Trường Hồng Bàng
Những Kỷ Niệm Khó Quên
Năm 1997- Tôi nghỉ hưu trí, từ giã trường Hồng Bàng Quận 5 , từ giã ngôi trường thân thương mà suốt mười bảy năm tôi hết lòng phục vụ với tình cảm thương yêu dành cho học trò, cho Ban Giám Hiệu và các bạn giáo viên đồng nghiệp. Thời gian mười bảy năm đã đủ dài, để tôi và ngôi trường gắn bó với nhau rất nhiều kỷ niệm đẹp. Tôi yêu ngôi trường có lối kiến trúc cổ hài hòa của người Pháp, có cây phượng vĩ nở hoa đỏ thắm sân trường, hòa nhập với âm thanh ve sầu kêu rộn rã báo tin mùa chia tay bạn bè và Thầy Cô giáo ba tháng hè
Trong sân trường, cây Dầu Rái cổ thụ, lá ngả màu vàng, mỗi làn gió xô tới là hàng loạt hoa xoắn nhau quay tít rồi la đà rơi xuống. Sân trường rải rác những chùm lá màu nâu, quấn quýt bay trên sân, lòng tôi thấy buồn nao nao. Nhìn cây phượng đỏ rực ở sân trường những vần thơ cứ trào tuôn theo từng cánh hoa rơi.
Phượng Vĩ
Phượng đỏ sân trường
Chợt nhìn lên toàn thân em hiển lộ
Sắc đỏ tươi nở rộ cả khung trời
Bên song cửa nhìn em như ngây dại
Tôi yêu em, Phượng vĩ đẹp sáng ngời !
Hồng Bàng, tháng 5-1990
Phượng đỏ sân trường
Phượng vĩ đỏ tươi cười trong nắng
Sân trường rộn rã bóng em thơ
Khăn quàng rực rỡ khung trời mộng
Ánh mắt em ngời xanh ước mơ
Hồng Bàng-20-4-1985
Cơn Mưa đầu mùa
Cơn mưa đầu mùa
Ngàn sương bao phủ
Hàng cây xanh
Hoa phượng vĩ
đỏ tươi cành
Mưa mênh mang bầu trời
êm êm cây xanh tươi
mơn man cơn gió thoảng
thơm mát dịu hồn tôi.
Trường Hồng Bàng 20-4-1985
Kỷ Niệm Màu Xanh
Cho các học trò của cô
Chiều bên dòng sông xanh
Nước trôi nhanh trôi nhanh
Như thời gian đi học
Như kỷ niệm màu xanh
Hoàng hôn in đáy nước
Đỏ thắm cả dòng sông
Như màu hoa Phượng Vĩ
Chợt thấy lòng bâng khuâng.
Trường Hồng Bàng 1984
Tôi đến trường Hồng Bàng vào năm học 1980. Hiệu Trưởng lúc đó là Chị Bùi thị Mạnh, hiệu phó là chị Cẩm, cả hai chị là người miền Nam, thuộc chế độ cũ, nên cách hành xử của các chị vẫn đậm nét văn hóa lịch sự của người Saigon.
Tôi dạy Anh Văn, thuộc tổ ngoại ngữ, cùng tổ với chị Kim Cương, dạy Pháp văn. Sau này khi chị đã đi Mỹ, vẫn hàng năm gửi quà cho chúng tôi, mỗi người được 50.000đ vào dịp gần Tết. Cầm số tiền mà tôi cảm động đến rưng rưng, Tôi cảm ơn lòng hảo tâm của chị đã giúp tôi bù đắp thêm vào ngày tết. Dù chị ở bên đó hàng ngày vẫn phải đi làm ở Viện Dưỡng Lão, vất vả, nhưng chị vẫn không quên những đồng nghiệp trong tổ Ngoại Ngữ Hồng Bàng còn đang gặp khó khăn với đồng lương không đủ sống.
Trường Hồng Bàng là ngôi trường lớn của Quận 5, một quận giàu có nhất Saigon. Dân ở đây đa số là thương nhân người Hoa, và các thành phần viên chức, các học sinh thuộc thành phần khá giả, nên các cháu thường ngoan ngoãn.
Ban giáo viên của trường phần lớn là thầy cô giáo thuộc chế độ cũ, chuyên môn vững vàng, phong cách sinh hoạt mang nét văn hóa đặc trưng mô phạm nên hàng năm thường đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp thành phố.
Trong trường, gia đình tôi và chị Vũ thị Kim Oanh dạy sinh vật là có tài chánh khó khăn nhất. Gia đình tôi có 7 con nhỏ, sức khỏe Ba các cháu không ổn, nên không giúp được nhiều. Gia đình chị Oanh có 5 cháu. Chồng chị là anh Dương Hùng Cường là một đại úy sĩ quan không quân bị cộng sản bắt nên chị vừa phải nuôi năm cháu còn đi học, vừa phải nuôi chồng đi học cải tạo. Anh cũng là nhà văn, bút hiệu Dê Húc càn, còn một bút danh nữa tôi quên rồi. Thời gian sau anh được xuất trại, trở về gia đình với tấm thân tiều tụy. Anh là một người đàn ông có nghị lực và tinh thần trách nhiệm, anh hết lòng giúp chị Oanh trong công việc bán hàng vặt cho học sinh trong căng tin nhà trường vào giờ ra chơi cùng với hai cô con gái lớn chị Oanh. Còn phần tôi, cũng có gian hàng nhỏ ở Căng tin, gồm các mặt hàng như các loại bánh tiêu, bánh bò, bánh mì cùng kẹo,ô mai và vài thứ bánh khác cùng một tô lớn sương sáo bán cho học sinh. Sau tiếng kẻng báo giờ ra chơi, tôi phải chạy vội từ trong lớp ra dọn hàng bán căng tin. Việc bán căng tin này kéo dài được ba năm. Sau đó tôi quyết định kiếm việc buôn bán khác để nuôi gia đình.
Tôi ra Chợ Lớn, đường Lương Nhữ Học, gần trường Hồng Bàng, tìm hiểu thêm về sinh hoạt của mọi người. Thấy người đi kẻ lại rất đông, đa số họ chở những thùng thuốc lá, bán cho những cửa hàng thuốc lá bày bán dọc theo con phố. Tôi ghé vào gian hàng người Bắc, bà cụ có dáng dấp thanh lịch giống người Hà Nội cũ, tôi hỏi thăm cách buôn bán thuốc lá như thế nào để tôi một giáo viên nghèo đông con có thể kiếm thêm chút lời.
