TRỞ VỀ LÀNG
Chuyến bay hàng không Việt Nam hạ cánh xuống Charde Gaulle Airport vào lúc trời vừa sáng. Khí trời Paris se lạnh trong cơn mưa cho tôi một cảm giác dễ chịu. Tôi đã đặt vé xe lửa từ Paris đi Bordeaux tuần trước, nhưng gặp phải lúc công nhân xe lửa Pháp đình công, nên chuyến tàu của chúng tôi bị hủy. Phòng bán vé phải chuyển chúng tôi sang chuyến khác. Thế là từ những hành khách có vé chính thức, chúng tôi trở thành kẻ đi chui. Vừa mới ngồi xuống chưa yên chỗ đã bị khách có số ghế mời đứng dậy; cứ như thế, chúng tôi bị mời ra khỏi chỗ 4 lần. Những chuyện nhỏ tuy làm tôi hơi khó chịu, nhưng nghĩ đến giây phút sắp được về Làng, gặp thầy và Tăng thân là tôi lại thấy niềm vui khỏa lấp.
Do hãng xe lửa đình công, đến Bordeaux chúng tôi phải bỏ xe lửa, đi xe buýt đến Saint Foy. Đi xe buýt cũng vui, xe chạy qua những con đường làng quê láng phẳng, hai bên đường là những vườn nho thẳng tắp, xanh mướt đến tận cuối trời.
Bây giờ là đầu tháng sáu, tôi nhìn hai bên bờ để tìm hoa hướng dương, chẳng thấy một cây hoa dù rất nhỏ. Tôi cảm thấy một nỗi buồn man mác. Cánh đồng hoa hướng dương rực rỡ là một trong những kỷ niệm đẹp thuộc về quá khứ mỗi khi tôi trở về Làng.
Trải bao sóng gió đổi thay, sau khi tôi về hưu, giã từ các con tôi, mái trường Hồng Bàng và những học trò thân thương, tôi đã sang Làng Mai, cầu xin thầy Nhất Hạnh thế phát cho tôi xuất gia vào ngày 26 tháng 10 năm 1998. Đó là ngày sinh nhật thứ hai của tôi, ngày trọng đại của cuộc đời tôi.
Thầy đã đưa tôi đi trên con đường hạnh phúc mà nửa cuộc đời son trẻ tôi chưa tìm thấy. Nơi thầy sinh ra tôi là Làng Mai – tôi đã khóc rất nhiều vì cảm động. Tôi đã tìm thấy hình bóng mẹ tôi nơi thầy. Tôi đã tìm thấy Làng, thấy quê hương tâm linh của tôi, trong đó có thầy, có các sư chị, sư anh, sư em đang bao quanh, đùm bọc, che chở những tâm hành bất ổn của tôi, cho tôi tình huynh đệ, thương yêu thật sự.
Xe buýt đã đến nhà ga Saint Foy, đi chung xe với chúng tôi gồm có rất nhiều thiền sinh từ khắp các nước Á, Âu, Mỹ… về dự khóa tu. Ra đón chúng tôi có các sư cô Giác Nghiêm, sư cô Từ Nghiêm và vài sư em ở Tu viện Bát Nhã Bảo Lộc. Gặp nhau niềm vui cứ dâng trào, xa nhau bao nhiêu năm rồi mà tôi thấy mọi người không già đi, vẫn tươi trẻ, nét thảnh thơi tỏa sáng trong mỗi bước chân.
Chúng tôi được đưa về Xóm Mới, nơi mà tôi được xuất gia, được sống những tháng ngày hạnh phúc trong tình yêu thương của thầy và Tăng thân. Sang dự khóa tu Tiếp Hiện có khoảng 20 vị Tiếp Hiện Việt Nam, có mặt đủ từ các tỉnh Huế, Nha Trang, Sài Gòn. Mọi người đều lớn tuổi, nhưng ai nấy đều quên cái mệt sau một chuyến bay dài, hớn hở tay bắt mặt mừng.
Thiền sinh các nước về dự khóa tu 21 ngày rất đông, có khoảng hơn 400 người. Các sư cô Tuệ Nghiêm, Định Nghiêm, thầy Pháp Dung và các giáo thọ cư sĩ thay nhau lên chia sẻ những kinh nghiệm tu học rất sâu sắc, cảm động, khiến nhiều giọt nước mắt rơi lã chã. Tôi rất phấn khởi vì thấy năng lượng tu học vẫn giữ được nguyên vẹn – dù không có thầy. Điều này chứng tỏ các con thầy đã trưởng thành. Tăng thân đã vững mạnh đi khắp nẻo đường thế giới truyền bá pháp môn Thiền Chánh Niệm mà đức Từ Phụ Bổn Sư Thích Ca khai sáng. Thầy và Tăng thân chỉ làm mới thêm để hợp với thời đại-mà đạo Phật gọi là khế lý-khế cơ thôi.
Một tuần trước khi chuẩn bị về Làng Mai, tôi đã nghe rất kỹ quyển sách thầy đã viết bằng cả cuộc đời ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG. Đến những trang gần về cuối đức Phật nhập Niết Bàn, và những vị Trưởng Lão lần lượt ra đi, tôi đã khóc mỗi khi nghĩ đến thầy. Tôi rất thương đức Phật, đấng từ phụ cao cả, tấm lòng đại bi của ngài trải cùng khắp thế giới, cho muôn vạn loài chúng sinh, đến lúc nhập Niết Bàn, ngài còn căn dặn đủ điều cho hậu thế biết đường tu tập, xa lìa nghiệp ác giải thoát khỏi kiếp khổ đau. Tôi nghĩ đến thầy, nước mắt cứ tràn ra. thầy ơi, thầy khoan đi đã, các con thầy còn trẻ lắm. Thầy ráng đợi quý vị trưởng thành!
