T.Vấn

& Bạn Hữu

Văn Học và Đời Sống

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 231)

Share on facebook
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Truyện chớp: Tiếng ve

Tôi đã sống qua bao mùa hạ, vẫn không hiểu được tiếng ve kêu.

Chữ nghĩa làng văn

Nhưng ngắn đến thế nào, chữ này thiệt là tương đối. Giáo sư X.J. Kennedy, trong quyển Literature thường dùng ở năm đầu của văn chương Anh Mỹ ở đại học Mỹ nhắc đến một truyện ngắn của Thomas Bailey Aldrich chỉ dài độc có ba dòng:

‘Một thiếu phụ đang ngồi trong căn nhà cũ kỹ, đóng kín, biết rằng chỉ có mình mình trơ trọi trên thế giới này. Tất cả đều đã bị tiêu hủy. Chuông cửa reo‘.

Từ đây nẩy sinh ra truyện chớp (hay truyện vừa)

(Vài suy nghĩ về truyện ngắn – Nguyễn Văn Sâm)

Chữ nghĩa làng văn

(…trích lục lại)

Gần đây một số nhà văn hiện đại dùng lối kết bỏ lửng như Địa ngục môn của Nhật với mở ra nhiều hướng để người đọc suy nghĩ khác nhau như Gregorio Fluentes (Mễ Tây Cơ) hay Nguyễn Huy Thiệp với Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết.

(Trần Bích San – Văn Khảo)

Truyện cực ngắn: Chuyện văn chương
Hắn mê văn chương đến độ nhìn cái gì hắn cũng thấy ra hình chữ. Ngay cả vợ hắn cũng xuất hiện dưới mắt hắn như một con chữ ngọ nguậy. Con chữ ấy nói chuyện với hắn, cơm nước cho hắn, săn sóc hắn, vuốt ve hắn, hờn giận hắn. Con chữ ấy quằn quại và lâu lâu lại rên lên khe khẽ dưới bụng hắn. Ðến khi con chữ ấy bỏ hắn ra đi, ngồi một mình trong căn nhà lặng ngắt, hắn mới thấy, thấp thoáng từ xa, thật xa, hình ảnh thật, bằng xương bằng thịt, của vợ hắn. Lần đầu.

Gà mở cửa mả

Theo phong tục xưa khi chôn ai được ba ngày thì rước thầy cúng

Lễ mở cửa mả. Lễ vật ngoài hương đèn, hoa quả còn bộ tam sên:

– Trứng, con cua luộc và miếng thịt ba rọi

– Và một con gà mái còn sống.

Con gà này được buộc giây vào một chân rồi dắt đi quanh mả.

Sau đó thả gà cho đi đâu thì đi. Gà phải đơ/i làm lễ, vừa bơ vơ,

vừa mệt nên ngơ ngơ không biết đi đâu nữa.

Ngụ ý câu thành ngữ trên chỉ những người lúc nào cũng ngơ

ngơ, ngác ngác như…gà mở cửa mả.

(Việt Chương – Thành ngữ, tục ngữ, ca dao VN)

Mỗ giáp

Mỗ giáp: chúng tôi – ngôi thứ nhất

(ấy vậy nay mỗ giáp kính lễ)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Chữ nghĩa làng văn

Các truyện dài khoảng ba, bốn trang được kể là truyện ngắn Chẳng hạn: “Bức Thư Gửi Cho Thượng Ðế” (A Letter To God) của nhà văn Mễ Tây Cơ Gregorio Lopez Y Fuentes đăng trong ‘Great Short Story of The World’ – 1974.

Truyện kể về anh nông dân Lencho, quá nghèo, năm nọ bị nạn hạn hán, gia đình sắp chết đói, viết thư gởi lên Thượng Ðế xin được cứu giúp. Một nhân viên bưu điện thấy thơ, xúc động bàn với các đồng sự cứu giúp bằng cách cùng nhau góp tiền. Ác thay họ chỉ góp được có bảy chục pesos thay vì một trăm như Lencho xin. Nhận được tiền, Lencho tức giận viết thêm một bức thơ nữa: ‘Thưa Thượng Ðế, về chuyện tiền con xin Ngài giúp đỡ, con chỉ nhận được có bảy chục pesos. Xin Ngài gửi đến con số còn lại, con rất cần. Xin Ngài chớ gởi qua đường bưu điện vì nhân viên bưu điện là một bọn ăn chận.