Bà cụ nhìn tôi ái ngại, chia sẻ với tôi những khó khăn của nghề buôn bán, cũng như nỗi u uẩn của bà được dấu kín từ nhiều chục năm nay: Các cô ở trong Nam mới chịu khổ gần chục năm nay thôi, còn chúng tôi ở ngoài Bắc, đầu sóng ngọn gió,chịu biết bao cảnh cơ cực, nào chiến tranh, nào chế độ độc tài áp bức, cướp đoạt tài sản, cướp đoạt tự do của người dân. Hàng xóm phải dè chừng lẫn nhau, nhà có miếng thịt gà bữa cơm cũng phải dấu diếm , họ mà biết được, sẽ báo cáo với tổ dân phố, , thế là gia đình bị mang ra phê bình, dồn nén chúng tôi sống trong căn nhà tù ngay chính quê hương mình.
Nét mặt bà thật buồn, đôi dòng nước mắt thấm ướt hàng mi. Tôi nắm bàn tay gầy của bà để chia sẻ nỗi buồn với bà, hay của chính bản thân tôi, nói nhẹ:
-Thôi cụ ạ, đó là một đại họa của quê hương. Cháu và cụ chỉ là những phụ nữ sức yếu, trí nhỏ. Cháu phải nuôi đàn con thơ cho các cháu đủ no và đi học. Cháu không nghĩ thêm nữa cho hại cái đầu.
Từ đó, tôi được bà cụ chỉ cho cách mua thuốc đủ loại từ cửa hàng bà rồi đi bỏ mối cho các tủ thuốc bán lẻ, các quán nước dọc đường, và cả các Căng Tin trường đại học nữa. Cuộc sống gia đình tôi cũng tạm ổn.
Hàng ngày tôi vẫn đến trường dạy học, được hưởng không gian rất đẹp, thơ mộng của sân trường, được tiếp xúc với đàn học sinh ngoan ngoãn hồn nhiên. Tôi không quên lòng biết ơn vài Thầy Cô cùng bộ môn và nhất là chị hiệu trưởng Bùi thị Mạnh, chị luôn quan tâm đến giáo viên còn khó khăn, có lần chị đã xin riêng cho gia đình tôi một bao gạo trắng vì tôi đông con quá. Chị động viên tinh thần tôi bằng những lời khen ngợi.
Một hôm chị đến sinh hoạt với tổ Ngoại ngữ, nói với chúng tôi: Gia đình chị Thuần rất đông con, chồng chị mất sức lao động, một mình chị phải gồng gánh nuôi hết cả nhà. Vậy mà chị nghiêm túc trong giờ đứng lớp, thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của một giáo viên, và đặc biệt Mạnh chưa bao giờ thấy chị buồn, nhăn nhó cáu gắt với học trò, nét mặt luôn khoan dung, tươi cười. Chị là tấm gương sáng cho Mạnh noi theo.
Cảm ơn chị Mạnh, cô hiệu trưởng giàu lòng nhân ái với giáo viên đồng nghiệp. Trong những năm chị làm Hiệu Trưởng, luôn đạt danh hiệu trường Tiên Tiến cấp Thành Phố. Vài năm sau chị xin nghỉ. Những giáo viên khác được cử đến trường thay thế chị một thời gian, từng người đến rồi đi.
Cuối cùng, vào năm học mới, cô Võ thị Bướm nhận chức hiệu trưởng và trụ lại rất lâu. Cô còn rất trẻ, dáng vẻ tinh anh, hoạt bát, tính cách năng nổ. Cô rất nhiệt tình lo cho đời sống giáo viên về phương diện nhu yếu phẩm. Lúc bấy giờ, Thầy Tài dạy sinh vật làm Tổ Trưởng Công Đoàn nhận thấy tôi không có nhà để ở, nên đề nghị cô Bướm cho tôi làm Trưởng Ban Đời Sống để được hợp pháp ở căn nhà bảo vệ ngay cổng trường. Thế là tôi, một cô giáo dạy học, lại kiêm thêm chức người phụ trách về đời sống cho toàn thể khối giáo viên và công nhân viên trên một trăm người.
Vài chị giáo viên dạy công dân, sử địa người miền Bắc phản đối, nói người phụ trách Ban Đời sống phải khôn lanh, tháo vát, sao lại cử người hiền lành, chậm chạp như chị Thuần!. Nhưng cô Hiệu Trưởng Bướm tin tưởng tôi, nên vài ý kiến phản đối được thông qua.
Thế là hàng tháng tôi phải đi mua nhu yếu phẩm cho trường. Giờ ra chơi, các Thầy Cô đến Ban đời sống nhận phần thực phẩm của mình. Nhìn thấy cảnh một số cô giáo dành giật nhau những phần ngon, tôi ngỡ ngàng và vỡ mộng. Tôi đã từng thần tượng Thầy cô giáo, nghĩ rằng phẩm hạnh của họ nên là phẩm hạnh đáng kính trọng của nhà mô phạm. Nhưng qua những lần phân phối nhu yếu phẩm, tôi đã nhìn ra bản chất từng người. Chế độ hà khắc, bóc lột và hoàn cảnh nghèo đói đã làm con người trở nên bủn xỉn, bần tiện với nhau. Có lần tôi nói với Thầy Tài và cô Hiệu Trưởng, cho tôi rút khỏi Ban Đời Sống để tôi còn tiếp tục làm Thơ. Thầy Tài nói rằng: Chị muốn ra khỏi Ban Đời Sống để làm Thơ, thì chị phải ra khỏi căn nhà này.
Vì để có câu trả lời cho vài chị giáo viên đòi lấy lại căn phòng, Thầy Tài và cô Hiệu trưởng đề nghị sẽ mua một con heo nhỏ về trường để tôi nuôi, cho dịp Tết mọi người có thịt heo ăn. Vì muốn ở lại căn nhà, tôi đành chấp nhận.
Hè qua, Thu tới, Những cánh hoa Dầu Rái trong sân bắt đầu cuốn bay theo từng cơn gió heo may. Tôi đi chầm chậm trong sân, nhặt từng cánh hoa ép vào lòng mà thấy nao nao nhớ lại tuổi xuân thì, hồi tưởng lại những ngày thật vui đi sinh hoạt theo đoàn sinh viên của Thầy Nhất Hạnh, làm từ thiện ở làng Cầu Kênh. Giờ cuộc sống hiện tại tôi phải làm việc hết mình, bộn bề trăm việc để nuôi một gia đình chin miệng ăn và người chồng mất sức lao động.
Nhưng trong tôi luôn có niềm tin tưởng vào Đức Phật, vào Thầy Nhất Hạnh, và nhất là mẹ tôi. Tôi chỉ xin tôi có đủ nghị lực để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Tôi không muốn mình bị gục ngã, tôi tìm lối thoát cho bản thân bằng những vần thơ, những phút giây mơ mộng, thả hồn vào thiên nhiên, hưởng những phút giây bình an trong việc làm Từ Thiện.
