T.Vấn

& Bạn Hữu

Văn Học và Đời Sống

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: Mai đây (Câu thơ tìm nhau) (2)

Share on facebook
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Gậy trúc khua cua – Tranh: Thanh Châu

Ngồi trên chuyến xe “búyt” liên bang, thả mắt nhìn ta ngòai cánh đồng lúa mới, ngắm con bò, con ngựa thảnh thơi gặm cỏ giống ở đất quê nhà…Ai chẳng có lúc thả hồn theo mây khói, lão cũng vậy, để đẩy đưa qua con bò đến con trâu cũng chỉ là cái lẽ tự nhiên của đất trời của một kẻ xa xứ. Rồi lão liên tưởng từ con trâu to đùng đến con chuột nhắt bé tí teo thì quả tình có nhen nhúm len lỏi trong tâm khảm lão từ lúc bước lên xe. Vì rằng lão đang phóng mắt về phía trước, lão thấy hai thanh đường sắt xe lửa chạy song song, chạy ngút ngàn trước mặt để chẳng bao giờ gặp nhau…Mà bây giờ, quá nửa đời người  lão mường tượng rồi ra sẽ sắp gặp lại người xưa, cũng chính  là “bạn già” trong chuyến rong ruổi này và lão thả hồn đi hoang về một chuyện cũ.

      Chuyện là sau đấy mươi năm, thằng ngốc trổ mã hơn nên cả nhà gọi là thằng ngốc nhớn. Một bữa, thằng ngốc nhớn thèm ăn tép đồng kho tương, bèn ghé trại di cư thăm bà bác nhà quê đặc và được nghe bà kể chuyện cái Sửu bỏ học đi lấy chồng. Bà tung tẩy: “Chồng nó đóng quan một cơ đấy, mày ạ” (thiếu úy). Vừa lúc ngốc nhớn, nhớn nhác nhúng nhúng cái chõng tre xem còn “cót két” nữa không, bắt được quả tang, bà bác nhìn ngốc lắc đầu, chép miệng: “Nhất chặt tre nhì ve gái, tao ngỡ hồi đó mày…nàm nó trương phềnh…nên ấy chứ”. Thằng ngốc nhớn cắm đầu xuống cái chiếu, nhủ thầm hóa ra vải thưa không che được mắt thánh. Tiếp bà đong đẩy vào chuyện: “Nói dại chứ, gái một con trông mòn con mắt, dạo này người ngợm nó cứ nhẫy ra. Ngốc nhớn bấu cuống chiếu, nuốt nước bọt ừng ực. Bỗng không đâu, bà chửi té tát: “Mẹ cha con Sửu chết tiệt này, ấy vậy mà số khổ như…trâu”. Thằng ngốc nhớn không hỏi nhưng ngước mắt thăm dọ, bà phẩy tay: “Gái góa rồi mày ơi, rõ cám hấp”. Ngốc nhớn chưng hửng, bà vén môi: “Này, mày có ăn tép đồng kho tương không thì bảo”. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, ngốc nhớn còn bụng dạ nào mà ăn với uống, chưa kịp đứng lên bà đã nói đổng, nói như hát: “Đẹp như cái tép kho tương – Kho đi kho…nại khéo trương phềnh phềnh”. Vẫn chưa tha thằng ngốc, bà bật cười khanh khách và mắng ngốc nhớn xa xả: “Mẹ bố mày, bà dậy khôn mà mày cứ ngu như…nợn”.

       Ấy đấy, bà bác thằng ngốc nhớn tuyềnh tòang vậy đấy, nhưng nghe lào thào qua bà và dấu ấn sâu đậm nhất trong đầu ngốc nhớn là cái Sửu có chồng tử trận ở trận Đồng Xòai năm nào, nên trong thâm tâm thằng ngốc nhớn cũng lất lây chút ngậm ngùi cùng bâng khuâng và tất cả hời hợt chỉ có bấy nhiêu. Vì khỏang thời gian này, đường mưa ướt đất với đầu Tự Do, cuối Lê Lợi, thằng ngốc nhớn còn bận bịu lềnh bềnh với những cuộc tình bên hè phố. Trong tim gan nặng chĩu với những vần thơ tình một thời của nhà thơ Nguyền Tất Nhiên với một cô Bắc kỳ nho nhỏ tên Diệu ẩn khuất qua hai câu thơ “Trước khi vào đám đông – Cô có thương thầm anh không”. Cũng chẳng dấu gì, vì thằng ngốc cũng đang âm thầm còm cõi đi tìm một cô Bắc kỳ khác đang nhởn nhơ ở đầu đường cuối ngõ nào đó, sau cũng gặp và một sớm một chiều thành vợ thành chồng, đẻ con, sinh cháu như chuyện đời thường. Cái tên một thời như tan lõang, ẩn khuất vào ngõ ngách trong tâm khảm lúc nào thằng ngốc nhớn cũng chẳng hay và ngốc nhớn, có khôn nhà dại chợ cách mấy cũng chẳng đến nỗi…rồ như bà bác tưởng….