Nhưng khi về Làng, nhìn thấy sự vững chãi của Tăng thân, các sư anh sư chị, sư em, giáo thọ trẻ tổ chức khóa tu rất khoa học, chỉnh tề như khi có sự hiện diện của thầy. Các thiền sinh Tây phương dự khóa tu nghiêm túc và chia sẻ sự tu tập kết quả họ rất hạnh phúc.
Sư cô Hội Nghiêm chia sẻ cho tôi biết, dù vắng thầy, nhưng các khóa tu thiền sinh Tây phương đến dự vẫn đông, cuộc sống của ni chúng vẫn bình ổn. Chỉ có những căn nhà Xóm Mới, Xóm Hạ quá xuống cấp, chính quyền địa phương họ bắt xây dựng lại, nhưng chưa có tiền.
Ngày thứ hai, tôi được sư cô Chân Không dẫn sang thăm thầy ở Sơn Cốc. Tôi rất xúc động khi nhìn thầy ngồi trên chiếc xe lăn, dáng thật gầy, nhưng đôi mắt vẫn tinh anh. Sư cô Định Nghiêm đang nhẹ nhàng đỡ hai bàn chân thầy lên chiếc xe đạp, để thầy tập đạp cho gân cốt giãn ra. Tôi thấy thầy hơi nhăn mặt, có lẽ thầy đau lắm. Thầy đã 92 tuổi rồi, lại mới trải qua cơn tai biến, hai bàn chân còn cứng, hai bàn tay mới giơ nhẹ để xúc miếng cơm tự ăn lấy, không cần nhờ thị giả. Thầy chưa nói được thành lời.
Tôi quỳ xuống bên cạnh thầy, thấy tim mình như nghẹn lại. Tôi không nói được với thầy một lời nào, chỉ biết chắp tay và nhìn thầy thật lâu, thật sâu… như muốn níu trọn hình ảnh thầy vào trái tim tràn ngập kính yêu, vào ký ức sâu thẳm của tôi, để bây giờ và mãi mãi mai sau tôi vẫn có thầy.. Thầy cũng quay người lại nhìn tôi, ánh mắt thầy thật hiền, rồi thầy giơ bàn tay gầy xoa nhẹ đầu tôi. Ôi, bàn tay thầy mát dịu như tơ trời mùa thu, như bàn tay mẹ vẫn xoa nhẹ khi tôi bị cảm nắng sau mỗi buổi tan trường. Bây giờ, trong giây phút hiện tại, dù tôi đã cao tuổi rồi, nhưng được quỳ bên cạnh thầy, được nhìn vẻ từ ái của thầy, được thầy giơ bàn tay lên xoa nhẹ đầu tôi, tôi cảm thấy như tôi còn rất trẻ, rất hồn nhiên như năm tôi 19 tuổi, gặp thầy lần đầu tiên tại chùa Phước Hải-quận 10. Từ đó tôi đã tìm thấy lý tưởng cuộc sống. Tôi đã tìm thấy Mẹ tôi, trong ánh mắt, trong trái tim Thầy.
Rồi sư cô Chân Không dẫn tôi vào phòng thầy để lễ Phật. Căn phòng rộng khoảng 20 mét vuông, có kê một cái giường ngủ nhỏ của thầy, một cái bàn viết và một cái bàn thờ nhỏ có thờ đức Thích Ca, một cái chiếu trải dưới đất để thầy ngồi thiền. Tất cả đều đơn sơ, đã cũ. Tôi quỳ xuống lạy Phật và lạy thầy. Trái tim tôi trống rỗng, không cầu xin gì cả. Tôi ý thức rất rõ rằng từ vô thủy đến vô chung, thầy đến và đi trong cuộc đời này như một cơn gió nhẹ, như một vầng mây trắng, thong dong, lòng không vướng bận. Cơn bạo bệnh của thầy vừa qua chỉ là một biểu hiện, thử thách cho các con của thầy khắp năm châu, giúp cho họ tự đứng dậy, đi bằng những bước chân thảnh thơi của mình. Tự rèn luyện nghị lực và ý chí trên bước đường tu tập và hành đạo cùng Tăng thân, xây dựng một Tăng thân vững mạnh, đi khắp miền Âu Á, và trở về Việt Nam trao truyền cho đồng bào pháp môn Thiền Chánh Niệm, để cùng nhau ý thức rằng đất nước hình chữ S này còn có ngày hôm nay là do xương máu của bao nhiêu thế hệ anh hùng, nữ kiệt hy sinh bồi đắp.
Tôi cảm nhận rõ rằng tôi đang quỳ dưới chân đức Phật sống, một đức Phật tràn đầy tình thương nhân loại, một tâm hồn cao quý vời vợi trăng sao. Lời cầu nguyện của tôi vô nhiễm, trong tận cùng sâu thẳm, chỉ xin mọi người mở rộng trái tim, ôm ấp thương yêu nhau, cùng chung sức, chung lòng bảo vệ quê mẹ Việt Nam được yên bình, đừng để cho giặc ngoại xâm lấn chiếm, để con cháu của chúng ta không phải sống trong khắc khoải đau thương của gông cùm nô lệ.
Tôi chỉ dự khóa tu có một tuần. Vì chuyến này về Làng mục đích của tôi là để thăm thầy, để nhìn thấy thầy – có thể là lần cuối – vì tuổi tôi cũng cao, áp huyết lên xuống thất thường. Dòng sinh tử vô thường, nó đến và đi bất ngờ, tốt hơn nên dọn sẵn cho mình một chuyến về bình an làm những việc cần làm cho xong, để đến phút cuối ra đi thanh thản, mỉm cười, vẫy tay chào huynh đệ, chào tất cả vạn loài chúng sinh hiện diện trên trái đất này.