Trong cuốn sách Nẻo Về Của Ý của Thầy Nhất Hạnh, có tả về cảnh gói nồi bánh chưng ở rừng Phương Bối trên Cánh rừng Đại Lào Bảo Lộc. Dưới ngòi bút tươi mát, Thầy tả cảnh gói bánh chưng của thầy, cùng các sư chú rất vui vẻ ấm áp, cùng với sự trợ giúp, tham gia của nhà văn Lý Đại Nguyên. Anh là người Bắc Ninh, gói bánh chưng rất khéo. Anh rất yêu quê hương, có khuynh hướng chống đối những điều bất công đang xảy ra trong xã hội. Trong buổi gói bánh chưng, anh Nguyên đã ngâm giọng trầm buồn hai câu thơ:
Nếu ngày về khung trời đổ vỡ
Thì tìm em trong tận đáy hồn anh.
Nhưng sau đó, Thầy Nhất Hạnh lưu vong và Rừng Phương Bối tan vỡ.
Mỗi đợt Tết sắp về, tôi sẽ đi mua gạo nếp, đậu xanh, đường, thịt heo để làm nhu yếu phẩm cho Giáo Viên dành cho ngày Tết. Con heo mà tôi được giao cho nuôi giờ đã được sáu tháng, nếu làm thịt chắc mỗi giáo viên sẽ được một ký, còn có thể gói bánh chưng nữa. Tôi đem ý tưởng gói bánh chưng với cô Bướm. Tết này mỗi Thầy cô giáo có được cặp bánh chưng mang về, chắc mọi người sẽ mừng lắm.
Cô Bướm ôm chầm lấy tôi, giọng xúc động: Thời gian này mà chị còn nghĩ đến mọi người, em cảm động lắm.
Thế là kế hoạch gói bánh chưng vào dịp Tết được đem ra thảo luận vào buổi họp Hội Đồng thứ Năm. Mọi người đều vui vẻ đồng ý. Tuy nhiên cũng có vài cô giáo phản đối, nói rằng họ cần gạo nếp, đậu xanh để nấu xôi chè cúng ngày Tết, hơn nữa họ rất bận, không thể nào đến trường để phụ trong việc gói bánh được.
Cô Bướm năng nổ đi mượn hai nồi nấu bánh chưng. Cô phân công các giáo viên nữ phải thay nhau đến trường để hoàn thành việc gói bánh, phân công người đi mua lá dong, lạt tre gói bánh. Cô hỏi ý kiến tôi phải chuẩn bị những gì trong việc nấu bánh, như ngâm gạo nếp, đậu xanh thời gian bao lâu. Tôi ngẩn người ra nói rằng từ bé đến giờ tôi chưa từng gói bánh, nên tôi không biết phải làm sao cả.
Cũng rất may mắn, trường có chị Vũ thị Kim Oanh, dạy sinh vật, là người Bắc kỳ di cư. Chị nhiệt tình chỉ dạy từng người gói chiếc bánh sao cho đẹp. Cuối cùng thì 150 cặp bánh chưng cũng xong. Bánh được xếp vào hai chiếc thùng lớn, phần nấu bánh chưng dành cho hai mẹ con tôi phụ trách. Ngày 28 Tết, bánh được thầy Đại và thầy Ngô, dạy thể dục vớt ra, xếp trên các mặt bàn rồi ép bánh cho khô ráo. Cô Hiệu Trưởng lựa những gói bánh đẹp mang đi biếu cơ quan trong Quận Năm, rồi lần lượt mỗi Thầy, Cô nhận cặp bánh mang về. Nhìn nét mặt vui tươi của các bạn đồng nghiệp mà tôi thấy ấm lòng.
Cuộc sống luôn thay đổi, năm sau cô Bướm phải thuyên chuyển sang trường khác, Thày Tài cũng thôi chức trưởng Công Đoàn, số phận tôi cũng không thoát khỏi hậu quả của việc dịch chuyển đó. Thầy Tiến về làm Hiệu Trưởng, yêu cầu tôi phải dọn đi khỏi căn nhà. Tôi biết đi đâu bây giờ…Giữa cơn khốn khó, thì Thầy Tài liên hệ với Công Đoàn Giáo Dục quận Năm, xin cho tôi được một căn phòng ở chung cư Soái Kinh Lâm, số 447 đường Trần Hưng Đạo B. Thế là từ đó tôi có chỗ dung thân, hàng ngày bước chân lặng lẽ đến trường Hồng Bàng, dạy bao thế hệ học sinh với tình thương yêu tôi dành cho các em và ngôi trường thơ mộng đầy kỷ niệm đó.
TẤM LÒNG CỦA BIỂN
Sau cái ngày giải phóng 1975, đất nước Việt Nam bị chìm trong đói khổ do chính sách ngăn sông cấm chợ. Hầu hết tài sản của dân chúng đều bị quốc hữu hóa thành của cải của nhà nước cộng sản. Tất cả sĩ quan, công chức chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị kêu gọi ra trình diện để học tập chính sách mới, nói nôm na là đi học tập cải tạo.
Mỗi người ra trình diện chỉ mang theo một bộ quần áo, khăn mặt, kem và bàn chải đánh răng. Thời gian học tập 15 ngày. Yêu cầu mọi người chấp hành nghiêm chỉnh để những khóa học tập thành công viên mãn.
Trên các nẻo đường thành phố, những tấm băng màu đỏ dán đầy những lời kêu gọi sĩ quan ra trình diện học tập với những lời thân thương, xây dựng, đoàn kết. Mọi người ai nấy mừng thầm trước tấm lòng độ lượng của người anh em miền Bắc, rủ nhau ra trình diện để sớm ổn định cuộc sống.
Các sĩ quan, tuyên úy tôn giáo, các giám đốc, bộ trưởng, công chức cao cấp, văn nghệ sĩ… được phân loại ra từng nhóm học tập, rồi sau đó được chở đến những trại cải tạo tập trung khắp miền đất nước. Những thành phần sĩ quan cấp Tá, Tu sĩ, Tâm lý chiến, Văn nghệ sĩ được chở ra vùng miền núi ngoài Bắc, đầy ải khốn khổ, có nhiều người đã bỏ xác nơi rừng thiêng nước độc. Dù Đảng hứa là học chỉ vài tuần hay vài tháng, nhưng trên thực tế, có rất nhiều sĩ quan bị bỏ tù từ 3 năm, hay 10 năm, hay cả gần 15 năm mới được thả về.
Người dân thất nghiệp, buôn bán thì khó khăn vì dân chúng không có tiền. Đời sống bế tắc, không có lối thoát, mọi người có tiền thì rủ nhau vượt biên để tìm tự do, sinh tồn, dù họ biết rằng con đường vượt biên rất nguy hiểm, có thể đi vào cõi chết. Nhưng ở lại, họ sẽ bị chết dần vì chế độ khắc nghiệt, vì chết đói cả nhà, thế nên họ liều mình ra đi.
