, rằng nó đang biến dần, rằng nó đã biến mất. Hãy thấy trong tâm mình các pháp thành trụ hoại không như thế.” Hiểu được lời Thầy nên, “Khi tôi bước ra cổng chùa, mùi hương lạ kia lại thoang thoảng. Nhưng tôi biết rồi, là hoàn toàn không có ai đuổi bắt mùi hương cả, và cũng không thực sự có mùi hương nào để được đuổi bắt hay chạy trốn cả. Và các pháp tự thân đã là vắng lặng, dù mùi hương có đến hay đi.”

Truyện “Người Tới Như Mộng” (trang 163) với Diệu My, nhỏ út của “một nhóm bạn tu học nơi sân Chùa Tây Tạng, Bình Dương, từ những năm của thập niên 1970s… Thỉnh thoảng Thầy ra ngồi ở ghế đá trước sân. Có những đàn chim sẻ thường sà xuống, bay quanh quẩn trong sân, bạo dạn tới mức có khi nhảy lóc cóc tới gần chân thầy. Một lần nhỏ út thấy vậy mới lấy tay quơ quơ cho chim sẻ bay, làm sao lại vấp té, tôi kịp đưa tay đỡ dậy. Bàn tay tôi nắm lấy bàn tay Diệu My, kéo đứng dậy, cảm giác lạ thường nơi tay tôi kéo dài mấy ngày. Tay nhỏ út Diệu My tất nhiên mềm mại… Nhưng đó là lần đầu tiên tôi nắm tay một thiếu nữ, tuy rằng nhỏ út vẫn trông như con nít trân, có vẻ như không thấy khác thường khi tôi nắm tay cô bé.” Thầy, như thấy được cảm giác của tôi khi chợt nắm tay cô bé, nói rằng, “chúng ta phải học như chim, cất cánh bay đi nhưng không để lại ảnh hình hay dấu chân chim nào trong không gian, cũng như trong tâm mình, những niệm khởi sinh và biến dạng đi. Nếu còn để lại dấu vết, còn nắm giữ cảm thọ của những gì của hôm qua, những gì của quá khứ thì sẽ không giải thoát nổi.”

Tuần trước, tôi nhận được một cú điện thoại của Diệu My cho hay nàng bay từ New York tới thăm Quận Cam một buổi, rồi hôm sau sẽ đi xe lửa về Santa Barbara nhận việc làm mới. Tôi xin mua vé đi theo để tiễn nàng. Diệu My không cho tôi đón ở phi trường John Wayne, vì nàng sẽ xách hành lý tới trước cửa căn chung cư của tôi vào buổi sáng thứ Bảy. Hôm sau, trên xe lửa về Santa Barbara, “tôi nói là tôi sẽ cần liên lạc với nàng. Cô bé cười, bảo là nàng sẽ liên lạc và nói thêm: ‘Như chim bay trên trời, không để lại dấu tích, giữa không gian vô định nhưng vẫn biết nơi cần đến.’ Xuống xe lửa, nàng bảo muốn đưa tôi ra nhìn biển Santa Barbara một chút, để rồi sẽ từ biệt. Nàng để mặc cho tóc bay theo chiều gió, mỉm cười nhìn thẳng vào mắt tôi. Và rồi nàng bảo tôi: ‘Hãy ôm em từ biệt đi.’ Tôi ôm nàng, choàng tay vòng qua vai, bàn tay tôi kinh ngạc và run rẩy khi cảm nhận lằn dây nịt ngực qua lớp vải áo nơi lưng nàng. Một chặp. Và nàng đẩy nhẹ tôi ra, bước đi. Tôi vẫn còn ngạc nhiên, tự hỏi tại sao mình không hôn nàng. Nhưng mùi hương tóc nàng vẫn còn theo tôi, về tới Little Saigon. Vào cả giấc ngủ đêm hôm đó. Bàn tay tôi run rẩy, cảm xúc khi ôm nàng nơi bờ biển Santa Barbara vẫn còn mãi nơi hai bàn tay tôi kể cả khi tôi gõ email hỏi Sơn, người bạn, về chuyện các bạn ở quê nhà.”

Hôm sau, đọc email trả lời của Sơn, cho hay, “nhỏ út Diệu My thì đã xuất gia từ lâu, bây giờ là một ni sư, trong hơn hai thập niên không hề bước xuống phố chợ. Tôi kinh ngạc khi đọc như thế. Nhìn lại trên bàn, tôi thấy hai vé xe lửa, một của tôi, và một của nàng… Trong phòng vẫn còn thoảng hương tóc nàng, lẫn trong hương gió biển từ xa bay về.”