Đời vô thường huyễn mộng.
Mong manh hạt sương rơi.
Giờ phút này trân quý.
Đừng để thoáng mau trôi.
Hăm bốn giờ tinh khôi
Trái tim bừng hoa nở
Tôi nguyện sống trọn vẹn
Mắt thương nhìn cuộc đời
Nguyện buổi sáng dâng niềm vui cho đời
Bằng trái tim hiểu biết
Nguyện buổi chiều giúp người vơi khổ
Bằng đôi mắt cảm thông
Đến phút lâm chung
Ra đi thanh thản
Nhẹ vẫy tay chào
Mây trắng thong dong.
TU VIỆN BÁT NHÃ
Năm 2005, Thầy trở về Việt Nam lần đầu tiên sau 39 năm lưu lạc viễn xứ. Năm 2006 Thầy và Tăng thân chọn chùa bát nhã ở Bảo Lộc để thành lập Tăng Thân Bát Nhã. Phật tử và những người ngưỡng mộ thầy từ khắp nơi trên thế giới, chung quanh Đông Nam Á và cả khắp nước Việt Nam kéo đến như trẩy hội để được gặp mặt và dự khóa tu cùng với thầy và tăng thân.
Vì thế, vào năm 2007, tôi bán cái Am và mảnh vườn xã Tam Phước được chín trăm triệu đồng, mua chung với bà Vân hai sào đất ở xã Đambri, đối diện Tu Viện Bát Nhã, để được gần Thầy và Tăng thân. Tôi cất cái Am Chân Nguyên, sống một mình sớm hôm tu tập và tiếp tục làm từ thiện.
Bà Vân xin được nhiều phần quà để tôi giúp đồng bào nghèo vào dịp Phật Đản, Rằm tháng bảy và Tết nguyên đán. Bà cũng xin được nhiều phần học bổng giúp các cháu xã Đambri và Lộc Tân.
Thời gian này có Tâm Không giúp tôi. Cậu ấy đã từng tu thiền tại tu viện Trúc Lâm của Hòa thượng Thanh Từ. Tâm Không hiền lành và nhiệt tình, giúp đỡ tôi rất là nhiều việc. Thời gian này, tôi thành lập GIA ĐÌNH HOA TÌNH THƯƠNG.
Những cháu học sinh được cấp học bổng đến sinh hoạt vào sáng chủ nhật. Tôi dạy các cháu sinh hoạt, vui chơi, học những câu hỏi về đạo đức trong gia đình như cách đối xử với ông bà, cha mẹ, anh em, với bạn bè, với thầy cô giáo. Biết giúp đỡ những người già, tàn tật… Tôi hướng dẫn các cháu lên tụng kinh bằng những bản nhạc kinh, dạy các cháu đi thiền hành, nói năng, hành xử có chánh niệm… Các cháu rất vui, rủ nhau đến sinh hoạt ngày một đông. Bố mẹ các cháu hoan hỷ khi thấy các cháu ngoan ngoãn, lễ phép, chăm học và giúp đỡ mẹ công việc nhà.
Tôi cũng thành lập đạo tràng cho các bà, các cụ già chiều chủ nhật đến nhà tôi tụng kinh. Bản kinh ngắn dễ đọc, dễ hiểu nên phù hợp với người dân lao động. Sau giờ tụng kinh, chúng tôi ngồi chia sẻ với nhau về những khó khăn cuộc sống, giúp đỡ lẫn nhau trong tinh thần tương thân tương ái, cảm thông và thấu hiểu những khó khăn của nhau, tạo nên một tập thể thương yêu, vui vẻ. Tiếng lành đồn xa, các bà, các cô rủ nhau đến tụng kinh rất đông.
Buổi sáng tôi qua tu viện Bát Nhã sinh hoạt cùng Tăng thân. Được nghe thầy giảng Pháp Thoại, được đi thiền hành và buổi trưa cùng ăn cơm chánh niệm với Tăng thân, tôi thấy mình thật may mắn và hạnh phúc. Tôi thấy cuộc đời đẹp như mơ. Tôi ước gì được nấy. Tôi thấy mình vẫn còn sức khỏe để làm từ thiện, được đi các tỉnh xa xôi cấp học bổng cho các cháu học sinh nghèo.
Tôi thấy mình trẻ lại, tâm hồn thanh thoát, hòa với thiên nhiên. Chung quanh tôi, núi đồi bạt ngàn cây cà phê xanh tươi, nở hoa trắng tinh khôi, tỏa hương thơm ngát, cho tôi cảm giác tôi đang sống trong cõi tịnh độ. Tôi làm được nhiều bài thơ và sáng tác được nhiều bản nhạc trong thời gian này, như bản nhạc Đi Giữa Đồi Hoa, Mùa Xuân Đambri, Hoa Bông Bí… kể sao cho hết niềm rung cảm của tôi gửi gắm trong những tác phẩm nhạc và thơ.
Nhưng, đời chỉ là một giấc mộng. Mộng lớn, mộng con rồi cũng tan như mây khói theo định luật vô thường.
Năm 2006, Thiền sư Nhất Hạnh về Đambri theo lời mời rất chân thành, tha thiết của Thượng tọa Đức Nghi, thành lập Tăng thân tu pháp môn Thiền Chánh Niệm. Bước khởi đầu rất thuận duyên. Làng Mai bỏ tiền mua lại khu đất hơn chục mẫu phía trong tu viện và hai dãy nhà hai tầng mà thầy Đức Nghi đã xây dựng từ trước với ý định nuôi người già.
