T.Vấn

& Bạn Hữu

Văn Học và Đời Sống

Luân Hoán: LÊ MAI LĨNH GIỮ TÂM SƯƠNG BIÊN THÙY

Share on facebook
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Bạn Lê Mai Lĩnh thân,

 Bạn vừa rao mấy dòng về tôi nơi sân chơi của bạn trên FB, làm tôi giật mình. Sợ. Đúng thế, lý do minh bạch:

    Thứ nhất, nghiệp tôi khởi sự làm thơ là có thật. Dĩ nhiên mong ước được thành một thi sĩ cũng có thật. Nhưng rồi, tùy cuộc chơi, tôi dựa vào đó, chuyển thơ qua văn vần lâu nay. Lại dĩ nhiên, trong văn vần thỉnh thoảng cũng có thơ, nếu người đọc để tâm thấy cách chọn chơi chữ của tôi. Viết không cầu kiếm tiền để sống mà mong tìm thú vui, hầu tiếp tục thở một cách nhẹ nhàng, khỏi mở cổ bằng Ventolin HFA. Bạn gọi đùa “thi hào”  mừng không quên bỏ vào ruột ngoặc kép. Cái ngoặc kép này sẽ hóa giải được sự nghiêm túc của mọi vấn đề. Nhiều nụ cười thân thiện sẽ có.

    Thứ hai, tôi dự định Dựa Hơi tiếp một số bằng hữu. Nhưng đó mới chỉ là dự định. Sự thích thú lẫn thiện chí có thừa, nhưng căn bản vẫn phải tùy vào cặp mắt, không mù mờ mặt chữ. Ở tuổi tám-mươi-cộng, mọi rục rịch của cơ thể ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của thú vui. Bên cạnh đó, trí nhớ cần được tiếp viện tư liệu từ người cho tôi vịn vai. Tôi không dám lạc quan ai cũng cho mình có cơ hội để dùng chân tình tạo nên trang sách.

    Thứ ba, khen, chê một người quen biết, không phải là chuyện dễ thực hiện, huống gì người đó lại là một người cầm bút hành nghề văn thơ. Họ rất tinh tế xử sự trong đời sống văn chương. Nếu sự khen chê nghiêng về tác phẩm, thì bài viết sẽ phải mang tên phê bình hoặc nhẹ hơn cũng là điểm sách. Nhưng những gì tôi muốn nói về một người bạn, một tác giả, không nhằm vào nội dung này. Tôi chỉ nhắc nhở kỷ niệm và màu mè thêm những nhận xét, ý kiến thuần tốt đẹp, từ nhân vật thứ ba, tôi bắt gặp được để trích dẫn. Thêm nữa, cách viết của tôi, một nửa nhằm đánh bóng cái tôi. Sự ăn gian này rất dễ nhận ra. Tôi phải khéo léo để người đọc có thể bao dung, chấp nhận phí giờ đọc hết. Khoe với bạn tôi được khá nhiều người viết về mình qua sáng tác của tôi. Trong ba cuốn sách đã in cùng một cuốn đang in, hầu hết các bạn văn, ở nhiều thời kỳ văn học, đều nương tay khuyến khích. Tôi học ở họ những điều khôn ngoan lẫn sự lương thiện, để vẽ vời tâm chân dung người khác. Tôi không học được thói vạch lá tìm sâu, nhất là những con sâu vô hại, nhiều khi còn cần có sự hiện hữu của nó. Tôi biết bạn thật tâm, không lập dị, muốn biết đôi chút khuyết điểm của mình, nhưng tôi sẽ không làm việc này. Bạn có thể xếp loại tôi đồng loạt với các bạn khác viết về bạn. Đó là sự dĩ nhiên, đúng với bình thường và tôi cũng mong chỉ vậy.

*

    Những dòng vừa gõ trên, lẽ ra chỉ vài câu cho một email là đủ. Nhưng cái tay ưa sinh sự dông dài, làm tội làm tình cục gom ở cuối chân cây bút chì. Tiếc công, tôi đành biến nó làm khinh binh mở đường, cho một “Dựa Hơi Bè Bạn” mới, có thể gọi là khởi đầu cho cuốn thứ ba trong loại hồi ký rời. Người bạn tôi chấm, thâm niên quen tên, một lần thấy mặt, đang sinh hoạt rất tích cực trên facebook, đó là người viết văn, làm thơ Lê Mai Lĩnh.