Truyện chấm dứt ở đó. Tác giả bỏ lửng làm cho truyện mở ra nhiều chiều hướng… mà ta vẫn không hiểu được chính ý của tác giả. Vậy thì viết ngắn, bỏ lửng, không nói hết cũng có cái lợi của nó! Cái lợi ở chỗ gợi lên những gì tác giả khỏi mất công đi sâu.

(Vài suy nghĩ về truyện ngắn – Nguyễn Văn Sâm)

Một trong triệu chứng nhận ra mình đã…”già”

Thích người khác để ý và săn sóc mình nhiều hơn xưa..

Chữ nghĩa với ca dao

Hỏi cô yếm thắm bùa đeo

Bác mẹ có bán anh mua nửa người

Anh mua từ rốn đến đùi

Từ bụng đến mặt, mặc trời với em

Vú em chum chúm chũm cau

Cho anh rờ thử có đau anh đền

Vú em chỉ đáng một tiền

Cho anh rờ thử anh đền năm quan

Nhất kiến như cựu thức

Kiến: thấy – Cựu: xưa – Thức: biết

Thành ngữ Hán Việt đây hiểu là cơ may lần đầu gặp người

như “Bá Nha Tử Kỳ”, làm như đã biết nhau từ lâu lắm rồi.

(Việt Chương – Thành ngữ, tục ngữ, ca dao VN)

Tình dục trong văn chương cổ (2)

Cuộc gặp gỡ ở vườn hoa xây dựng những tài tử giai nhân, sẵn sàng vượt qua lễ giáo. Cả hai chị em Lan và Huệ cùng yêu say đắm công tử họ Triệu, giúp nhau cơ hội tiếp xúc với chàng, thậm chí nhường nhau trong buổi giao hoan cùng chàng, rồi cuối cùng là cùng chung “tận hưởng cuộc hoan lạc trong cõi nhân gian, không còn biết Triệu là Triệu, Lan – Huệ là Lan – Huệ nữa”.

Ở một đoạn khác, tác giả còn để cho Triệu Công tử đề nghị hai tiểu thư Lan và Huệ kéo cả hai thị nữ Xuân Hoa và Thu Nguyệt vào cuộc và hai tiểu thư cũng đồng ý. Thế là một chàng công tử làn lượt giao hoan với hai tiểu thư, cô em trước, cô chị sau, rồi sau đó đến lượt hai cô thị nữ nữa.

Dưới đây, xin trích một vài đoạn từ bản dịch của GS. Nhà văn Phan Văn Các, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm:

“…Sinh (Triệu Kiệu) cả mừng, đưa tay vuốt ve Lan mà nói rằng:

–  Nàng hết lòng vì tôi vậy, có thể gọi là con người hữu tâm đó.

Bèn kéo Lan vào lòng, một tay kéo đùi nàng, tay kia mân mê đôi vú, cười mà bảo rằng:

–  Tuyệt thật, vừa mềm vừa ấm, hệt như thịt đầu gà”.

***
“…Lúc này lòng dục của Sinh chợt nổi lên. Chàng bước tới ôm lấy mà nói:

–  Nàng đâu có giữ lời hứa như Quý Bố, tôi đã biết rồi. Phen này tôi quyết chẳng chịu ra về không nữa.

Nói xong cố sức đẩy Huệ xuống gối. Huệ cũng không chống cự.

Trong đệm phù dung hải đường máu nhuộm, dưới chăn phỉ thúy, đan quế hương bay. Mày ngài liên hồi chớp chớp mặc cho bướm lượn săn tìm, mắt phượng lim dim mơ màng, không cấm ong bay hút mật. Xiêm màu phấp phới khác nào mưa trút hoa sen, tóc mây rối bời, hệt như gió thổi cành dương. Thật là một khắc ngàn vàng, chỉ giận đêm vui quá ngắn”.
“…Hai nàng nhường nhau hồi lâu, Sinh không thể tự chủ được nữa bèn một tay kéo lấy vài Lan, tay kia mân mê vú Huệ, mặc sức đùa cợt trong chăn phỉ thúy, tận hưởng cuộc hoan lạc trong cõi nhân gian, không biết Sinh là Sinh, Lan Huệ là Lan Huệ nữa”.