Phía cổng trước tu viện có ngôi Tam Bảo, có vườn trà, có tượng đức Quan Âm xây trên hòn núi giả, cảnh trí rất đẹp. Ngôi chùa này vẫn thuộc về đạo tràng thầy Đức Nghi, tu theo Pháp Môn Tịnh Độ.
Tăng đoàn Làng Mai đã xây dựng những cư xá cao hai tầng cho các Tăng sinh và các vị giáo thọ ở tu học. Thiền đường Cánh Đại Bàng được xây trang nghiêm, kiến trúc rất đẹp, có thể chứa được hàng ngàn Phật tử và thiền sinh tu học.
Mới chưa đầy một năm mà các bạn nam nữ trẻ, từ khắp các miền đất nước về xin xuất gia tu học, tạo nên một Tăng đoàn áo nâu trẻ trung, thực hành chánh niệm trong từng bước chân, trong các sinh hoạt thường nhật, trong giờ ăn cơm, trong giờ làm việc một cách nhẹ nhàng, thanh thản. Mặc dù số tu sinh rất đông, lên gần bốn trăm vị, nhưng nếp sống của họ rất hòa thuận… hạnh phúc, nhịp nhàng như một dòng nhạc hòa tấu của vị nhạc trưởng tài năng, điêu luyện.
Khách hành hương, Phật tử các nơi về Tu Viện dự khóa tu như trẩy hội. Sinh hoạt người dân xã Đambri trở nên nhộn nhịp, hàng quán mở ra bán đủ mặt hàng cho khách hành hương. Các xe như tắc xi, xe ôm luôn đông khách. Giá đất tăng nhanh, nhiều Phật tử ngoại quốc mua đất gần chùa để tu tập, những nhà làm tôn giáo cũng tìm về đây mua đất lập chùa, lập nhà thờ, thành lập khu tâm linh. Đambri trở thành một khu dân cư trù phú, một miền du lịch hấp dẫn các nhà đầu tư.
Thượng tọa Đức Nghi được Thiền sư Nhất Hạnh tôn xưng là Sư phụ, trưởng lão cho cả Tăng đoàn. Trên vấn đề pháp lý, Thượng tọa bảo lãnh cho tất cả Giáo thọ người nước ngoài, người việt và gần bốn trăm tu sinh từ các miền đất nước về tu học. Thế nên, uy tín và tầm quan trọng của Thượng tọa rất cao.
Tu viện Bát Nhã gần Khu du lịch Dambri, địa điểm du lịch nổi tiếng của Thành Phố Bảo Lộc. Thượng tọa là người tu rất thực tế, ngài muốn biến tu viện Bát Nhã Tăng Thân Làng Mai thành khu du lịch Tâm Linh, ngài sai khiến các tu sinh làm việc lao động thay thế công nhân. Thiền sư Nhất Hạnh không đồng ý. Thế nên, cơm không lành, cành không ngọt, mầm mống bất hòa nảy nở. Thầy Đức Nghi dụ dỗ các tu sinh theo thầy, thầy sẽ hợp thức hóa bằng cách cho các vị này thọ giới thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, rồi sẽ biến Tăng thân Làng Mai thành tu sĩ chùa Bát Nhã.
Tất cả tu sinh Tăng thân Làng Mai không theo. Thế nên, thầy Đức Nghi nổi giận, tuyên bố không bảo lãnh tất cả Tăng thân nữa. Họ sẽ trở thành những người sống bất hợp pháp.
Đệ tử chùa Bát Nhã mở chiến dịch phá Tăng thân Làng Mai bằng cách báo nha điện lực Bảo Lộc cúp điện, cúp nước. Đêm ngày mở loa tạo nên những âm thanh ầm ĩ nhức đầu. Hơn bốn trăm tăng sĩ không có nước sinh hoạt. Nhờ có mấy hộ gia đình Thiên Chúa Giáo hàng xóm họ bắc vòi nước cho dùng. Công an xã Đambri vào cuộc. Họ ra lệnh tất cả các tu sinh không có người bảo lãnh phải rời khỏi Tu Viện.
Chùa Bát Nhã gọi các Phật tử địa phương vào gây huyên náo, chửi bới om sòm. Họ quăng tất cả dụng cụ nấu ăn trong bếp ra ngoài sân. Họ vứt hết các kinh sách quý ở thư viện ra ngoài, hỗn độn như bãi rác hoang tàn. Dân địa phương thi nhau vào lượm. Đau thương nhất là vào ngày 19 tháng 9, lệnh tổng tấn công của công an và Phật tử chùa Bát Nhã, họ cầm gậy và hung khí xông vào từng phòng, lôi kéo các Thầy Cô, sư chú, sư em ra quăng lên tắc xi chở ra ngoài Bảo Lộc. Trong khi đó, người dân ùa vào các phòng hôi của. Nghe nói, có một cô bé đạo Thiên Chúa nhặt được chiếc vali chất đầy tiền đôla.
Ngoài trời mưa tầm tã, hàng thông trong Tu Viện ngả nghiêng theo từng cơn gió, như thét gào phẫn nộ trước cảnh mấy trăm tu sĩ Làng Mai bị áp bức trước bạo lực của nhóm người mất lương tri.