    Viết là “thâm niên quen tên”, thật ra tôi chỉ biết bút danh; một danh xưng trên những trang báo, mà hiện tại đương sự đã cho nó nghỉ ngơi. Thời tôi tập tành “sáng tác”, ngoài thủ đô Sài Gòn, miền Nam có nhiều tỉnh; tại những tỉnh này không thiếu những người trẻ ưa thích sinh hoạt chữ nghĩa. Trong văn giới, không hiểu tại sao, sau chữ “tỉnh” được thòng thêm một tiếng “lẻ” đủ nhẹ nặng nữa. Nhẹ có thể vì chỉ hai chữ cái; nặng thì phảng phất sự xem thường, dĩ nhiên từ phía “anh em” thủ đô. Không khí sinh hoạt văn học nghệ thuật tại thủ đô Sài Gòn luôn nhộn nhịp, không ngừng khởi sắc. Có thể nhờ vào sự chia phe, lập nhóm, không ai chống ai, nhưng dè bỉu nhau thì hình như có thật. Từ dồi dào mặt Nhật báo đến tuần san, nguyệt san, tạp chí… đều thành hình, lớn mạnh ở Sài Gòn. Nhưng mức tiêu thụ một phần phải nhờ ở tỉnh lẻ. Tại tỉnh lẻ, anh em tham gia chơi trò cầm bút, vừa chen tay cùng thủ đô vừa thành lập bút nhóm, thi văn đoàn rất tưng bừng. Không thiếu những diễn đàn ngôn ngữ địa phương, non trẻ hiện diện trong vóc dáng ronéo lem nhem, tội nghiệp, nhưng cũng rất mực nghiêm chỉnh. Tôi nghe, tôi đọc nhiều bút danh. Lạ một điều tôi rất khoái những cái tên dính một chùm ba từ. Khắp đất nước Việt Nam Cộng Hòa, tôi luôn nhớ những quí danh: Du Tử Lê, Phan Duy Nhân, Hà Nguyên Thạch, Đynh Hoàng Sa, Đynh Trầm Ca, Yến Nguyên Thanh, Cung Tích Biền, Hạ Quốc Huy, Hạ Đình Thao, Phan Trước Viên, Chu Vương Miện, Cung Trầm Tưởng, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Hà Huyền Chi, Trịnh Công Sơn, Phạm Thế Mỹ, Lê Vĩnh Thọ, Hoàng Khởi Phong, Hà Thượng Nhân, Mai Trung Tĩnh, Mạc Phương Đình, Phạm Chu Sa, Nguyễn Bắc Sơn, Sao Trên Rừng, Phạm Công Thiện, Thái Tú Hạp, Phan Việt Thủy, Trần Dạ Từ, Trần Tuấn Kiệt, Trần Vạn Giã, Triều Hoa Đại, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên… Dĩ nhiên không thể sót Sương Biên Thùy. Một điều lạ nữa, khi nhớ tên Sương Biên Thùy, gần như tôi không quên Lệ Thùy Lam. Cái tên có vẻ con gái này, đến nay tôi vẫn chưa rõ là ai, còn sống hay đã chết ? Nhưng tên mang nội dung vùng đất phân chia ranh giới hai miền, cụ thể có thể là Bến Hải, đầy sương gió ảm đạm, thì tôi đã rõ là ông Lê Văn Chính. Mừng có thêm một chàng họ Lê trong sinh hoạt thơ văn, dù chả bà con chi. Ông Chính này ra đời năm 1942 (dù khai sinh ghi 1944), ở làng Quảng Điền, xã Triều Đại, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Hơn một năm tuổi đời, tôi làm anh ông tính theo chiều dài cuộc sống, còn những phụ khoản khác, thì tôi không chắc, nhường phần hơn cho ông vẫn tế nhị, chắc ăn hơn.

Ông cho biết ngày đồng minh đánh Nhật, dội bom ở Cầu Ga, gia đình ông dời về Quảng Điền. Thân phụ trực tiếp tham gia kháng chiến, mẹ buôn bán xa, ở nhà theo chân ông nội. Rồi “Bình dân học vụ em ơi…” kêu gọi ông vào với “i ngắn có chấm, tờ dài có ngang…”. Đơn giản vậy thôi, mà đến năm 1957, nhà thơ Nguyên Sa chủ bút Gió Mới đã cho đi “Bản Cáo Trạng” như vầy của ông:

” Tuổi trẻ hậu chiến | Loài ác điểu cướp mất | Giờ lớn lên mất bản tính con người | Chúng tôi lớn lên | Ngôn ngữ phát âm là tiếng kêu kim khí | Con chim họa mi không hót lời thanh xưa| Con chim đại bàng không lời oang oách | Rừng cây danh từ bạc màu biến sắc | Khuynh hướng nhân bản lệch lạc từ đầu | Tầm tay chúng tôi từ nay nhó bé | Trước mũi súng, lười Lê quân thù |  Chúng nó tiền hậu tả hữu | Phi lý chúng ta đơn côi kéo dài | Hỡi thợ thuyền, lao động, sinh viên | Những bàn tay xây nền mới |Hãy kết nên, vạn lý thành | Vẽ vang phải trở lại | Lịch sử đất nước nầy| Bất khuất dòng LÊ LỢI | Viẹt nam muôn năm đây. Anh hùng NGUYỄN THÁI HỌC TẠ THU THÂU, TRẦN CAO VÂN | Các anh là thần thánh | Thành tự do muôn năm | Thành tự do muốn năm | Việt Nam muôn năm”.