Khoảng năm 1980, sau khi liên lạc lại được với tôi, cứ ba tháng chị Cao Ngọc Phượng gửi cho tôi một ký thuốc tây theo đường bưu điện. Bắt đầu từ thùng thuốc thứ nhất của chị gửi về, và tôi đã tự nguyện san sẻ quà cứu trợ đó, tôi đã bước một bước đầu tiên đi vào con đường làm từ thiện, chung tay góp sức với Thầy và Chị để cứu giúp người nghèo khó.
Đến lần thứ hai, chị gởi hai hộp thuốc. Chị viết:
Chị gửi thêm cho em một hộp để giúp người nghèo, còn hộp thuốc kia chị cho các cháu, Em mua thịt, cá cho các cháu ăn cho đủ sức khỏe.
Đọc lá thư dài chị viết cho các cháu thật chân tình, tôi đã khóc. Chị ơi, chị là vị bồ tát đến cứu giúp gia đình em và những người hoạn nạn trên quê hương này. Em sẽ theo tấm gương của chị, đem những gói quà của chị đến những vùng kinh tế mới, đến những vùng xa xôi để cứu giúp những mảnh đời nghèo khó.
Trở về cuộc sống hàng ngày, tôi vẫn là một cô giáo nghèo. Ngoài giờ dạy học tôi phải buôn bán đủ thứ, bỏ mối thuốc lá cho các quầy thuốc bên lề đường, cho các căng tin trường đại học. Vì vật lộn với hoàn cảnh nghèo khó chung với biết bao người khốn khổ chung quanh, tôi đã thấy các sinh viên từ dưới quê lên, lam lũ nghèo khó, đôi mắt thiếu tinh anh trên khuôn mặt da tái xanh. Có em bố đang đi học cải tạo, mẹ phải thức khuya dậy sớm buôn bán nuôi đàn em còn nhỏ. Có em từ Bình Định, Quảng Ngãi đến, trồng lúa, làm vườn nhà không đủ ăn, thế mà có năm, mùa mưa lũ đã cuốn sạch ruộng vườn.
Nghe các em nói chuyện mà tôi thấy nghẹn lòng. và tôi cảm thấy mến mộ sự cố gắng vươn lên của các em. Các em kể tôi nghe, ở nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế có cấp học bổng cho sinh viên, nhưng các em mỗi sáng chủ nhật phải đến nhà thờ đọc kinh cầu nguyện. Nghe tin đó tôi cũng mừng, nhưng cứ băn khoăn tự hỏi:
– Tại sao bên đạo Chúa làm được điều đó mà bên Phật giáo mình lại không làm được? Đạo Phật rộng lớn lắm mà! Tôi thầm ước ao, giá như có ai giúp mình tiền để cấp học bổng cho sinh viên, học sinh nghèo, dù chỉ cấp cho mười em cũng được, mình sẽ hạnh phúc lắm!
Lời ước nguyện của tôi được đáp trả bằng tấm lòng bi mẫn của cô Trần Kim Liên. Cô hứa sẽ giúp tôi mỗi tháng một trăm ngàn đồng để giúp cho học sinh nghèo.
– Phật ơi, con mừng quá, ngài đã nghe thấy tiếng lòng con, nên ứng hiện vào trái tim mẫn cảm của bà Liên, để giúp con đạt ước mơ có những phần học bổng. Tôi đặt tên chương trình này là học bổng Nhất Không, mượn tên của thầy và sư cô Chân Không, cũng là người chị yêu quý của tôi. Hai vị là người đã giúp tôi bước đầu tiên trong công cuộc làm từ thiện của cả đời tôi sau này.
Tôi mang một danh sách gồm cả tên tuổi, trường lớp của mười em sinh viên, học sinh nghèo học khá giỏi đến chùa Từ Nghiêm, nhờ sư cô Như Tường phát tiền khi các em đến chùa. Các em phải cầm theo thư mời nhận học bổng, ký tên vào danh sách khi nhận tiền, và sư cô thu lại những thư mời dùm tôi. Sau đó, tôi cầm danh sách và thư mời của các em đã nhận tiền mang về trả cho cô Kim Liên.
Việc làm minh bạch của tôi đã khiến cô Trần Kim Vân lưu ý, Bà về Việt Nam, mang theo một ngàn đô la của ông Nguyễn Viết Hoạch, tặng cho chương trình học bổng tôi phụ trách. Chúng tôi cấp cho 10 em, mỗi em năm trăm ngàn đồng, nhận hai lần trong một năm học. Nhưng các em phải làm đơn theo mẫu in sẵn, dán hình góc lá đơn, rồi đưa Ban Giám Hiệu xác nhận kết quả học tập trong năm đó. Trong đơn phải ghi tên người quen có uy tín giới thiệu và ghi tên người bảo trợ.
Sau khi hoàn thành đầy đủ những yêu cầu đã quy định, các em sẽ cầm thư mời của chúng tôi đến chùa Giác Sanh ở quận 11, cùng với lá thư các em viết để cảm ơn người bảo trợ. Chúng tôi yêu cầu các em viết rõ trong thư đã nhận đủ số tiền học bổng của năm ấy là năm trăm ngàn đồng trong một học kỳ, tiếp theo là những dòng chữ cảm ơn người ân nhân đó với tấm lòng biết ơn. Sau khi tiếp nhận học bổng, các em ký tên vào danh sách, đưa lại cho thầy Minh Tánh thư cảm ơn và lá thư mời nhận học bổng. Em sẽ tiếp tục nhận học bổng những năm sau, nếu em vẫn tiếp tục đạt được kết quả loại khá trở lên.
Với cách làm việc quang minh chính đại như vậy, chương trình học bổng được uy tín, tiếng tốt đồn xa, các vị hảo tâm tìm đến cô Vân, trao gửi cô những phần học bổng cho các em sinh viên nghèo hiếu học nơi quê nhà.
Học bổng tăng lên rất nhanh. Tất cả những hồ sơ xin học bổng được gửi sang Mỹ cho cô Kim Vân đều được các nhà hảo tâm nhận bảo trợ cho các em. Số sinh viên lên tới 70 em ở Sài Gòn, Huế 20 sinh viên và Hải Lăng Quảng Trị 20 học sinh.
Công an theo dõi chúng tôi, họ đến tìm thầy Trụ trì chùa Giác Sanh, yêu cầu phải ngừng cấp học bổng cho sinh viên, học sinh nghèo hiếu học vì chùa không có giấy phép.