Tôi phải chuyển sang căn nhà bên Lộc Tân, mẫu đất tôi mới mua, trồng cà phê làm kinh tế cho cuộc sống hàng ngày. Chứng kiến cảnh thương tâm ấy, tôi không khóc, cũng không sân hận. Tôi hướng về đức Phật Quán Âm, mở trái tim ra để thấy niềm thương xót trào dâng tự đáy lòng. Tôi thương mấy chú công an, họ chỉ hành xử theo mệnh lệnh cấp trên. Tôi thương mấy người Phật tử địa phương, họ mang danh Phật tử, nhưng không được học hỏi chánh pháp, mà hàng ngày được nhồi nhét những ý tưởng bạo động, vô minh, không mang tính người, mà hơn thua, tàn nhẫn như cầm thú. Tôi đi thiền hành trong vườn cà phê, nhìn hàng cây trĩu chít những quả cà phê còn xanh chen lấn những cành đang ươm màu đỏ chín. Tôi thở nhè nhẹ, thưởng thức hương vị trong lành của vườn cây xanh ngát. Tôi nhớ đến Thầy, ở nơi phương trời Tây, chắc Thầy đau lòng nhìn về phía trời Nam, đàn con nhỏ bé hơn bốn trăm người đang bị đày đọa trong cơn cuồng phong bão tố!
Tôi ở Dambri, đối diện tu viện Bát Nhã, tôi vẫn thường sang bên Tăng thân sinh hoạt, nên mọi biến động xảy ra bên chùa tôi đều thấy cả. Nhưng tôi không muốn viết tất cả ra đây, nó đau lòng lắm. Vết thương rỉ máu, tôi băng nó lại để quên đi nỗi nhục tương tàn, cùng một tôn giáo, mà vì danh vọng, lợi dụng thế quyền để sát hại lẫn nhau. Quý vị muốn tìm hiểu về Bát Nhã, nỗi đau của Phật giáo, có thể mở Google ra coi, mọi việc sẽ phơi bày trước lịch sử.
Quý vị cán bộ trên tỉnh Lâm Đồng có đến gặp tôi để điều tra thêm về Tăng đoàn, tôi vui vẻ thưa với các vị:
– Việc thầy Nhất Hạnh có đến gặp ông Khải, chủ tịch nước theo lời mời của ông ta để mạn đàm về thời sự: Tìm hướng đi cho phù hợp để nâng tầm đất nước theo kịp đà phát triển của thế giới.
Thầy Nhất Hạnh là bậc thiền sư nổi tiếng trên thế giới, đã được các nguyên thủ quốc gia và thượng nghị sĩ đến xin ý kiến về nền pháp trị sáng suốt, xây dựng một đất nước thịnh vượng và hòa bình.
Thế nên, khi gặp ông Khải, thầy đã thành thật nói rõ quan điểm của thầy. Tôi có được các vị cán bộ cho xem những đề nghị của thầy, có những đề nghị rất hay, nhưng cũng có vài điều còn rất mới mẻ, nó chưa thích hợp với hoàn cảnh hiện tại. Vì những bất mãn đó, các ông giận cá chém thớt, kết hợp với Thượng tọa Đức Nghi xô đuổi các Tăng ni sinh một cách tàn nhẫn. Những em này chỉ đáng tuổi con cháu các ông, có khi họ là con cháu các ông, họ đâu có tội tình gì mà phải hứng chịu cơn thịnh nộ của các ông một cách thô bạo. Rồi đây trang sử Việt Nam sẽ in đậm tội ác của chế độ Xã hội Chủ nghĩa, đàn áp tôn giáo, ngàn đời còn in trên sách sử.
Với tấm lòng chân thành, với giọng nói ngọt ngào, tôi thấy quý vị ấy ngồi im lắng nghe. Tôi hy vọng qua buổi nói chuyện, các vị ấy không giận tôi mà nhìn lại cách hành xử của mình, để cho chúng tôi có niềm tin vào chính sách.
Tăng thân Bát Nhã bị đuổi ra khỏi Thành Phố Bảo Lộc. Còn mình tôi ở lại, chơ vơ trên cảnh đổ nát của cơn bão kỳ thị. Gia Đình Hoa Tình Thương bị giải tán, đạo tràng Chân Nguyên cho các bà, các cô mỗi chiều chủ nhật đến nhà tôi cũng bị giải tán. Đám người dân tộc thuộc chùa Bát Nhã đe dọa đốt nhà tôi, hằng đêm gạch, đá ném trên mái tôn, tôi phải chạy qua bên Lộc Tân lánh nạn.
Con tôi sợ hãi, muốn đón tôi về Sài Gòn, các cháu nói tôi ở đây một mình nguy hiểm quá. Tôi vẫn ở lại để thấy cảnh đời tang thương, thấy lòng người điên đảo, thấy tâm mình vẫn vững chãi, không hề sợ hãi, không sân hận, mà chỉ thấy lòng mình mở ra, đón nhận tất cả những gièm pha, nếm trải những vị đó như hương vị cà phê.
Mỗi buổi sáng tôi vẫn đi thiền hành trong khuôn viên tĩnh lặng, tôi lắng nghe tiếng gió thì thầm, tiếng chim hát ca mà cứ ngỡ tiếng hát của Tăng thân Làng Mai đang rộn ràng đứng vòng tròn tay trong tay hát những bài thiền ca đón chào buổi sáng.
Theo dấu chân thầy
Tôi gặp lại Thầy sau khi đến Pháp được 3 ngày, là lần đầu tiên sau 32 năm xa cách 1966- 1998
Thầy về với Phật thấm thoắt đã hai năm rồi. Hôm nay, ngày 20-12-2023 là ngày giỗ năm thứ hai của thầy. Hai năm nghe dài đằng đẵng mà sao con thấy như mới đêm hôm qua, lúc 12 giờ đêm, con thấy ruột gan nóng ran, con chợt nghĩ đến thầy.