Đúng là khí khái có lập trường từ tuổi mới lớn. Những người càng giàu lòng yêu nước, càng mê gái, tôi ngẫm từ tôi ra. Chắc chắn cũng bảy phần mười chính xác. Nhưng chưa tìm thấy thơ ve gái của ông con cưng đất QuảngTrị. Trong khi đó nhà thơ cho biết thêm, sau hai năm đi bài trên Gió Mới, thơ ông xuất hiện trên Ngàn Khơi của Trần Thy Nhã Ca, rồi Nghệ Thuật của Mai Thảo. Những tuần san, tạp chí ở thủ đô luôn là thước đo sự thơm tay, nhổ giò ngoạn mục của các tay viết tỉnh lẻ. Lê Văn Chính vì thế được bè bạn nễ phục, tín nhiệm đề nghị kêu gọi bạn bè cầm bút địa phương thành lập thi văn đoàn. Năm 1960 Thi Văn Đoàn Giới Tuyến Quảng Trị bắt đầu sinh hoạt. Bút danh Hoài Bích Thủy, từ tình yêu cô nữ sinh tên Thủy người làng Bích La năm đệ thất, dù vang dội trường Nguyễn Hoàng (QT) một thời, bất ngờ bị chính thức thay bằng Sương Biên Thùy. Sự đổi thay này có sự góp ý của người bạn Đặng Sĩ Tịnh. Vịn vào địa danh, tôi ngẫm ra Sương Biên Thùy có dính đến sự yêu thương quê nhà. Và tình cảm này có vẻ mạnh hơn tình yêu nam nữ trong trái tim ông Chính một chút. Này nhé, Bến Hải của Gio Linh, cùng Cam Lộ, Đông Hà, Triệu Phong, Vũ Lăng… đều là đất Quảng Trị, ông Chính đã dùng Sương Biên Thùy đứng tên cho những đứa con mình ra đời rõ là thể hiện tấm lòng mặn nồng với đất nước, tâm đắc cùng chính trị, ngay thời thanh xuân phơi phới. Buồn cùng em Thủy làng Bích La mươi phút.

Nhưng than ôi, khác với tào lao suy ngẫm của tôi, nhà thơ bộc trực chọn bút danh Sương Biên Thùy, vì lúc bấy giờ trên sân chơi văn thơ có nhiều tên lạ, ông cho “không giống con giáp nào”: như Sao Trên Rừng, Mây Đại Dương, Trăng Ngàn Phương…chỉ giản dị vậy thôi. Sự suy tưởng linh tinh dễ dẫn dắt sai trật sự thật như tôi, rất cần rút kinh nghiệm.

Trong chặng đường “làm nghệ thuật, văn học” Sương Biên Thùy tự đánh giá về cái tôi của mình trong tự tin lẫn tự hào.Trước tiên ông nhìn nhận con đường học vấn không được bằng phẳng. Lười học, không hanh thông trong các môn cần trả bài thi cử. (không rõ việc trả bài cho các em thì sao), nhưng lại rất thông minh, nhớ dai chuyện ngoài đời, chuyện trong cuộc chơi chữ nghĩa. Ông tự hào từng thuộc Đêm Giã Từ Hà Nội. Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời của nhà văn MaiThảo, hoặc nhớ như in vỡ kịch Ly Nước Lọc của nhà thơ Hoàng Anh Tuấn, cả bài viết Sân Khấu và Vấn Đề Xây Dưng Con Người của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan in trên tạp chí Sáng Tạo. Ông cũng cho biết không đọc nhiều Tự Lực Văn Đoàn nhưng không bỏ sót thành phẩm của các tạp chí Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Sáng Tạo. Những tác phẩm của Nhóm Quan Điểm từ Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Lê Văn Siêu… cũng rất hấp dẫn ông. Ba cuốn Nhận Định của giáo sư Nguyễn Văn Trung là sách đầu giường của ông. Riêng với nhà thơ Sao Trên Rừng, Sương Biên Thùy giữ một kỷ niệm khó quên. Ông kể, năm 1963 ông bán chiếc xe đạp của mình để in tập thơ đầu tay, Nỗi Buồn Nhược Tiểu tại Nha Trang. Nhà thơ Sao Trên Rừng hay chuyện, bực trong mình,  bắn tiếng: ” Đất Nha Trang là đất tao, tao chưa in  thơ tại đây, địt mẹ thằng STB cha căng chú kiết, khốn nạn, từ đâu đến dám qua mặt ông. Gặp nó ông cho cùi chỏ không còn cái mũi để thở”

Sương Biên Thùy bảo rằng bạn ông đã nghe Sao Trên Rừng nói đại ý như vậy, và kể lại cho ông. Sương Biên Thùy không cho biết thái độ của ông sau khi nghe kể. Và trong thư cho tôi (LH), nhà thơ ghi vội như sau:

“… Năm 1968, gặp Sao Trên Rừng trong trại Nguyễn Tri Phương, chờ ra Động Đế huấn luyện, tôi đã ba lần kéo chàng xuống câu lạc bộ uống bia quân tiếp vụ và ăn mực khô nướng. Hẳn nhiên tôi đâu dám nói tôi là Sương Biên Thùy”

Thì ra con người ngoài đời của nhà thơ đất Triệu Phong Quảng Trị lành hơn trong văn viết rất nhiều. Có thể tôi lại lầm, bởi vì ngoài đời anh đối xử tử tế với một nhà thơ đúng nghĩa thi sĩ, cảm được những bốc đồng của một người tài hoa, do đó phải khác với những đối thủ trong thế thù nghịch. Kể như Sương Biên Thùy luôn có cách xử thế tốt đẹp, thích hợp, cương nhu tùy nghi. Ông tỏ ra hiểu bạn như hiểu chính mình. Một phần thưởng đáng nhớ trong giai đoạn này của ông, đoạt giải Văn Chương Phật Giáo  do Tỉnh Hội Phật Giáo Quảng Trị trao tặng vào mùa Phật Đản năm 1962.