(Hoa viên kỳ ngộ – Nguyễn Xuân Diện)

Một trong triệu chứng nhận ra mình đã…”già”

Vẫn mê ăn phở, nhưng thích bánh phở thật là mềm.

Đất lề quê thói với phong tục cổ truyền

Khâm liệm

Theo Phan Kế Bính:”Lấy nghĩa, người ta bởi đất sinh thì chết lại về với đất”.

Vả chăng, trong cơ thể người chết còn có điện trường sinh học, làm như vậy khả năng tích điện âm trong cơ thể người chết mới được giải thoát, đó là một phương thuật phòng xa hiện tượng “Quỷ nhập tràng”.

Chữ nghĩa với ca dao

Một ngày ba bận trèo đèo,
Vì ai vú xẹp, lưng teo hỡi chàng?

Ai đời chồng thấp, vợ cao,

Rờ vú không tới lấy sào mà quơ.    

Rượu…“ngoại”

Ngoài 4 hãng trên còn những hãng nhỏ và mới thành lập là:

Camus, Otis, Delamain, Baluuet, Hin, Otard, Comandon, Napoléon, v…v…

Ngoài ra để…“khuyến mại”, có một số hãng rượu nhỏ tạo những đặc thù riêng như Croizet Inconnu, Frapin Chateau de Frontpoint chỉ giới hạn 2000 chai mà thôi, không bán nguyên thùng, không bán ở Paris, muốn mua phải tới tận nơi.

Phụ đính: Trước kia trong “gia phả” Rémy Martin…”cấmkhông được xuất cảng rượu của mình sang Anh và Mỹ.

Rémy Martin có một loại rượu chỉ sản xuất 12000 chai một năm. Trong khi Courvoisier cùng có loại rượu 7000 chai một năm.

7 Ngộ chữ với Thiền

Con cá chép

Sách Phật kể rằng trong một kiếp, Đề Bà Đạt Đa và Phật cùng đầu thai làm con cá chép.

Con cá chép là Đề Bà Đạt Đa chỉ thích bơi vào chỗ dòng nước trong vắt để phô bày cái hình dáng tuyệt đẹp của mình. Những giống xấu xí khác như cá mại, cá mè, cả lũ đòng đong cân cấn cứ rùng rùng bám theo, vừa bơi vừa luôn miệng trầm trồ. Trái lại, con cá chép là Phật thì chỉ luẩn quẩn trong những chỗ nước đục, chẳng con nào thèm để ý tới làm gì. Một bữa có con chim bói cá đậu trên cây nhòm xuống. Trong làn nước trong vắt, nó nom rõ con cá chép Đề Bà Đạt Đa, liền lao xuống đớp gọn rồi nuốt chửng vào bụng. Đề Bà Đạt Đa chui vào bụng con bói cá, chẳng bao lâu bị nó tiêu hoá, biến thành một cục phân. Con bói cá bay qua sông, ỉa cục phân đó xuống giữa đàn cá vẫn thường bơi theo Đề Bà Đạt Đa khi trước. Lập tức, từ cá mại, cá mè đến lũ đòng đong cân cấn đều tỏ ra hết sức ghê tởm. Con nào con nấy vội cố hết sức bơi vào chỗ nước đục để lẩn trốn.

Sau đây là mẩu đối thoại giữa cục phân Đề Bà Đạt Đa và Phật:
“Ngài thấy tôi bây giờ so với trước thế nào?” – cục phân hỏi.
“Không khác gì cả” – Phật trả lời.
“Thế tại sao lũ mạt hạng kia giờ lại xa lánh tôi?” – cục phân tiếp.
“Bởi giờ chúng mới nhìn rõ ngài thực ra là cái gì” – Phật trả lời.
“Ôi! Giá như ta đừng chọn chỗ nước trong” – cục phân than thở.
Câu chuyện chỉ đơn giản thế. Vậy mà có một số học thuyết rất đứng đắn đã căn cứ vào đó để chứng minh một cách đầy thuyết phục, rằng Đề Bà Đạt Đa nếu không là thuỷ tổ của cả loài người nói chung, thì ít nhất cũng là thuỷ tổ của cái giống mũi tẹt da vàng.