Cùng lúc đó ông hiệu trưởng trường Hồng Bàng gặp tôi, nói rõ công an họ đang theo dõi. Ông khuyên tôi: Các em không có học bổng của cô, chúng vẫn tiếp tục việc học. Còn cô, nếu cô không ngừng, họ yêu cầu nhà trường cho cô nghỉ dạy, và cô còn có thể liên lụy đến pháp luật vì cô đang nhận tiền của Việt Kiều bất hợp pháp.
Tôi suy nghĩ, lời khuyên của ông hiệu trưởng cũng đúng, nếu tôi cứ tiếp tục, tôi sẽ bị thôi dạy học, ai sẽ nuôi bảy đứa con tôi? Nhưng cũng vào tối hôm đó, tôi nhận được lá thư của em sinh viên từ Quảng Trị. Em đang học vi tính, lại bị tai nạn, hư một cánh tay. Em vừa thi đậu vào đại học, nhà rất nghèo, cha mẹ em già yếu, em xin tôi giúp em một phần học bổng để em tiếp tục theo học.
Tôi băn khoăn, không ngủ được. Khó khăn lắm tôi mới tạo nên được chương trình học bổng giúp đỡ các em sinh viên, học sinh nghèo. Nếu bây giờ vì sợ hãi mà tôi hủy bỏ nó, các em đang được giúp đỡ sẽ bị mất niềm tin, các em nghèo khác sẽ không được giúp đỡ vượt qua khó khăn. Tôi chắp tay xin đức Quán Âm giúp tôi may mắn để vượt qua cơn thử thách này.
Công an họ gợi ý cho tôi: Cô muốn phát học bổng hợp pháp, cô phải cộng tác với hội Khuyến Học, hoặc hội Phụ Nữ, báo Tuổi Trẻ… Cô không thể làm với tư cách cá nhân.
Tôi nghĩ đến Thượng tọa Thích trí Quảng, thầy hiện đang là Trưởng ban Hoằng Pháp Phật giáo Việt Nam, là chủ nhiệm tuần báo Giác Ngộ, tôi sẽ đến xin thầy giúp đỡ. Tôi không quen biết thầy Trí Quảng, nhưng tôi vẫn đến chùa Ấn Quang gặp thầy. Tôi thưa với thầy những khó khăn tôi đang gặp phải vấn đề pháp lý về chương trình học bổng cho các em sinh viên học sinh nghèo do tôi phụ trách. Tôi xin thầy đỡ đầu cho học bổng này với tư cách Ban Từ Thiện chùa Ấn Quang. Thầy đồng ý. Thầy cấp cho tôi cái thẻ là thành viên của Ban Từ Thiện. Tôi xin thầy đứng ra phát học bổng cho sinh viên, học sinh nghèo. Thầy đồng ý.
Thế là chương trình học bổng Nhất Không do cô Trần Kim Vân phụ trách bên Mỹ phát triển rất nhanh. Tôi liên hệ với chùa các tỉnh ngỏ ý giúp cho các cháu sinh viên học sinh nghèo vùng bão lụt những phần học bổng cho đến lúc ra trường, với điều kiện các em phải đạt loại khá, giỏi, đạo đức tốt. Các em sẽ viết vào đơn xin học bổng, có dán hình, dấu xác nhận của Ban Giám Hiệu, rồi tôi sẽ chuyển những đơn ấy sang Mỹ, qua cô Trần Kim Liên làm thủ quỹ của chương trình.
Thời gian sau, cô Vân xin được người bảo trợ cho các em, tôi lên danh sách rồi báo cho các đơn vị chùa ở các địa phương, biết ngày tôi sẽ ra phát học bổng. Đồng thời, tôi sẽ viết thư báo các em ngày giờ phát học bổng. Khi đi nhận học bổng, em mang theo thư mời nhận học bổng và lá thư cảm ơn người bảo trợ (có ghi tên) trong thư. Em ghi rõ số tiền nhận được và địa chỉ.
Do cách làm việc rõ ràng ấy mà chúng tôi đã giúp được rất nhiều học bổng cho các em ở các tỉnh vùng bão lụt như Hải Lăng Quảng Trị, Huế, Quảng Ngãi, Nha Trang, Cam Ranh, Phan Rang, Đà Lạt, Di Linh, Đambri Bảo Lộc, Lộc Tân, Làng Phong Quy Nhơn, Sài Gòn, Tăng ni sinh Trung cấp Phật học Phan Rang…, viện Đại học Phật giáo TP.HCM.
HỌC BỔNG HIỂU VÀ THƯƠNG
Thời gian sau, sư cô Chân Không, tức là chị Cao Ngọc Phượng, giờ đã xuất gia – thuộc Tăng thân Làng Mai bên Pháp gửi về cho chương trình gồm 100 suất học bổng toàn phần, 600.000đ/1 năm/1 sinh viên và 100 xuất bán phần 250.000đ/1 năm/1 học sinh.
Với số học bổng nhiều như vậy, Thượng tọa Trí Quảng đề nghị chuyển số học bổng này sang báo Giác Ngộ, và đặt một tên khác cho hợp pháp lý.
Tôi viết thư trình bày sự việc cho sư cô Chân Không và xin thầy Nhất Hạnh đặt cho chương trình học bổng một tên mới thay vì tên cũ Nhất Không. Thế là thầy đặt cho tên Học bổng Hiểu và Thương. Hiểu và Thương được chính thức xuất hiện ở Miền Nam từ đó – năm 1990.
Ban điều hành chương trình Học bổng Hiểu và Thương được thành lập tại báo Giác Ngộ tháng 2-1990.
Thượng tọa Thích Trí Quảng: Trưởng ban Học bổng.
Bác Tống Hồ Cầm: Chánh thư ký
Bà Trần Kim Liên: Thủ quỹ
Bà Phan Thị Thuần: Điều hành chung
Sau khi thống nhất ý kiến trong buổi họp, Ban điều hành quyết định cấp 10 suất học bổng 600.000đ/1 sinh viên cho mỗi trường Đại học. Tổng cộng 100 suất cho mười trường, gồm có:
1/ Đại học Y dược – 2/ Đại học Bách khoa – 3/ Đại học Sư phạm – 4/ Nhạc viện Thành phố – 5/ Kịch nghệ, Sân khấu – 6/ Đại học Kinh tế – 7/ Đại học Hội họa – 8/ Đại học Nông nghiệp – 9/ Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo – 10/ Đại học Tổng hợp.
Như vậy Hiểu và Thương đã cấp cho sinh viên giỏi, gia đình khó khăn, mười trường đại học, đủ các ngành nghề trong Thành phố Hồ Chí Minh. Tất cả đơn của sinh viên đều có dán ảnh, có giấy xác nhận kết quả học tập cuối học kỳ của Ban Giám hiệu.