Con đường đồng phục với sắc màu ô liu, là nghĩa vụ đương nhiên của thanh niên, trong giai đoạn cộng sản Việt mở nhiều mặt trận, suốt bốn vùng chiến thuật. “Đi quân dịch là thương nòi giống…” ngày nào nghe ê chề nghi ngại, bây chừ không còn nghe, nhưng âm vang đâu đó thật thấm thía buồn não lòng. Tôi cũng qua vài năm trốn lính, nhờ cái tổng động viên đều khắp ở nhiều lứa tuổi sau 18, ở nhiều trình độ, tôi mới dám gia nhập gia đình Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tuy mất một chân thảm thương buồn, nhưng thật tình tôi không ân hận. Nói trước ngọn đèn như lời thề, tôi không oán gì những anh em cờ đỏ sao vàng cả. Khi được lưu dung ở Ngân Hàng, những cán bộ lãnh đạo đội mũ có sao, luôn nghi ngờ, họ lập luận rằng, khi tôi nhìn sự tàn phế của mình sẽ sinh oán hận, và như thế sẽ không thể  thật lòng với “cách mạng”. Đúng, nhưng sự không thật lòng của tôi không vì vết thương thân thể, mà đến từ việc điều hành chính thể xã hội. Tôi đã khóc khi ngã xuống, và đã có cả một tập thơ với nhiều chân tình an ủi, còn đòi hỏi gì hơn. Sương Biên Thùy tiếp tục làm đàn em của tôi, khi ông chuyển đời sống dân sự qua đời nhà binh. Ông nhập ngũ khóa 1/68. Tạp dịch, nhổ cỏ, vệ sinh doanh trại, tập bò, tập nhảy cả tập đi. Thuộclòng “lên phải xuống vào phải ra” trong giờ học vũ khí. Học tìm điểm đứng, học chấm tọa độ để làm chỉ huy, đi dần từ thấp đến cao, “sống lâu lên lão làng” Sương Biên Thùy và rất nhiều bạn khác đã vượt qua. Trong thời gian ở quân trường, Ông cũng góp tay cho đặc san Bộ Binh, với nhiệm vụ Thư Ký Tòa Soạn. Sau khi rời trường, công việc “văn nghệ nhàn nhã này, Sương Biên Thùy giao lại cho các anh Dương Cự, Dương Kiền cùng nhiều anh khác, chậm chận đến với KBC 4100. Sương BiênThùy về Tiểu Khu Bình Thuận. Một năm ở hai đại đội tác chiến, không rõ ông có dịp bắn phát nào chưa. Số sướng tiếp tục sướng, hay nhờ khả năng, ông được về làm sĩ quan Chính Huấn cho Đại đội Chiến Tranh Chính Trị. Thật khó tin, nếu nói ngẫu nhiên ông Hà Thúc Ký chấm ông ra ứng cử dân biểu. Sương Biên Thùy đã dọn đường chính trị cho mình đi. Suốt cả một năm ông viết bình luận thời sự chính trị cho nhật báo Da Vàng theo khuynh hướng Đại Việt, do dân biểu Nguyễn Lý Tưởng làm chủ nhiệm. Ông Hà Thúc Ký xem nhà thơ như lý tuyết gia của đảng mình. Sương Biên Thùy cho biết ông chọn thế đối lập với chính phủ khi tranh luận kiếm phiếu. Thất bại như nhà thơ Nguyễn Đông Giang, ông bị đổi lên chỗ lý tưởng, thú vị hơn: Đà Lạt. tại đây ông lại làm sĩ quan Chính Huấn, Sau một thời gian chuyển sang chi khu Lạc Dương, làm trưởng Ban 5, cho đến ngày tan hàng mà không được hô “có gắng” như trong quân trường.

Một số dấu ấn trong thời gian này của Sương Biên Thùy, dựa theo “Bản Phác Họa Tiểu Sử của chính ông thực hiện:

– Năm 1971: bút chiến với nhà văn Uyên Thao về chủ đề “Con Ngựa Gỗ Ấn Quang và Thành Troy Nam Việt Nam” trên tuần báo Đời của Chu Tử.

– Chủ nhiệm tạp chí Quê Hương, bên cạnh chủ bút Nguyễn Bắc Sơn và các bạn Từ Thế Mộng, Nguyễn Như Mây, Thương Đài Giao, Tạ Chí ĐạiTrường, Thái Phi Kích. Đây là tờ báo đầu tiên của tỉnh Bình Thuận, tiếc báo chỉ sống được có hai số.

–  Năm 1972, nhân danh thi sĩ Việt Nam , Sương Biên Thùy, đề nghị Một Giải Pháp Hòa Bình Cho Chiến Tranh Việt Nam bên cạnh những giải pháp của Nixon, Lê Đức Thọ. (phổ biến trên nhiều nhật báo và lưỡng viện quốc hội).

Sau 30 tháng 4 năm 1975, cũng như mọi sĩ quan, công chức, cảnh sát của VNCH, Sương Biên Thùy bị tập trung cải tạo 15 ngày, nhưng hầu hết kéo dài trong nhiều năm hành xác để trả thù, để tận dụng sức lao động và cũng để tỏ ra nhân cách, tác phong lẫn quyền hành của phe may mắn thắng trận. Sương Biên Thùy tiêu phí 3102 ngày đời mình để chi trả cho cái giá giải phóng miền Nam. Mười trại tù nhà thơ xem như mười ngôi chùa từ Nam ra Bắc. Sự so sánh này tôi không đồng ý mấy, Bởi chùa dù gì cũng còn có đức tin, niềm tin. Sống dưới bóng tượng Phật, nhà tu hành dẫu sao cũng còn có tình người. So sánh bằng chua xót mỉa mai cũng nên cân nhắc. Tịnh tâm trong chùa dễ, tịnh tâm trong nhà tù khó hơn, người trong cuộc không khó cảm nhận được. Có thể là hình thức tranh đấu bất bạo động, nhưng hẳn không phải là một cách tu. Sương Biên Thùy còn đi xa hơn, ông treo cổ tự tử, sau khi viết hai tâm thư gởi cho Lê Duẩn và cho Ban giám thị trại về việc cải thiện chế độ lao tù. Sự việc xảy ra trong đêm 20 tháng 7 năm 1979 tại trại  K4\Tân Lập\ Vĩnh Phú. Tôi xem đây như là một lãng mạn dễ thương của một nhà thơ, nhưng ít ai có thể làm được như ông, chính vì thế tỏ ra được sự bản lĩnh trước gian nan của ông. Một tiếng nói vô vọng nhưng cần thiết.