Truyện “Núi Sông Có Mấy Ngả Tình” (trang 177) về mối liên hệ với người anh họ tên Thi tức Đại đức Nguyên Ân, xuất gia tại một ngôi chùa ở Bình Dương. “Khi anh biết có những đêm tôi ngủ ở chùa đã cố gắng chống cự với giấc ngủ trẻ thơ rình rập xem 108 vị La Hán cạy lên những viên gạch Tàu để thay bằng những phiến ngọc xanh, anh chỉ cười dịu dàng: ‘Các Tổ thường gọi những phép lạ như vậy chỉ là những trò múa may của chồn rừng. Phép lạ lớn lao nhất chính là khi nào chồn rừng biến thành sư tử thôi. Khi đó em sẽ thấy rằng mình với người thực sự không hề cách nhau tới một sợi tóc.’ Vài năm sau tôi mới hiểu hết những thuật ngữ nhà Thiền như chồn rừng và sư tử. Chồn rừng và sư tử chỉ là hai mặt của một tâm hồn. Vấn đề của một thiền sư không phải là tu từ chồn rừng trở thành sư tử, mà phải nhìn thấy ngay tức khắc mình đã là sư tử con rồi. Sư tử con thì chỉ cần một năm, hai năm là thành vua sư tử. Chứ còn chồn rừng thì biết tới bao giờ mới thành sư tử.”

“Có những lần sau buổi công phu sớm, chúng tôi thường ngồi hầu trà bên vị Thầy của anh để nghe pháp. Thầy biết là những người mới tập Thiền dễ mê Thiền lắm. Cuộc sống vốn đã đầy rẫy những mê hoặc, tại sao mê thêm một thứ nữa nhỉ? Nhiều người lại bước vào tà Thiền, quay cuồng với việc xuất hồn lên các cõi trời hay chuyển pháp luân thở hít này nọ. Thế là lầm lạc biết tới bao giờ mới ra. Họ không hề biết rằng tất cả các cõi Trời, cõi Phật, khắp cả thế giới mười phương đều đã sẵn trong tâm này.”

Sau năm 75, cuộc sống trong chùa khó khăn hơn do ở xa hẳn thị trấn nên rất ít tín đồ… Hộ khẩu anh lại ở Sài Gòn, nên việc cư trú lại càng rắc rối. “Khi trận đói năm 76-77 xảy ra, Thầy phải gửi anh về nhà. Nhưng anh lại cố gắng lưu vong từ ngôi chùa này đến ngôi chùa kia ở ngoại ô Sài Gòn. Cuối cùng anh về ở một ngôi chùa trên đường ra Vũng Tàu. Riêng tôi, bất cứ lúc nào rảnh rỗi, tôi đều tìm sách kinh để tìm hiểu về Thiền… Những lần anh về thăm gia đình, tôi đều tìm anh để nói chuyện về đạo pháp và dân tộc.”

“Rồi sẽ tới một lúc em thấy những cảnh khổ đó cũng chỉ là một thoáng giấc mơ hiện lên trong giấc ngủ đêm qua. Rồi sẽ tới một lúc em thấy ngay cả những việc nghiêm chỉnh nhất như làm cách mạng, như đi tu thực sự cũng chỉ là một thoáng mây bay qua đi trong tâm hồn em. Vấn đề là giấc mơ kia qua đi và thoáng mây kia tan đi, cái gì còn lại trong em? Thấy được cái đó chính là Thiền. Em phải thấy Tánh đã. Rồi muốn gì thì làm. Nếu không thấy Tánh thì làm gì cũng sai lầm, dù em cứu sống hàng triệu người, đem hạnh phúc cho hàng tỉ người, điều đó cũng vô ích.” Tôi than, “Trời ơi, làm thế nào em có thể thấy ngay trong đời này chứ? Làm sao có thể ngồi Thiền để chờ thấy Tánh, giữa lúc bao nhiêu đứa con nít đang bới những đống rác để tìm một mẩu bánh?”

– “Người ta không cần ngồi Thiền để thấy Tánh. Hai việc đó rõ ràng khác nhau. Vấn đề chỉ ở chỗ – anh trầm giọng xuống chậm rãi một cách nghiêm cẩn – Làm thế nào để thấy tất cả các Tướng đều không có Tướng, thì là thấy Tánh.”

Anh Thi cũng dạy tôi, “Em sẽ bước vào được vũ trụ của tâm vô phân biệt ngay khi nào với chính đôi mắt trần này em thấy được, mặc dù mình đã sinh ra hằng triệu kiếp và đã chết đi hàng triệu kiếp, thực sự mình vẫn chưa từng sinh ra bao giờ và cũng chưa từng chết đi bao giờ. Mình vẫn làm tất cả mọi việc trên đời nhưng không hề thấy có người đang làm, có việc được làm là lúc bấy giờ thì khổ đau chỉ còn là tiếng thở dài đêm qua…”