Học bổng bán phần 250.000đ/1 học sinh, Hiểu và Thương đã cấp bốn trường Trung học, mỗi trường 50 suất cho học sinh khá giỏi.
1/ Trường Lê Hồng Phong; 2/ Trường Nguyễn Du; 3/ Trường Đồng Tiến; 4/Trường Nguyễn Thị Minh Khai.
Danh sách học sinh các trường phải ghi rõ học lực khá, giỏi, có hoàn cảnh khó khăn, có dấu xác nhận của Ban Giám hiệu.
Ngoài số học bổng của Làng Mai tặng các trường Đại học và Trung học ở Sài Gòn, chúng tôi dành riêng 70 suất học bổng 600.000đ/1 học sinh do cô Trần Kim Vân tài trợ cho các em do quý đạo hữu giới thiệu hoặc các em nộp đơn trên báo Giác Ngộ.
Ngày 01 tháng 4 năm 1990 là ngày phát học bổng lần đầu tiên cho 370 sinh viên, học sinh của chương trình Học Bổng Hiểu Và Thương của báo Giác Ngộ, được tổ chức trang trọng tại chùa Xá Lợi, dưới sự chủ tọa của Thượng tọa Thích Trí Quảng, cùng với sự tham dự của Ni sư Tịnh Nguyện, Thượng tọa các chùa thân cận, hiệu trưởng các trường Đại học và Trung học, sinh viên, phụ huynh học sinh được nhận học bổng, và phóng viên báo chí trong thành phố. Buổi tổ chức đơn giản, nhưng thấm đượm tình người.
Tôi chắp tay cảm ơn Trời Phật, cảm ơn thầy Nhất Hạnh, sư cô Chân Không, bà Trần Kim Vân, và các nhà hảo tâm bên kia bờ đại dương, Dù xa ngàn dặm, nhưng quý vị vẫn hướng về Việt Nam, trao tình thương chân thật cho đồng bào, cho thế hệ trẻ ở quê nhà, để cùng xây dựng tương lai quê hương Việt Nam độc lập, nhân bản và phú cường. Và đặc biệt, chúng tôi cảm ơn bà Trần Kim Liên đã giúp 100.000đ mỗi tháng vào thời kỳ khởi xướng. Mặc dù số tiền tuy khiêm nhường, chỉ giúp được 10 học sinh, nhưng đó chính là viên than hồng giúp nhen nhúm bừng cháy lên bó đuốc Hiểu Thương lan tỏa ra mười mấy tỉnh miền Trung, Hà Nội và cao nguyên Nam Trung Phần. Niềm vui đong đầy trong trái tim và ánh mắt. Thầy Đạt Đạo, thư ký Viện Đại học Phật giáo, đã vỗ vai tôi, vui vẻ nói: Chị Thuần ơi, chị đã mang lại niềm vinh dự cho Phật giáo Việt Nam!
Tôi cúi đầu, cảm ơn lời khích lệ của thầy.
Sài Gòn sáng nay thật êm dịu. Từng tia nắng vàng óng chảy qua hàng cây xanh nhảy nhót trên đường Bà Huyện Thanh Quan. Tôi ngẩng lên nhìn hàng cây cao, xuyên qua kẽ lá từng cụm mây trắng bay lang thang, thả hồn tôi vào đất trời cao rộng. Tôi thầm gọi anh linh tổ tiên, anh linh các bậc tiền bối quê hương, thành tâm cảm ơn các vị đã giúp cho tôi đạt được mơ ước có được những học bổng cho các em sinh viên – học sinh nghèo hiếu học. Tôi xin nguyện với quý ngài, dù bước đi trải qua nhiều gian khó, nhưng tôi vẫn quyết bền tâm tiến bước.
Bà Trần Kim Vân sống ở bên Mỹ, pháp danh Chân Bảo Tràng, là một đệ tử cư sĩ thuần thành của thiền sư Nhất Hạnh. Bà tích cực tham gia sinh hoạt vào Tăng Thân, nên quen biết và được nhiều đạo hữu quý mến. Bà làm từ thiện với tình thương rộng mở, không quản ngại khó khăn. Mặc dù mang thân bệnh ung thư dạ dày, nhưng bà vẫn miệt mài tìm người bảo trợ cho các em sinh viên, học sinh nghèo hiếu học ở quê nhà.
Bà làm những hồ sơ ghi tên các sinh viên và người bảo trợ rất cẩn thận rồi gửi về Việt Nam cho chúng tôi. Khi tôi nhận đủ tiền, tôi lên danh sách rồi về các địa phương phát học bổng cho các em với sự chứng kiến của sư Trụ trì và Ban Từ Thiện. Tôi thu lại những lá thư mời nhận học bổng và lá thư các em viết cảm ơn người bảo trợ rồi gửi sang Mỹ cho bà Vân. Bà sẽ chuyển hồ sơ và thư cảm ơn tới các vị ân nhân. Chúng tôi đã làm những việc này với tâm thương yêu, không ngại mất thời gian, dù có hôm phải thức khuya để hoàn thành công việc. Ban ngày tôi vẫn đi dạy và bán hàng rong để kiếm gạo nuôi các con tôi.
Tôi không hề lấy bớt số tiền chi phí tem gửi đi ngoại quốc, tiền giấy mực, tiền giao thông đi về các tỉnh. Tôi tự nguyện bỏ ra công sức và tiền bạc của chính tôi vào các chi phí ấy, để cho số tiền học bổng đến các em được nguyên vẹn, để cho các vị mạnh thường quân ủng hộ các em mỗi ngày càng đông thì nhiều em được giúp đỡ. Với tấm lòng vị tha và làm việc tích cực của bà Vân và chúng tôi ở quê nhà, Chương trình Học bổng Hiểu và Thương ở bên Mỹ, Canada, Singapore được rất nhiều nhà hảo tâm hưởng ứng.
Tôi chẳng quản ngại đường sá xa xôi, tôi đã ra tới Hà Nội, đến chùa Quán Sứ để phát học bổng dưới sự hướng dẫn của hòa thượng Thanh Tứ trụ trì. Nơi đây đã để lại trong tôi ấn tượng khó phai nhòa, một chút gì cay cay, một niềm thất vọng khi tôi bước đi chầm chậm trên cầu Thê Húc, nhìn dòng nước trong xanh của Hồ Gươm, lòng nghẹn ngào tôi thầm nói:
– Tổ tiên ơi, Hiểu và Thương bị công an gây áp lực cho con tứ phía. Như một người đuối nước, con quay về Phật giáo tìm sự chở che, mong tìm được chiếc bè, hay thanh gỗ lớn. Nhưng hỡi ôi, con chỉ bám được vào chiếc vỏ sầu riêng khiến tay con chảy máu.