Sương Biên Thùy được xuất trại vào ngày 30 tháng 11 năm 1983. Giam nhốt, bóc lột sức lao động, nhồi sọ hoài cũng phải chán, thả dần tù nhân chính trị là điều đương nhiên. Trên giấy xuất trại chắc chắn không thiếu dòng “cải tạo tốt”. Tốt nghiệp đại học nào, đa phần sinh viên đều đi lên cuộc đời. Chỉ duy xuất thân từ “Đại Học Máu” theo dạng nhà văn Hà Thúc Sinh, không thoát khỏi giai đoạn đầu, “hoáng tráng” đi xuống. Riêng Sương Biên Thùy, ông gia nhập vào đội ngũ “thợ đụng” và xuất sắc trải qua các công việc, phù hợp với câu thần chú “lao động là vinh quang” như thợ hồ, thợ mộc, thợ sửa xe đạp, đứng bếp từ phụ đến trưởng,  đi chùi nhà vệ sinh, đi bỏ mối cà phê, thuốc lá bia rượu, nuôi heo nuôi gà nuôi mèo nuôi chó, trồng nho trồng khoai, chơi luôn nghề làm chủ quán nhậu. Bạn tôi có một số vinh quang như ông nào là Lê Vĩnh Thọ, Nguyễn Đông Giang, Hà Nguyên Thạch, Vĩnh Điện…kể khó đầy đủ. Trong cái vinh quang lao động mới, thỉnh thoảng loé lên những thú vị bất ngờ. Hành nghề xích xô sẽ có diễm phúc “… chở em đôi bận đâm vơ vẩn buồn (LH)..”. Vào nghề vá xe thì không thiếu những tấm lòng ái ngại của nữ sắc, vốn hấp thụ tròn đầy văn hóa tình người miền nam “…một hôm em rất vô tình \dắt xe vào vá bực mình ngó ta \ vì sao kín đáo thở ra \ta về thao thức nhớ ba bốn ngày…”(LH).

Cái thú của tên ra trại Lê Văn Chính, cao đến mức tưởng mình “là cha bộ đội” khi được những “anh hùng” này nhã nhặn hỏi xin tiền. Và rồi với bản tính bốc đồng pha ít nhiều cao ngạo, Sương Biên Thùy đã tự đốt quán nhậu của mình để mừng ngày được phái đoàn Mỹ phỏng vấn, mở ra đường mã qui.

12giờ đêm 10-4-1994 lên máy bay, làm một “ông H.O” khiêm nhường. Bỏ lại sau lưng thành thích văn học thuở đất nước còn chia cắt, những bài viết mang tên Sương Biên Thùy trên các nhật trình Da Vàng, Độc Lập, Hòa Bình, SóngThần, Gió Nam, Quyết Tiến, Tranh Đấu, Quật Khởi… Sáng tác văn học được đi trên: Gió Mới, Ngàn Khơi, Tiền Phong, Nghệ Thuật, Khởi Hành, Văn Học, Quần Chúng và đã trước-bạ cho làng văn miền Nam thi phẩm Nỗi Buồn Nhược Tiểu. Tiếp theo đó là: Lời Phản Kháng Của Những Người Làm Thơ Châu Á (nxb Thái Độ, Sài gòn, 1967), Góp Gió (tuyển tập thơ của 100 nhà thơ quân đội (cục tâm lý chiến ấn hành tại Sài gòn ). Không thể không tiếc nhớ, ngậm ngùi.

Đến Mỹ, đầu tiên gia đình ông sống ở tiểu bang Connecticut. Năm 2005 chuyển sang Texas, không chịu được sức nóng của khí hậu vùng này, đành chạy sang Pittsburgh tiểu bang Penguins và làm công dân tốt đến hôm nay.

Sương Biên Thùy trở lại nghiệp viết nhưng với một bút danh mới Lê Mai Lĩnh. Báo giấy ở khắp thế giới đều có sáng tác của ông, cụ thể trên các báo: Khởi Hành, Hồn Việt, Sài Gòn Times (California), Góp Gió, Chính Nghĩa (Washingtron State), Việt Báo (Colorado), Thế Giớí Mới, US Việt (Texas), Phương Đông, Thăng Long, Asian Times, Dân Chủ Mới (Massechusettes), Thời Mới (Philadelphia), Cỏ Thơm (Virginia), Quốc Gia, Đi Tới (Canada), Quê Mẹ (Pháp), Cánh Én (Đức), Đất Đứng (Na-Uy) tiếng nói của người Việt tỵ nạn Cộng sản tại bang Connecticut. Nhà thơ cũng cho biết Lê Mai Lĩnh là bút hiệu dùng thêm, không phải để thay tên Sương Biên Thùy như lầm tưởng của tôi.