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Chim khôn chim ngẩng cao đầu

Bướm khôn bướm đậu trên đầu con chim

Chữ và nghĩa

Bỏng trong từ bé bỏng có nghĩa là “nhỏ”. Trong tập thơ cổ Thiên Nam ngữ lục có câu thơ sử dụng từ bỏng với nghĩa này:
Trẻ thơ bỏng dại thiếu người lo toan
Hai từ bé và bỏng đồng nghĩa hay gần nghĩa kết hợp với nhau. Ðó là hiện tượng láy nghĩa.

Nhiều từ trong tiếng Việt bị chi phối bởi hiện tượng láy nghĩa này:  tìm kiếm, chờ đợi, yêu thương. 

(Vài hiện tượng thú vị trong tiếng Việt – Lê Trung Hà)

8 Ngộ chữ với Thiền

Thơ Thiền

Trần gian vốn là mộng

Thực hư cũng là mộng

Say mộng hay tỉnh mộng

Vẫn là mộng mà thôi

“Thuyền-Sư-Không-Bến”

1 Hùng Vương với truyện Sơn Tinh và Thủy Tinh

“Sử ky” về Hùng Vương lần đầu tiên xuất hiện trong Việt Điện U Linh Tập qua truyện Sơn Tình Thủy Tinh của Lý Tế Xuyên vào đời Trần thế kỷ 14 dựa vào Giao Châu Ký của Tăng Cổn và Triệu Xương khi Tăng Cổn làm Thứ sử Giao Châu:

“…Xét Giao Châu ký của Tăng Công chép rằng: Vương là Sơn Tinh và Thủy Tinh làm bạn rất thân thiết ở ẩn tại động Châu Phong

Hùng Vương có người con gái tên là Mỵ Nương, dung mạo tuyệt luân, nhan sắc khuynh thành. Thục Vương Phán sai sứ sang cầu hôn, vua muốn gả. Quan Lạc hầu cản rằng: 

– Ông ấy muốn dòm dỏ nước ta đó.

Hùng Vương sợ sinh ra hiềm khích…”

Theo nhà biên khảo, giáo sư Lê Hữu Mục bình phẩm thì vua Hùng Vương, chỉ là nhân vật phụ trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh. Và theo ông thì:

 “…Nhưng linh động và hồn nhiên nhất là giai thoại giữa Hùng Vương và quan Lạc hầu. Hùng Vương trong chuyện này là ông nhu nhược và ba phải. Qua đối thọai với quan Lạc hầu, nói lời nào chỉ thấy “vua muốn gả”,  “vua sợ”, “vua cả mừng”, “Hùng Vương mừng lắm” và “Hùng Vương cho là phải”..v..v..

Tài viết truyện của Lý Tế Xuyên là ở chỗ ấy. Ông làm cho người đọc theo dõi câu chuyện từng chi tiết nhỏ nhặt. Độc giả đọc từ chuyện này sang chuyện kia, càng đọc càng thấy thích thú…”

(Giáo sư Lê Hữu Mục: Việt Điện U Linh Tập – 1960)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Bướm rừng như chiếc lá đa

Bướm nhà như chiếc bàn là Liên Xô

Chữ và nghĩa

Người Nam thường bảo trẻ con đi chỗ khác chơi, không được láng cháng trước mặt. Nhưng trong từ điển của Huỳnh Tịnh Của đã nói ở trên ghi loán choán. Như vậy từ gốc là choán, yếu tố láy là loán và nghĩa gốc của láng cháng là “choán chỗ”.

Ðây là hiện tượng biến âm.

(Vài hiện tượng thú vị trong tiếng Việt – Lê Trung Hà)

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

©T.Vấn 2022