Cùng lúc đó Xuân Trang từ Mỹ gọi về, báo tin thầy đã mất. Con gọi điện thoại cho sư cô Chân Không, may quá, sư cô bắt máy, sư cô báo tin thầy vừa mới ra đi trong thanh thản.
Con không khóc, mà rất bình an. Sư cô kể con nghe về sự ra đi của thầy. Mặc dù thầy yếu, nhưng thầy rất sáng suốt. Thầy nhìn đệ tử lần cuối rồi lặng lẽ chìm vào giấc ngủ thiên thu.
Sư cô nói bây giờ mọi người đang chuẩn bị công việc tang lễ của thầy. Em có về dự đám tang thầy được không ?
Chị ơi, em đang trong tình trạng huyết áp lên rất cao, có ngày lên tới 215, tim lại yếu nữa. Em sợ về sẽ làm bận rộn cho mọi người.
Thôi, em ở nhà đi. Đừng ra Huế nữa. Bây giờ Huế đang rất lạnh. Sư cô cúp máy.
Lần này nghe tin thầy ra đi, con không bị sốc như năm 1990 khi nghe tin thầy đột quỵ. Tin sét đánh đó đã làm con suy sụp tinh thần như ngày xưa nghe tin mẹ con bị tử nạn bởi trái mìn của Việt Cộng. Con niệm Bát Nhã Tâm Kinh, cầu xin phép mầu của đức Quán Thế Âm cứu độ cho thầy được hồi phục.
Hai năm sau, 1992, Xuân Trang đưa con về Làng thăm thầy. Biết nói sao cho hết niềm vui khi gặp lại thầy, được nhìn thấy vẫn hiện diện bên đàn con, dù thầy bây giờ đang ngồi xe lăn.
Thầy vẫn còn đó, vẫn là chỗ nương tựa cho các con, Tăng thân vững chãi của thầy, và con vẫn còn có thầy, còn tình thương yêu mà trọn đời và mãi mãi cho con nương tựa.
Năm sau Thầy về Thái Lan, hàng năm con vẫn về thăm thầy. Rồi thầy về chùa Từ Hiếu, ngôi chùa Tổ thân thương đã ghi nhiều kỷ niệm. Con luôn về thăm thầy.
Mới chỉ khoảng năm tháng thôi, con về dự lễ 49 ngày ông Nguyễn Đức Sơn, con sang nơi nghỉ dưỡng thăm thầy, ngồi viết bài tưởng niệm Nguyễn Đức Sơn ngay cạnh phòng thầy nghỉ. Thầy đã tỏa năng lượng bình an cho con nhiều cảm nghĩ tích cực khi viết bài. Đến giờ ăn trưa, con được quý sư cô cho con một phần ăn. Con được thị giả của thầy gọi đến dùng cơm với thầy. Thầy ngồi phía trong phòng, còn con ngồi ngoài khung cửa sổ. Con từ chối, vì nghĩ người bệnh, khi ăn uống sẽ không được tự nhiên nếu có người khác. Nhưng thầy vẫn bảo thị giả gọi con tới, ngồi ngoài khung cửa ăn cơm cùng với thầy. Đó là lần sau cùng con ngồi dùng cơm cùng với thầy.
Rồi, năm tháng sau, thầy ra đi. Con vì bệnh, không về tiễn đưa thầy. Thầy ơi, với thầy, con chưa bao giờ cảm thấy đây là lần cuối. Dù qua bao ngàn trùng sinh diệt, con vẫn mãi có thầy, trong mọi hình thức của yêu thương.
Hôm nay, ngày 20-10-2023, Xuân Trang đưa con về Huế dự ngày húy kỵ lần thứ hai của thầy. Bước chân con yếu ớt, được thầy Pháp Độ dìu con lên từng bậc tam cấp sân chùa Từ Hiếu. Con như con chim bồ câu già rủ cánh, lặng lẽ bước chân theo đoàn người kinh hành trong sự dìu dắt của hai sư cô.
Đời vô thường huyễn mộng
Mong manh hạt sương rơi
Giờ phút này trân quý
Đừng để thoáng mau trôi
Dòng thời gian trôi nhanh như ngọn sóng thủy triều. Mới ngày nào, năm 1963, thầy là một vị Tăng còn trẻ, bước chân thầy đã trải qua nhiều nước Mỹ, Âu Á châu. Thầy đã tích góp được tinh hoa của các nền văn minh tiến bộ. Với trái tim nhiệt huyết, thầy muốn hoằng truyền chân lý đạo Phật, hòa quyện với nét đẹp văn hóa Tây phương trao truyền cho thế hệ trẻ Việt Nam. Trong thời gian đó, con đã gặp thầy trong một hoàn cảnh thật trớ trêu.
Thầy đã đưa con thoát mối tơ vò, đã chỉ cho con con đường lý tưởng, phụng sự quê hương bằng trái tim tràn ngập yêu thương. Thầy đã thay thế mẹ con, luôn hướng dẫn lúc con gặp khó khăn bằng lời dịu ngọt, ấm áp của người mẹ.
Ở lại quê nhà trong hoàn cảnh tối tăm, gian khổ, con như cánh chim yếu ớt trong giông bão. Nếu không có thầy, con đã gục ngã. Dù xa cách ngàn dặm, con đã gọi thầy cứu vớt con lên.