Cũng may lần đó có cháu họ tôi là ông Phan Huy Đính, làm thanh tra Sở Giáo dục đã giúp tôi thoát nạn. Làm từ thiện chân chính cũng khó lắm bạn ơi.
Tuy nhiên, vẫn còn niềm an ủi, tôi đã gặp em Long, một sinh viên ưu tú, vào buổi tối kỷ niệm thành Thăng Long. Em đã ngồi với tôi, trong ánh đèn sáng lung linh, mặt hồ Hoàn Kiếm phản chiếu ánh trăng, và bóng cây dương liễu dưới mặt hồ gợn sóng, kể tôi nghe em mới từ Quảng Trị ra, chuẩn bị tuần sau sang Trung Quốc học tiếng Trung Hoa. Nhà em nghèo lắm, mấy năm qua nhờ nhận học bổng Hiểu và Thương mà em tốt nghiệp đại học. Em ước mơ tương lai, sau khi tốt nghiệp, em sẽ làm thông dịch, có tiền em sẽ về quê giúp ba mẹ già và hai đứa em tiếp tục theo học. Hiện giờ đứa em gái hàng năm vẫn được nhận học bổng Hiểu và Thương. Em mơ ước sau này em sẽ làm được điều gì đó để đền đáp công ơn quý vị.
Tôi thoáng một niềm vui nho nhỏ. Dù sao đi nữa, trên bước đường đi có nhiều sỏi đá, tôi vẫn có những niềm an ủi, khích lệ khi thấy các em nhận được những phần học bổng, giúp các em trang trải học phí. Nhất là để các em thấy được, ngoài cha mẹ, còn có những tấm lòng thơm thảo bên kia bờ đại dương, vẫn hướng về quê nhà giúp đỡ các em được tiếp tục đến trường.
CÂU LẠC BỘ HIỂU VÀ THƯƠNG
Năm 1991, một năm sau khi thành lập chương trình học bổng Hiểu Và Thương, chúng tôi đến gặp Thượng tọa Thích Trí Quảng, xin thầy ký giấy chứng nhận thành lập Câu Lạc Bộ Hiểu Và Thương với tôn chỉ các bạn nhận học bổng gặp nhau mỗi sáng chủ nhật sinh hoạt để trau dồi thêm kiến thức Phật pháp, tìm hiểu thêm về văn hóa đạo đức dân tộc, kết giao tình bạn giúp đỡ nhau trong vấn đề học tập.
Mới đầu thầy từ chối, cho rằng thời gian này không thích hợp để sinh hoạt Câu Lạc Bộ, sẽ gặp rất nhiều rắc rối với công an. Nhưng trước sự giải thích của chúng tôi, có hai bạn, Anh Lạc và Minh Đức sinh viên Đại học Bách khoa, thưa với thầy:
– Đạo Phật đang rất cần có mặt của sinh viên trẻ, để tương lai chùa có sự tiếp nối hàng Phật tử trí thức, góp phần xây dựng đạo pháp theo kịp với thời đại phát triển. Tuổi trẻ chúng con không có cơ hội tiếp cận với quý thầy, nay thành lập Câu Lạc Bộ Hiểu và Thương, quý thầy đến giảng Phật pháp, sinh viên có cơ hội đặt những câu hỏi về giáo lý đạo Phật, nhờ đó chúng con sẽ hiểu đạo Phật một cách sâu sắc, như những đốm lửa lan dần đến các sinh viên, sẽ tạo nên môi trường tốt cho giới trẻ chúng con, mong thầy tạo điều kiện cho Câu Lạc Bộ Hiểu và Thương sinh hoạt.
Trước những lời khẩn cầu của chúng tôi, thầy Trí Quảng đành vui vẻ chấp nhận thành lập Câu Lạc Bộ Hiểu và Thương với nội quy xây dựng đạo pháp trong tinh thần văn hóa dân tộc.
Chúng tôi năng nổ đi tìm địa điểm sinh hoạt. Ngôi chùa đầu tiên chúng tôi liên hệ được là chùa Hưng Phước nằm trên đường Cách Mạng Tháng Tám, quận 3. Vị trụ trì là Hòa thượng Hiển Pháp, thầy tri sự là Thượng tọa Minh Nghĩa. Sau khi nghe chúng tôi trình bày, cả hai thầy đều vui vẻ đồng ý cho mượn khuôn viên nhà chùa vào mỗi sáng chủ nhật.
Buổi sinh hoạt đầu tiên diễn ra vào lúc hai giờ chiều ngày chủ nhật. Có sự tham dự của Thượng tọa Minh Nghĩa và anh Phúc. Cô Trần Kim Liên cho tiền mua bánh kẹo, trái cây, nước cam vắt cho đoàn bồi dưỡng. Buổi họp mặt đầu tiên có 150 bạn tham dự, tạo nên một khí thế sinh hoạt vui vẻ, thân thương.
Chúng tôi đã lên kế hoạch khá chu đáo bằng sự đóng góp công sức của sinh viên đại học Bách khoa như Anh Lạc, Minh Đức, sinh viên Đại học Sư phạm như anh Bản, chị Mỹ Dung, sinh viên Y khoa như anh Nghiệp, anh Tuấn và nhiều thành viên khác của các phân khoa trường Kịch nghệ, Âm nhạc, Hội họa, v.v…
Đề tài được chọn “Sau khi tốt nghiệp đại học, ngoài việc lo cho bản thân, gia đình, đối với quê hương bạn thể hiện lòng biết ơn như thế nào?”
Cuộc thảo luận bằng cách bốc thăm. Mỗi tổ cử một bạn lên cùng thảo luận. Vị hướng dẫn là cô giáo Phạm Phương Loan, giáo viên dạy Văn giỏi cấp ba, trường Trung học Phổ thông Hùng Vương, quận 5, Sài Gòn.
Cuộc hội thảo rất sôi nổi, mỗi bạn một ý kiến, mà ý nào cũng hay.
Sau buổi sinh hoạt, một số bạn nữ ở lại dọn dẹp. Các anh chị lớn ở lại rút kinh nghiệm với cô Thuần và bàn kế hoạch sinh hoạt tuần sau, mời quý thầy trong ban biên tập báo Giác Ngộ về giảng cho các bạn sinh viên.
Thượng tọa Minh Nghĩa yêu cầu phải phát học bổng tại chùa Hưng Phước, điều này khiến bác Tống Hồ Cầm Tổng thư ký báo Giác Ngộ không đồng ý, nên Câu Lạc Bộ Hiểu và Thương không có đất dung thân.