Hai tháng sau gia đình anh Thi tin cho tôi biết là anh đang ở tù. Và sau đó một tháng tôi đến thăm Thầy ở Bình Dương để từ giã trước khi vượt biên. Cuộc đàm đạo lần này chỉ ra con đường tu đạo rõ ràng thật rõ ràng, “Con đừng bao giờ nghĩ rằng con đang làm một việc gì đó tốt đẹp cho một người hoặc nhiều người. Con cứ làm tất cả mọi việc trong trần gian, hi sinh cả chính sinh mệnh mình, cho tất cả những gì mình có, nhưng phải thấy rằng không hề có người đang cho và cũng không hề có vật nào cho.” Tôi hỏi, “Thưa Thầy, thế nào để bước vào ngay được cửa của Thiền?” “Chỉ cần con đứng lại và buông xả hết thế là xong. Con phải thấy mình là đại dương chứ không phải là bọt nước. Phải sống như đại dương. Sống như bọt nước thì còn phân biệt giữa bọt nước này với bọt nước kia, chứ còn đại dương thì vô phân biệt…”

Ngoài ra, tôi còn thích Thiếu Nữ Trong Ngôi Nhà Bệnh, Mối Tình Đầu Của Tôi, Vết Son Ơi, Quên Nhau Là Chuyện Khó, Bệnh Nước, Cậu Bé Và Hoa Mai, Câu Đối Tết, Giọng Nói Trong Tim, … mà trong đó, không chỉ chuyển tải đạo ông còn cho thấy tấm lòng nặng trĩu với chuyện nước non.

Phần kết, với “Hạnh phúc là đang sống với chữ” là những lời reo vui của tác giả:

“Tôi cảm nhận hạnh phúc tràn ngập khi gõ những dòng chữ. Mọi chuyện y hệt như tiền định. Tôi đã mê chữ từ khi còn thơ ấu, khi còn cặm cụi viết từng mẫu tự trên giấy học trò. Và rồi nhiều năm, sau hơn nửa thế kỷ, khi ngồi trước màn hình và đưa tay gõ bàn phím, niềm vui đó vẫn không xa lìa tôi. Tiếng Việt, tiếng Anh… tôi ăn, ngủ, cười, nói, đi, đứng, nằm, ngồi đều như thấy mình tắm gội trong chữ, hít thở với chữ, tất cả đều làm tôi vui. Đây không phải là những gì có tính mê hoặc, mà chỉ là niềm vui rất đơn sơ, như dường tự nhiên là không có gì thay thế chữ được.”

Ở phần nhận định về Nguyên Giác Phan Tấn Hải, xin trích một vài:

– Tác giả Nguyên Giác Phan Tấn Hải, xứng đáng là một cư sĩ góp nhiều công cho văn hóa Phật giáo như những tên tuổi Lê Đình Thám, Mai Thọ Truyền, Đoàn Trung Còn, Phan Văn Hùm trong quá khứ. (GS Nguyễn Văn Sâm) 

– Không đi sâu vào lý thuyết, không tranh luận bộ phái, tác giả chỉ muốn giúp người đọc những gì thực tiễn, thực hành trong Thiền tập. Viết về Phật pháp, về Thiền tông, nhưng Nguyên Giác không viết một chiều, luôn đặt ra những câu hỏi của một… nhà báo. Thí dụ bài về Bồ Đề Đạt Ma, ông gọi là “một khuôn mặt ẩn nhiều huyền thoại”, và mời gọi độc giả đặt nghi vấn. Đó là một thái độ khoa học cần thiết, nhờ đó, tránh đi những màu sắc mê tín. (BS Đỗ Hồng Ngọc)

– Văn chương Phan Tấn Hải là tấm gương bao trùm phản chiếu nhiều mảng đa dạng sáng tối của cuộc sống, từ nội dung đến văn phong, hình thức. Nhưng trên hết vẫn là những rung động mỹ cảm ông dành cho người, cho đời, từ lăng kính chân thật, trong sáng, nhưng cũng tinh tường nhất. (Lê Hòa Bình)

– Chữ nghĩa của anh, như chính anh tự xác định, là một hoài vọng cốt để làm đẹp cho đời, là nhắm đến Chân-Thiện-Mỹ, đến Cái Đẹp lương hảo, nhân ái, hướng thiện, bất biến của cuộc nhân sinh. Điều đó xem ra chẳng dễ dàng chút nào trong cuộc sống ngày hôm nay. (Trịnh Y Thư)

Với tôi, đây là một tập truyện thú vị rất nên đọc. Đọc từ từ, chầm chậm, nghiền ngẫm bằng trái tim, bằng hơi thở, bằng sự lặng lẽ của chính mình, như tác giả đề nghị ở Lời Thưa. Để rồi sẽ nhận ra như nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh có lần chia sẻ, “lối cấu trúc truyện hư hư thực thực, không gian lẫn thời gian, cái hấp dẫn của nó là bắt đầu từ mấu chốt thực, rồi lan man đi vào mơ, rồi tan như ảnh ảo. Một bút pháp không bút pháp, chỉ giản dị như nghĩ tới đâu thì kể tới đó, không kỹ xảo, không hoa mỹ, nhưng văn có hấp lực ở chỗ chữ vô cùng bình thường nhưng sức chở thì sâu xa, độc đáo.”

Trần Thị Nguyệt Mai

16.11.2025

Bài Mới Nhất
Search