Rồi cơ duyên đã đến, năm 1998, sư cô Chân Không và thầy đã đón con về Làng, cho con xuất gia theo chí nguyện lúc tuổi thơ. Ngày 26-10-1998 là ngày con được thầy và Tăng thân sinh ra một em bé, tuổi thật của bé đã 58 rồi, mặc dù em bé ấy đã trải qua nhiều khó khăn, hờn tủi, nhưng trong vòng tay thương yêu của Tăng thân, của thầy và chị. Em bé ấy đã thật sự thoát xác. Con đã sống những ngày hồn nhiên, thơ trẻ.
Mỗi buổi sáng, sau giờ thiền hành, con đã chậm rãi đi vào vườn cỏ non, có những bông hoa Daisy vừa chúm chím nở, con chắp tay búp sen cúi đầu xin hái nó, con nâng niu bông hoa Daisy trắng tinh khiết như nâng một bé sơ sinh, con mỉm cười dâng tặng một khách thiền sinh lớn tuổi, với lời chúc Happy Today. Con thấy đôi mắt bà long lanh sáng, nụ cười rạng rỡ trong ánh nắng ban mai. Có những ngày con làm thị giả cho thầy. Thầy đi rất nhanh, còn bước chân con chậm rãi. Hai bên bìa rừng, những giọt sương còn đọng trên những bông hoa tím, vàng trông rất đẹp, nên thơ. Con dừng lại, hái những bông hoa. Thầy đã đi xa rồi, con bước thật nhanh, nhưng không kịp. Thầy vào Thiền đường, ngồi yên vị trên bục giảng. Còn con, vẫn còn lúng túng bên khung cửa sau. Lúc ra về, thầy yên lặng, không hề trách con.
Có lần, làm thị giả cho thầy, con pha ấm trà Thiết Quan Âm để thầy uống buổi sáng. Trong phòng, chỉ duy nhất còn chai nước suối. Con đổ vào ấm, nấu sôi rồi pha trà dâng thầy. Con nhìn thầy bình thản nhấp từng ngụm trà, nét mặt tươi vui nhìn từng giọt nắng mai đang tỏa chiếu trong phòng. Chợt sư cô Chân Không vào thăm thầy, cô nhấp ngụm trà rồi kêu lên:
– Y Nghiêm, sao em pha trà cho thầy mặn chát như nước muối vậy?
Con ngơ ngác nói:
– Em pha trà cho thầy bằng chai nước suối để trong tủ, em có thấy thầy nói gì đâu!
– Em ơi, đó là chai nước muối, lần sau em phải hỏi các sư chị.
Con chắp tay, cúi đầu, xin lỗi thầy.
Thầy vẫn ngồi đó, đôi mắt nhìn con, vẻ bao dung, thoáng nụ cười.
Có hôm, làm thị giả cho thầy, trời sắp đổ cơn mưa, con trao cây dù cho thầy, nói thật nhỏ:
– Thưa Thầy, thầy cầm cây dù đi, con với không tới, sợ ướt thầy.
Có một lần, thầy muốn trồng cái cây còn nhỏ, thầy bảo con đi tìm cái cuốc để thầy đào đất trồng cây. Con đi vòng vòng tìm cuốc, về tới nơi thầy đã trồng xong rồi.
Còn nhiều chuyện vui khi làm thị giả cho thầy, không thể kể hết. Con cảm thấy con đã nhiều tuổi rồi, nên từ chối không làm thị giả nữa. Sư cô Chân Không bảo con:
– Em dại lắm, có nhiều sư chú, sư cô muốn làm thị giả cho thầy mà không được. Thầy muốn em làm thị giả, để thầy có cơ hội dạy dỗ em, mong muốn sau này em vững chãi, về Việt Nam, trao truyền pháp môn Thiền Chánh Niệm cho giới trẻ ở quê nhà.
Em cảm ơn thầy và chị. Nhưng bây giờ em đã lớn tuổi rồi. Em làm thị giả, chỉ làm bận rộn thầy. Còn chuyện tương lai, em chưa nghĩ tới. Em xin thầy tha lỗi cho em.
Bốn năm sống ở Làng Mai, bốn năm đong đầy hạnh phúc. Con được các sư em người ngoại quốc thương yêu. Sư chị Kính Nghiêm, xuất gia trước con một năm, được thầy giao phó nhiệm vụ chăm sóc con, sư chị mới có mười sáu tuổi, rất siêng năng, tháo vát, nghiêm trì giới luật. Sư chị chăm sóc con quá kỹ lưỡng, trong mọi cử chỉ, khiến con thấy ngộp thở. Sư chị và con sống chung một phòng, chăm sóc cho nhau. Mặc dù phải vâng lời sư chị một cách nghiêm khắc, nhưng con thương yêu sư chị như con gái, như cô học trò bé bỏng của con. Thường vào mỗi buổi tối, sư chị làm việc mệt nên ngủ gục ngay trên bàn làm việc, con bế sư chị vào giường, đắp mền cho sư chị rồi con mới đi ngủ. Tình thương con dành cho sư chị thật ngọt ngào. Nhưng sư chị quá nghiêm túc, bắt bẻ con từng chút uy nghi sơ đẳng. Như giọt nước tràn ly, vào một buổi sáng, con la sư chị cho hả cơn giận, con khóc, bỏ bữa cơm trưa, lang thang đi vào trong rừng, tự hỏi lòng:
– Mình có nên ở lại đây nữa không?
Ẩn trong vườn cây xanh, có những cây hoa nở bông rất đẹp, nhưng khi đến gần thì cây hoa đó chẳng hoàn mỹ chút nào. Con tự hỏi:
Người làm vườn giỏi phải như thế nào? Thầy có phải là người làm vườn giỏi không?