Sau nhiều tuần sinh hoạt luân lưu các chùa, cuối cùng Gia đình Hiểu và Thương đã dừng chân nơi chùa Phật Bảo đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình. Đây là ngôi chùa Nam Tông, có khuôn viên rất rộng, vườn cây xanh thoáng mát. Thầy Chánh Niệm, trụ trì, là một bậc chân tu. Thầy đã mở lòng ra tiếp nhận cho chúng tôi sinh hoạt hàng tuần vào sáng chủ nhật. Nội dung sinh hoạt của Gia đình Hiểu và Thương không thuần túy mang màu sắc Phật giáo. Chúng tôi yêu cầu quý vị giáo sư và quý thầy đến thuyết trình cho sinh viên, mang nội dung đạo đức, văn hóa dân tộc có tính cách xã hội, không đậm màu sắc tuyên truyền chính trị, không đề cao cá nhân chủ nghĩa. Vì thành phần sinh viên nhận học bổng Hiểu và Thương đa dạng, không phân biệt tôn giáo, không phân biệt thành phần xã hội. Thế nên để có kết quả những buổi thuyết trình viên mãn, quý vị giáo sư và Tăng sĩ cũng hoan hỷ chấp nhận.
Chúng tôi mời những vị danh tăng đến thuyết giảng như Hòa thượng Thích Trí Quảng, Hòa thượng Thích Đức Nghiệp, Hòa thượng Thích Giác Toàn, Thượng tọa Thích Chánh Niệm trụ trì chùa Phật Bảo.
Nhằm truyền bá thêm kiến thức sâu rộng về thế gian lẫn Phật pháp, về đạo đức dân tộc và con đường đạo Phật đi vào cuộc đời cho các em của Câu Lạc Bộ Hiểu và Thương, chúng tôi còn mời những giáo sư nổi tiếng như giáo sư Hoàng Như Mai; giáo sư, nhà thơ Trúc Chi; giáo sư Trương Phiên Phiên, Hội Sử học Việt Nam, với mong muốn các vị chỉ thảo luận với sinh viên về đạo đức văn hóa và xã hội. Trong những buổi nói chuyện của các vị danh tăng và giáo sư, các bạn sinh viên được đặt những câu hỏi. Những thắc mắc, ưu tư cá nhân đều được các vị thầy thông tuệ giải đáp một cách khách quan và nhiệt tình.
Ngoài những buổi giảng trau dồi kiến thức Phật học và Thế gian học của các vị thầy, Câu Lạc Bộ Hiểu và Thương còn đề nghị từng nhóm sinh viên, học sinh viết ra những câu hỏi theo chủ đề sinh hoạt, ví dụ Lòng hiếu thảo – Tình yêu Quê hương – Cách ứng xử ngoài xã hội… vào những phiếu bốc thăm.
Mỗi nhóm đề cử ra hai bạn viết những câu hỏi, rồi trộn vào nhau, sau đó bốc thăm những cái phiếu đó, bạn giảng giải, phân tách cách ứng xử thích hợp để đạt được kết quả hợp lý, có thêm phát biểu ý kiến của nhiều bạn. Buổi sinh hoạt sôi nổi, hào hứng khiến các thành viên tích cực tham gia mỗi ngày một đông.
Các bạn đều chia sẻ rất mong mỗi sáng chủ nhật được đi sinh hoạt Câu Lạc Bộ Hiểu và Thương, ở nơi đó tình thương gắn kết với nhau rất chân thành. Có những điều các bạn không thể chia sẻ được với bố mẹ, anh em và càng không thể chia sẻ được với bạn học cùng lớp, vì thành phần phức tạp Đoàn, Đội, sẽ bị xuyên tạc, có hại cho bản thân. Nơi Gia đình Hiểu và Thương kết hợp thành phần sinh viên học sinh khá giỏi của nhiều trường Đại học, phân khoa khác nhau, kiến thức đa dạng, nên các bạn có thể học hỏi lẫn nhau những điều mới lạ.
Gia đình có Ban huynh trưởng do các bạn tự bầu từ các phân khoa Đại học, như Y khoa có anh Tuấn, anh Linh, Bách khoa có anh Lạc, anh Triết Học; Đại học Sư phạm có anh Bản, chị Dung; Kịch nghệ và Âm nhạc có chị Phúc, chị Trinh; Họa sĩ có anh Tùng, anh Quang… Anh Huynh trưởng đầu đàn là anh Trang Thanh Nghiệp bên Nhãn khoa.
Các anh chị huynh trưởng sinh hoạt tích cực, hài hòa, giúp đỡ các em học sinh cấp II, cấp III về kiến thức học tập, về những khó khăn xảy ra trong gia đình… Ơi, biết bao điều tình nghĩa các anh chị em đã dành cho nhau, trang giấy này tôi không thể kể sao cho hết.
Thỉnh thoảng bà Trần Kim Vân có quyên góp tiền về cho Gia đình Hiểu và Thương đi làm từ thiện. Chúng tôi đã đến thăm trại cùi Long Thành, đã phát trợ giúp cho các cụ già cô đơn, các cháu mồ côi ở chùa Diệu Giác quận 2, chùa Hóc Môn…
Mùa Vu Lan, Gia đình Hiểu và Thương tổ chức lễ nhớ ơn cha mẹ, đi thiền hành theo tiếng niệm kinh Nam mô Bồ tát Quán Thế Âm theo nhạc điệu của Tăng Thân Làng Mai, khiến nhiều Phật tử, phóng viên báo chí, và đồng bào lân cận tham dự cảm động. Một anh nhà báo nói với chúng tôi:
– Từ năm 1975 đến giờ, mùa Vu Lan năm nay tôi mới dự một ngày Vu Lan có ý nghĩa như vậy.
Buổi chiều, nhạc văn nghệ mừng ngày Vu Lan được các nghệ sĩ đến giúp vui như Lệ Thủy, Út Trà Ôn… ca sĩ Ngọc Thanh và các sinh viên trường Âm nhạc, Kịch nghệ thành phố biểu diễn các loại nhạc như đàn tranh, sáo, vĩ cầm hòa với giọng hát sinh viên, tạo nên một buổi hội lễ Vu Lan rất sinh động và có ý nghĩa.
Ngoài ra, trước ngày Rằm Tháng Bảy, Đoàn sinh viên Gia đình Hiểu và Thương đã đến tặng quà cho các cụ trong trại Người Già quận Hố Nai, các bạn đã mang đàn ghi ta, thay nhau hát những bài về Mẹ, về quê hương, lòng hiếu thảo của các con. Các cụ khóc, nói với các em rằng nghĩa cử của Gia đình Hiểu và Thương đã mang lại tình thương yêu làm ấm lòng các cụ. Quà thì có những đoàn thể đến thăm cho nhiều, nhưng sự có mặt của Gia đình Hiểu và Thương đã giúp các cụ cảm nhận được tình thương của con cháu.
Trang giấy nhỏ bé không thể viết hết những cảm xúc của các em trong những chuyến đi làm từ thiện.
(Còn Tiếp)