Viết báo thậm chí làm báo, cũng chỉ là mặt chìm trong sinh hoạt văn học nghệ thuật. Tên tuổi của mỗi tác giả sẽ được biết đến rộng rãi hơn, nếu người ấy có cả mặt nổi trong sinh hoạt. Điều này không làm khó được Lê Mai Lĩnh. Ông đã dễ dàng thắp sáng mình qua các công việc:

– Nói chuyện trước gần 1000 đồng hương trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, 23-4-2000, tại thành phố Montréal Canada. Ban chấp hành Cộng Đồng Người Việt của thành phố này đã mời ông đến để trình bày đề tài ” Đã tời lúc cần phải đưa những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ liên quan đến chiến tranh Việt Nam trong hai thập niên 60-70 ra trước vành móng ngựa”.

– Cùng năm 2000, vào tháng 11, Lê Mai Lĩnh nhận lời mời của Tiến sĩ Nguyễn Bá Long, chủ tịch Liên Minh Các Lực Lượng Dân Chủ Việt Nam, để sang Pháp ký vào Hiến Chương 2000, nhằm vận động Dân chủ và Tự do cho Việt Nam. Lê Mai Lĩnh ký tên khi nhân danh văn nghệ  sĩ Việt Nam lưu vong.

Với sinh hoạt thơ văn trong giai đoạn hiện tại của Sương Biên Thùy Lê Mai Lĩnh, chúng ta sẽ rõ hơn khi đọc chính ông vắn gọn:

” Chỉ mới hai năm nay, 2021/ 2022, tôi viết mạnh trở lại. Trong đầu, luôn luôn có chuyện để viết, viết dễ dàng và viết hay bá cháy. Nhưng bà xã đôi lúc “ mắng mõ” tôi. Ông viết làm chi mà thức khuya dậy sớm. Ông muốn chết, bỏ mẹ con tôi lại hay sao. Dù vậy thì tôi vẫn viết dài dài, lúc nào chán, mệt, thì ra vươn bắt sâu, tưới hoa. Người viết văn cũng như cây hoa. Thời sung mãn, phải cho hoa trái (tác phẩm). Nay tôi là lúc thoi thóp, chơ tàn lụn. Tôi có ba giai đoạn sung sức cho văn chương: Trước 1975 / trong tù , 1975 – 1983, Lúc ra Hải ngoại 1994- 2005. Từ 2005 đến 2013 tôi nghỉ viết. Nhưng giữa năm 2013, tôi bị tiếng sét, ngụy sự lắm, tôi làm thơ trở lại liền trong hai năm, viết được gần 300 bài thơ. Nhưng rồi, đọc đi đọc lại, xé bỏ, đốt cháy, cuối cùng còn lại chưa tới 100 bài, cũng là lúc tôi chia tay một cuộc tình” (LML).

Nhân tâm sự trên của ông, xin thông tin những điều lẽ ra không nên tiết lộ, nhưng được nhà thơ bật đèn xanh, tôi thú vị tiến tới luôn:

Trong nghề chơi sáng tác văn thơ đôi khi cũng cần một vài cuộc tình lận lưng. Bản lĩnh, tài hoa, đào hoa thì phơi phới như Sương Biên Thùy. Ngược lại khiêm nhường nhiều mặt, cũng nên vẽ vời ảo tưởng kiểu như tôi, để còn có cái viết chơi. Thơ viết cho vợ, cho con không phải hiếm gặp ở những nhà văn, nhà thơ Việt Nam. Tôi và cố nhà văn Thế Uyên khá phong phú trong chủ đề này. Tôi chưa được đọc thơ Sương Biên Thùy nhiều, đề tài bị gọi nịnh này càng hiếm. Có thể ông áp dụng lối sáng tác cụ thể hơn và thu lượm thành quả tốt đẹp: 

Lê Mai Lĩnh không tin gì thêm, nhưng dù có của rơi của rớt đâu đó, chắc cũng toàn nhân quả tốt. Tôi tin nhà thơ rất giàu có hạnh phúc, đang hưởng nhàn từng ngày trong ấm áp tình gia đình.

“Một lần thấy mặt” của tôi như đã nói trên diễn ra như sau:

Năm 2000 tôi cùng Lý theo xe của vợ chồng nhà văn Song Thao qua thành phố Boston Hoa Kỳ dự thính đêm ra mắt thi phẩm   Đứng Dưới Trời Đổ Nát của nhà thơ Phan Xuân Sinh. Boston của Hoa Kỳ không xa Montréal Canada bao nhiêu, chừng 251 miles, 405 km. Song Thao lái xe, tôi ngồi ngắm phong cảnh, đây là một cái thú “cực kỳ” của riêng tôi. Chúng tôi đến nơi còn sớm, sân khấu của buổi ra mắt sách chưa hoàn thành mục trang trí. Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi và nhiều bạn khác đang gấp rút trong công việc. Giờ trình sách rồi cũng đến. Người lái xe Song Thao không mệt, nhưng tôi tỏ ra uể oải dù chẳng than với ai. Tội nghiệp khúc chân gỗ, lại bị tôi lợi dụng giả đò để thoát việc lên sân khấu phát biểu, mà tôi tin chắc sẽ bị yêu cầu. Đêm hôm đó tôi gặp nhiều nhân vật biết tên, đã có quen hoặc chưa: vợ chồng nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, nhà văn Lâm Chương, nhà thơ Hoàng Lộc, nhà thơ Triều Hoa Đại, họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi, nhà thơ Dư Mỹ, nhà thơ Tóc Dài (Trịnh Thanh Thủy sau này), nhà văn Nguyễn Vĩnh Long, nhà thơ Quan Dương, nhà văn Nguyễn Vĩnh Long, nhà văn Phạm Ngũ Yên, nhà văn Nhật Nguyễn cùng chồng Hữu Việt… có cả nhà văn Hồ Đình Nghiêm của xứ lá phong quê tôi, bạn sang đây trên xe khác, nhưng về cùng, trên xe Song Thao. Buổi ra mát thành công như một điều tất yếu. Tôi và nhiều bạn ngủ qua đêm tại nhà của thi sĩ cựu đại úy Dư Mỹ. Sáng hôm sau uống cà phê nhà Lâm Chương, sau khi anh chị Dư Mỹ đãi ăn sáng. Một ít thời gian ngồi quán tiếp theo để chia tay. Tại đây tôi nhìn thấy một bạn đương ký tặng sách. Nhìn anh thấy khuôn mặt nghiêm nghị, có vẻ ít cười. Dù không chú ý đến nhan sắc như mấy em, nhưng tôi không nhận ra nét xấu trai nào, càng không có nét đáng ghét. Bình thản, tự tin ghê lắm. Tôi cũng được anh ký tặng một cuốn qua tay Trần Trung Đạo giao lại. Nhìn sách thấy tên tác giả Lê Mai Lĩnh. Lạ. Tôi liếc qua với ý định cười cảm ơn. Nhưng anh vẫn đang bận tay không ngó lại. Tôi chứng minh hùng hồn sự thiếu lịch sự của mình, cứ ngồi dòm chừng, ngại đứng dậy qua bắt tay anh. Tôi chưa kịp biết Lê Mai Lĩnh là Sương Biên Thùy, một tên quen ngày xưa. Vài ngày sau biết ra tiếc ơi là tiếc. Xã giao kém sinh ra hậu quả như thế đấy. Sau này thi phẩm của Lê Mai Lĩnh tặng tôi lên Tình Sách phổ biến trên FB, trên Vuông Chiếu thế này:

LÊ MAI LĨNH

THƠ

thời còn là Sương Biên Thùy

thơ theo mây gió ưa đi cả ngày

nắm nhiều hoa lá trong tay

hồn thơ từ đó vơi đầy buồn vui

ngẫm thương thân phận con người

Nỗi Buồn Nhược Tiểu một thời đã qua

“hai mươi năm” ông xa nhà

câu thơ thân thiết đã là bà con

vẫn uất nghẹn nặng tấm lòng

treo cao lên chữ núi sông đọc cùng

ngỡ như tích cực vẫy vùng

thoát thân ra khỏi nghìn trùng bi quan

Luân Hoán

7.52 PM – 16-11-2015

12 câu như trên, đọc lại chẳng thấy nói lên điều gì.  Nhưng thơ đâu nhất thiết phải nói lên điều chi. Nhiều người còn tân tiến nhận định: càng vu vơ ngớ ngẩn càng có hồn thơ hơn. Chơi vần vè trên 50 năm liên tục, thú thật tôi chưa đạt trình độ đúng theo quan niệm này. Hạn chế 12 câu cho mỗi tác giả tặng sách, tôi đã làm khó tôi không ít, rất may tôi đã vượt qua trên số trăm những thân tình như thế.

Sau cái nhìn mặt chớp nhoáng đó, tôi không còn cơ hội nào bắt tay Lê Mai Lĩnh nữa. May những tháng gần đây anh ấy (xin đổi cách xưng hô từ đoạn này) viết nhiều, tôi cũng vui mắt đọc nên tìm ra sự thận thiện. Lê Mai Lĩnh tự nhận đang viết dễ dàng, viết hay và đề tài phong phú. Tôi tin sự thành thật này. Ở một giai đoạn hứng thú nào đó, nhất là sau một chặng dài bế tắc, người ghiện viết sẽ thấy mình có khả năng phi thường; không so với ai, so với chính mình cũng đủ thú. Với rộng lòng của FB có thể gõ hàng giờ, qua từng ngày, vì thế Lê Mai Lĩnh đã cho nhiều người, trong đó có tôi được đọc nhiều bài anh viết thật thú vị của anh. Công kỹ, nghiêm túc và theo phong cách riêng biệt thật hấp dẫn như các bài “Du Tử Lê vị hoàng đế hay tên nô lệ tình yêu”, “Trịnh Công Sơn, thảm kịch một thiên tài” hay những bài viết về Tô Thùy Yên, về Nguyễn Bắc Sơn (Đường bay của một thiên tài) vv…. Phong phú tư liệu, nhận định sắt nét, dùng chữ khéo léo và lồ lộ cái tôi đầy tự mãn, chính là yếu điểm đã giúp Lê Mai Lĩnh được chú ý nhiều hơn. Tôi không dẫn chứng cụ thể nào, vì như vậy sẽ quá dài, có thể bị cắt bớt khi dán lên FB (bài viết về Trịnh Cung tôi đã cân nhắc bỏ nhiều đoạn). Tôi cũng thấy nhiều bạn văn viết về Lê Mai Lĩnh, như các anh Châu Thạch, Như Không, Trần Thoại Nguyên … ở giai đoạn hiện thời. Nếu tính về trước, đội ngũ vỗ tay tán thưởng anh còn hùng hậu hơn. Sẵn danh sách, tôi kể luôn ra: Tuệ Chương, Nguyễn Bá Dĩnh, Cao Thị Đồng Phước, Phùng Văn Nguyên, Vũ Thị Minh Dung, Chu Tấn, Cung Vũ, Doãn Quốc Sỹ, Đỗ Văn Phúc, Hà Kỳ Lam, Hồ Minh Sơn, Hồ Minh Dũng, Huy Phương, Kinh Dương Vương, Lê Đình Cai, Lâm Lễ Trinh, Lương Thư Trung, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Ngũ Yên, Phan Xuân Sinh, Thái Tú Hạp,Thân Thị Trọng Kim,Trần Mộng Lâm, Trần Hoài Thư,Trần Ngân Tiêu, Võ Phiến, Trương Thi Thu Huyền. Những tác giả này chung tay phác họa một “nhan sắc thi sĩ”. (tên đề của bản thông tin trên FB LML). Bản chưng này na ná như một bìa sách. Nếu là sách không rõ đã được in ấn trình làng chưa. Nhưng dù in, tôi cũng tin đây là một tập hợp những lời khen tặng trong thân tình cùng xã giao.