Một cơn mưa nhẹ lất phất rơi, như những hạt sương phủ trên áo, khiến con quay trở về thực tại. Chân bước nhẹ trên con đường vắng lạnh, quấn quýt những giọt mưa. Những vần thơ êm ái xuất hiện dìu con nhẹ bước đi trong giây phút hiện tại:
Hôm nay trời âm u
Mây mù giăng tứ phía
Mưa rơi rơi nhè nhẹ
Thấm ướt đất cằn khô
Cây nảy mầm ra hạt
Chúm chím nụ xinh tươi
Thấm nhuận bao nguồn sống
Dâng hoa trái cho đời
Tôi đi trong tĩnh lặng
Đếm từng hạt mưa rơi
Chân bước đều thanh thản
Như mặt đất thảnh thơi
Rồi ngày mai trời sáng
Nắng ấm tỏa nơi nơi
Hạt lúa vàng chín mọng
Bát cơm no mọi người.
Những buổi con làm thị giả, thầy đã bỏ thời giờ ngồi giảng dạy cho con lý tưởng người tu sĩ:
– Con muốn hoàn thành ý nguyện độ sinh, con không thể thực hiện một mình. Con phải xây dựng một Tăng thân, tập hợp nhiều người cùng một chí hướng, tính tình, trình độ khác nhau. Con phải hy sinh, rèn luyện bản thân con nghiêm khắc, lòng bao dung. Con tạo cho họ sự tin tưởng, niềm hạnh phúc trong đời sống tu tập. Con không nên đòi hỏi sự hoàn hảo nơi mỗi cá nhân. Như một thân cây, bông hoa sum suê, rực rỡ màu sắc, nhìn từ xa thì rất đẹp, nhưng khi con đến gần, xuất hiện một số bông hoa lốm đốm những vết sâu ăn. Con có thể ngồi cả buổi nhặt những cánh hoa xấu xí ấy được không? Dù con cố gắng nhặt, nhưng tuần sau, những cánh hoa xấu khác lại xuất hiện. Trong Tăng thân cũng vậy, có vài người tính tình khó chịu, nhưng con không thể đuổi họ đi, họ có những cái hay khác mà con không có, nếu con khéo léo, con sẽ khiến những người đó quý mến con.
Như một dàn hòa tấu, có đủ mọi thanh âm, người nhạc trưởng phải biết hòa nhịp sao cho các nhạc công hòa âm cho đúng tiết tấu của bản nhạc. Người điều hành một tổ chức phải biết nghiêm khắc với bản thân, nhưng cởi mở với những cộng sự viên, tạo cho họ sự thân thiết. Chính những người đó họ sẽ trở nên tận tụy và trung thành với lý tưởng của Tăng thân.
Những ngày được làm thị giả cho thầy, năng lượng bình an của thầy tỏa sáng, cho con niềm an lạc. Những lời dạy dỗ của thầy, con xin ghi lòng tạc dạ trong suốt hành trình tu học của con.
Sư chị Kính Nghiêm sau khi nỗi oan của sư chị được giải tỏa, con mới vỡ lẽ sư chị nghiêm khắc với con là do sự chỉ đạo của thầy, để thử thách cái bản ngã và sự kiên trì của Y Nghiêm. Sư chị xin lỗi con.
Chúng con ôm nhau, truyền cho nhau tình thương và sự cảm thông. Và từ đó, sư chị rất quý mến con. Thỉnh thoảng vào những ngày làm biếng, sư chị cõng con lên đồi mận, cùng nhau đi nhặt mót những trái mận người làm vườn bỏ lại trên cành.
Sư em người Nga hay cõng con đi quanh hồ sen Xóm Mới. Sư em Hòa Nghiêm, sư em Quang Nghiêm người Pháp hay chở con đi chợ… các sư em người ngoại quốc yêu thương con, có lẽ vì con sống hồn nhiên, đơn giản. Các thiền sinh ngoại quốc đều thương quý con. Các Phật tử người Việt đều thân thiện với con. Có thể, họ tìm thấy nơi con vóc dáng quê hương.
Vậy mà, cơ duyên ngắn ngủi, nước Pháp đã không cho con nhập cảnh vì lỗi giấy tờ khiến con phải xa Tăng thân, xa thầy, xa chị – những người con yêu quý.
Hôm nay, về cố đô Huế dự đám húy kỵ Đại Tường của thầy, con thấy bồi hồi, rưng rưng nước mắt. Những giọt nước mắt chân tình của một sư cô già nua. Con gặp sư cô Chân Không, có ý định sẽ kể cho sư cô nghe về Phương Bối, về việc nhờ sư cô coi giùm tập hồi ký Như Một Dòng Sông con đang viết, nhưng sư cô nhiều khách quá, con không nỡ chiếm hữu cho riêng mình. Con chào sư cô, về sân chùa Diệu Trạm, ngồi lặng yên, nhìn mọi người đi qua, lại tíu tít mừng gặp lại nhau sau bao năm xa cách.
Con gặp thầy Pháp Lữ, thầy Pháp Liệu, quý sư cô và nhiều Phật tử khác. Dù xa nhau nhiều năm, nhưng các bạn vẫn nhận ra con, mừng rỡ. Họ chúc con luôn khỏe mạnh để tiếp tục viết bài cho nhiều người đọc…
Nắng chiều đã ngả màu vàng úa, con chào mọi người thân thương, chia tay và thầm nói:
Lần chia tay này chỉ là tạm biệt, rồi mai đây, như những dòng sông muôn ngã rẽ trong khắp nẻo luân hồi, chúng ta sẽ gặp nhau trên con đường chánh đạo, trong Tăng thân có Bụt, có thầy để cho chúng ta mãi về nương tựa.
Chân Y Nghiêm, 20-12-2023