Những lời khen đã làm người làm thơ Lê Mai Lĩnh bội thực ? có thể vì vậy, anh đề nghị tôi nếu có dựa hơi anh, thì hãy chê tích cực vào. Anh cần đọc những lời chê. Hóa ra Lê Mai Lĩnh cũng là một Tào Tháo đa nghi. Tiếc, tôi viết chơi chơi về các bạn văn theo cách cố hữu của mình, không thể và không muốn làm khác đi. Tôi nghe đâu đó, Sương Biên Thùy còn có một biệt danh “Lê Mai Nổ”. Nếu thật, đây đã là một lời ngược với khen.

Ở vào tuổi chúng tôi, tám mươi trở lên, việc tự chê mình gần như là một thú tiêu khiển học từ cổ nhân. Cũng ở tuổi này mình dễ biết mình đáng chê ở những điểm nào, nên Lê Mai Lĩnh, người cùng thời với tôi, xin đừng quá bận tậm.

Cuối cùng, tôi biết có bạn sẽ thắc mắc, tôi đã dựa hơi nhà thơ Sương BiênThùy Lê Mai Lĩnh ở những điểm nào. Dựa Hơi có là chính xác ?

Xin thưa, dựa hơi tôi dùng đủ cả hai vế. Nhưng Đen thì luôn nhạt nhòa, trái lại vế Bóng thì đậm đà hơn. Vịn một người để viết là gầy “cái tôi” sống trong mớ chữ đó, và như thế chính là Dựa Hơi một cách cụ thể, tức thì.

Viết về một nhà thơ, theo kiểu không nặng chủ yếu đề cập đến tác phẩm, cũng nên trích, tôi xin làm điều đó thay kết thúc bài viết.

ĐÀ LẠT,

TRONG NỖI NHỚ 

Ngày ra đi,

Không nói lời Vĩnh biệt.

Hẹn mai về,

Đà Lạt, rộn rã tiếng vui.

MIMOSA trong lòng ta,

Tha thiết.

Giờ xa nhau,

Nỗi nhớ ngậm ngùi …

Mai ta về,

Phố xưa,

Hoa vẫn nở.

Hoa bốn mùa, thơm ngát,

Dấu chân quen.

Con đường xưa,

Cuộc tình,

Hương tóc rối,

Em đềm ta

Ru giấc ngủ ,

Đêm đêm.

Phố gập gềnh,

Đường quen,

Nẻo thuộc.

Tà áo nào, đưa lối ta về,

Chân lạc loài, bờ xa,

Vầng trán lạ,

Ửng Hồng em,

Đôi má,

Ta u mê.

Mai ta về

Thiên đường xưa rộng mở,

Nồng nàn em,

Đắm đuối,

Suối hôn mê.

Mai ta về,

Cây trái đời rực rỡ.

Nụ hôn xưa,

Giờ gởi gió, đưa về.

SBT

1979/ tù / Vĩnh Phú

ÁO LỤA VÀNG 

Này cô em, mặc áo lụa vàng

Thướt tha trong gió, vờn như bướm

Làm ơn, xin cô em chậm lại

Họa may ra, tôi mới được gần.

Được gần cô, là điều diễm phước

Được gần cô, tôi mong gì hơn

Mong gì hơn, dẫu chỉ phút giây

Thiên thu tôi, hương em ngào ngạt.

Cô cứ đi và tôi cứ theo

Xin cô đừng đứng lại làm gì

Tôi cứ theo và cô cứ đi

Cứ loáng thoáng một trời lãng đãng.

Cô cứ đi và tôi cứ theo

Và cứ thế, không nhanh không chậm

Rồi chúng mình cũng gặp nhau thôi

Không suối vàng, cũng vào mộ chí.

Này cô em, mặc áo lụa vàng

Hãy chầm chậm như thế mà đi

Nay tôi, gã tình si mê mải

Hơn một chút khùng, lẽo đẽo theo.

Này cô em, mặc áo lụa vàng

Áo vàng có, làm tôi vàng mắt

Tôi vàng mắt, nhưng tôi vui lắm

Nhờ áo vàng cô, đời thêm thắm.

Cảm ơn cô em áo lụa vàng

Đời hắn không vui, thiếu lúa vàng

Đời thiếu lụa vàng, đời buồn lạ

Cảm ơn em, cô gái lụa vàng.

(tặng người học trò mặc áo lụa vàng

 thơ tình năm 72 )

Lê Mai Lĩnh

*Bài do nhà thơ LML chuyển đến TV&BH.