       Cho đến một ngày…”Gã”.

       Hay nói khác đi “gã” là hình hài bóng dáng của “lão” hai mươi năm về trước.

       Mây vẫn bay ngày vẫn trôi đi, thuở ấy, đất khách quê người, một sáng cuối tuần gã đọc được một truyện ngắn của một người viết nữ viết về tuổi học trò, vào Nam có một khỏang thời gian sống ở trại di cư Tân Chí Linh, tiếp là thân phận người vợ trẻ trong thời chiến có chồng là lính chết trong trận Ấp Bắc, Đồng Xòai. Người vợ trẻ ở vậy nuôi con với những dằn vặt cùng những khát khao, đòi hỏi vào cái lúc nửa đêm về sáng…“tôi nhìn tôi trên vách”…Đọc xong truyện ngắn này, gã ngẩn ngơ, ngơ ngẩn như người cũ đã thấp thóang qua cái bút hiệu Ngày Xưa Hòang thị, ẩn dụ là cái tên Sửu. Để rồi cả một chuỗi quá khứ với cái tuổi mười ba, mười bốn, thập thò cùng nhớ với mong, đợi với chờ, ơi ới rủ nhau kéo về lũ lượt. Mặc dù bằng vào cái tuổi ấy, gã thiếu vắng với người xưa cùng con đường tình ta đi với “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ…”. Tối hôm đó, trong gã cũng đầy ắp những quan hòai mong và nhớ, gã căng óc ra suy nghĩ và bật ra cái ý tưởng, gửi một bài viết lẩn quẩn về cái tuổi mới lớn của gã.

       Truyện của gã cũng viết về miền Nam sáng mưa chiều nắng, gửi gấm trong đó có đọan đường xưa lối cũ chẳng văn vẻ gì cho lắm: “Trại di cư Tân Chí Linh gần ngã ba Ông Tạ. Ai chẳng sợ phát khiếp phải đi qua cái ao nuôi cá tra, ven bờ ao là mấy cái chòi quây phên nứa cao nghễu nghện, để nhìn thấy những thỏi phân người dài ngoằng, xám xịt, to như cái cán dao rơi xuống nước kêu lòm bõm…Cục phân rơi xuống nước một cái tỏm, để chẳng thấy tình tự chân quê với “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí – Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo”. Vì một bầy cá đợi sẵn từ…nửa khuya đèn vàng, đua nhau nhẩy lên mặt ao rào rào, tranh nhau đớp lấy đớp để, con nào con nấy béo nhẫy và tròn quay”.

        Chữ nghĩa cứ rối rít cả lên, biết vậy, gã dấm dúi khúc thơ của một thằng bạn cũ trường xưa, mờ nhân ảo với thân phận già trước tuổi của gã và hẹn có ngày sẽ gặp lại “Xứ người lưu lạc nay tao ngộ – Tóc bạc da mồi, dạ vấn vương” và cũng để dọ dẫm…”người ta” nay phòng không đơn chiếc, cùng những óai oăm bên bờ đôi ngả của riêng gã và gã buông lơi  “Rượu chuốc đầy vơi đong kỷ niệm – Cùng nhau vui cạn chén quỳnh tương”. Gã cũng chẳng quên tra lục cho chính mình một cái bút danh nghe chan chứa ngập mùi…xưa cũ, ẩn tàng hào hùng, hào phóng, biểu hiện “từng trải”, “lõi đời”.

        Chẳng chóng thì chầy “người ta” cũng hồi âm gã bằng vào một bài thơ có cái tựa đề “Mai Đây”. Mới thóang cái đề tựa không thôi, gã như phiêu phiêu bay bổng lên mãi tận trời xanh, có ngu lâu đần dai cách mấy, gã cũng hiểu theo nghĩa riêng của gã là người xưa của gã thì với xưa “Lan, huệ sầu ai, lan huệ héo – Lan huệ sầu đời trong héo ngòai tươi” và nay với…một mai “Tóc mai sợi ngắn sợi dài – Lấy nhau chẳng đặng thương hòai ngàn năm”. Thì đâu còn có đó, mới mười giờ sáng cuối tuần và gã nhớ mai mái là vậy, gã nhởn nha ra ngòai vườn, trong một cõi ắng lặng…như mơ, như rằng xưa có gã từ quan lên non tìm động hoa vàng ngủ quên và gã chẳng ngủ quên vì đang mải mò mẫm từng câu từng chữ của người cũ đang đánh thức gã dậy sau giấc mê trần:

                                              Em xin làm vạt nắng bên trời

                                        Hong mỏng tình anh một thóang thôi

                                        Dù chỉ hanh vàng trong khỏanh khắc

                                             Cũng đủ lao đao tận cuối đời

        Và gã lao đao, chao đảo trong nắng hanh vàng có thật đang trải rộng ngòai kia như…không có thật. Gã thả hồn về bên kia biển vắng, dù chỉ trong khỏanh khắc, hồi tưởng đến hai căn nhà cũ xưa cách nhau một con ngõ nhỏ và căn nhà bên kia có một hàng dậu, chẳng hẳn là rặng mồng tơi xanh rờn với con bướm trắng về bên ấy rồi của Nguyễn Bính. Mà là một thân dáng nằm trong cái tuổi bẽ gẫy sừng trâu, đang ưỡn người phơi quần áo, cũng ánh nắng man dại, hong mỏng ấy, quét những vạt nắng ngang dọc bên bờ ngực trễ nải, lấm tấm mồ hôi…

       Gã cắm cúi xuống nuốt những khúc thơ tiếp:

                                             Em xin làm giọt rượu nồng cay

                                           Mời anh cạn chén nhớ nhung này

                                               Rồi mai trong cõi đời hư ảo

                                             Có dáng em về trong cơn say

         Và gã như đã say người, say tình để mẩn mê với thơ thẩn,,,Để rồi từ dạo ấy, từ “giọt rượu nồng cay” đến “Mời anh cạn chén nhớ nhung này” đã xổ đẩy gã gần gũi với Quang Dũng ngồi ở bên quán vắng cheo leo mãi tận Bắc Cạn và gã vay mượn ý từ của nhà thơ này, lắng đọng cùng người xưa bàng bạc như ẩn như hiện “Một thóang em về trong đáy cốc – Vui cười kể chuyện một đêm mưa”. Gần hơn nữa thì gã đắm chìm trong men nồng của hương yêu ngay ở vườn nhà, chiều chiều dưới lùm cây xanh và gối đầu lên hai câu thơ “Em ơi lửa tắt bình khô rượu – Đời vắng em rồi say với ai”, đó là dòng thơ của Vũ Hòang Chương hay Đinh Hùng mà gã cũng chẳng nhớ nữa, tất cả nhà thơ đã sầu đời nhân thế qua cái mất mát của một người tình cũ vừa nằm xuống. 

         Như Ngưu Lang Chúc Nữ với tháng bẩy mưa ngâu, có đàn quạ đen bắc cầu Ô Thước nối liền giữa “chàng” và “nàng”, như chuyện anh đồ trẻ với nàng quay tơ, chàng dệt…thơ, nhưng thơ thẩn thì chàng mù chớt. Thơ thẩn ấy là nghề của nàng, văn thì chàng cũng võ vẽ dăm trang để cùng thư qua tin lại như…phóng phi tiêu. Nàng thì lúc nào cũng thấy mình bơ vơ ngòai biển vắng, có lúc lớ ngớ thế nào lại lạc ra cả ngòai…hoang đảo nữa mới rõ khổ. Chàng thì như người mộng du, ba, bốn giờ sáng chòang tỉnh dậy, lóp ngóp bò ra cái bàn gõ, gõ lóc cóc như tụng kinh và chàng niệm: “Yêu em đốt cháy cuộc đời – Vàng tay khói thuốc vẫn còn yêu em”.

       Ngắn và gọn thì chàng với nàng yêu nhau như hai người điên trong thành phố, đêm đêm nghe đại bác vọng về. Chỉ thiếu người phu quét đường cầm chổi  đứng nghe….

       Rồi ngày tháng qua mau, gã thành “lão” lúc nào cũng không biết nữa và vần thơ “đời vắng em rồi say với ai..” ở khúc trên như vận vào người: Rằng trời có khi nắng khi mưa, nước có lúc đục lúc trong, trong những ngày lặng gió vợ lão đúng là số ruồi, khi không bỏ lão về với thiên cổ. Sau những tháng năm hụt hẫng với lá úa tiễn người đi, lão cũng khuây khỏa nguôi ngoai và bằng vào ngày hôm nay, lão có mặt trên chuyến xe này về với người xưa, về một vùng đất lạ lão chưa bao giờ góp mặt. Lão moi ví ra tìm lại bài thơ của hai mươi mấy năm về trước đã ố vàng, ngậm ngùi đọc lại như để làm tin:

                                               Em xin làm hạt bụi trần gian

                                         Vương mắt anh cho dẫu muộn màng

                                               Mai đây bên góc trời luân lạc

                                               Nhỏ lệ u hòai chuyện hợp tan

         Lẩm nhẩm ngốn từng chữ, từng câu, lão miên man ngậm nhấm rằng thơ giống như một bức tranh, để ngắm và cảm nhận chứ chẳng thể diễn giải. Hoặc giả như cụ Nguyễn Du để lại câu “Thi trung hữu qủy”, ngôn từ, chữ nghĩa trong thơ người tình cũ của lão như có ma lực. Để lão như bị ma nhập trong hư ảo có “dáng em về trong cơn say…” như lão đã bị hớp hồn ở trên. Gò gẫm lại hai câu chót, lão bùi ngùi với “bên góc trời luân lạc” thì cũng có đấy, để mỗi người mỗi ngả, nhưng ấy là chuyện một nắng hai mưa thuở nào. Bây giờ với cả hai, như định mạng đã an bài, rằng chỉ có hợp chứ chẳng có tan…”cho dẫu muộn màng”. Vì rằng xe đã vào đến thành phố, thời gian ăn dập bã trầu thì cũng tới, trước khi xe đến trạm xe ”búyt”, lòng dạ lão nóng như lửa đốt…

        Nói xa chẳng qua nói gần, lão như cáo chết ba năm quay đầu về núi. Vậy thôi.

        Ngồi trên xe cả ngày đường chẳng biết làm gì, cái đầu lão mượn cớ ngọ nguyậy với ba chữ Nho còn rơi rớt lại như “Bản lai diện mục”, diễn nghĩa theo mấy ông Tầu là không thấy mặt thì chẳng biết yêu thương để đâu cho hết. Lão cố hình dung người cũ bây giờ ra sao, chỉ thấy nhũng nét chấm phá đậm, nhạt như một bức tranh thủy mạc. Với hoa xuân nở muộn, lão thấy xuân tình phơi phới như trẻ ra cả mấy chục tuổi, để chẳng thấy “già” hay “cụ” tí nào như cái thằng quáng gà thợ máy lạnh đổ vấy cho lão. Lãng đãng phiêu bồng như ông cụ thân sinh ra lão xưa kia, khi làm một cái hồ trường, lúc đốt một hơi thuốc lá, rồi khật khừ ngâm nga thà một phút huy hòang rồi tắt ngúm, còn hơn cái tim đèn hột vịt lộn…le lói cả trăm năm. Thế nên lão mới có mặt trong chuyến xe cuối mùa về với “Người yêu dấu ơi” trong cái  buổi chợ chiều hôm nay. Rồi thì từ đằng xa lão đã đau đáu thấy “bạn già” hay Ngày Xưa Hòang thị của lão…về qua mái tóc đã điểm sương, ngồi củ rủ như con cò ốm trên cái băng dựa như ghế đá công viên. Cái xe kềnh càng ghé bến, dòm kỹ hơn, giời ạ, thóang như…Thóang như đến nước non này…bà…

       Giời ạ, ông giời có mắt xuống đây mà xem …bà đang cầm cái nón lá tơi như cô lái đò đợi khách sang sông, họa chăng chỉ thiếu vắng…cái mái chèo. Vật vã với chữ nghĩa thì không có giấy bút nào…tả chân hơn là trông bà…chân chất quê mùa như gái quê, dưới tàng cây cuối thu sang đông, lá vàng rơi lả tả, “nàng” thẹn thùng e lệ “Em vín lấy cành dâu – Che dấu mộng ban đầu”. Còn lão, lòng dạ cũng đang rổn rảng: “Nói ra sợ mất lòng em – Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa” (thơ Nguyễn Bính)

       Xe ngừng, bà ngước mắt lên, đôi mắt nhỏ ươn ướt trông như viền vải tây điều và đứng đậy chậm bước đi về phía đám đông đang xuống xe mà trong đó có lão. Với bao năm cùng vật đổi sao rời, vẫn cái tính “hòai cổ” cố hữu của người Bắc mình với mưa phùn gío bấc là cái áo chùng thâm với cái quần nái đen như mấy bà trùm, bà cố đi lễ nhà thờ buổi sớm mai ngày nào. Cũng đã bấy lâu nay lão bơi lội và ngụp lặn trong bệnh tưởng, thương người thương cả đường đi lối về: Ấy là những dòng thơ trải dài của người tình xưa như con đường sống trâu ven quê, lão mê mẩn từ cụm hoa nhài, bụi cỏ bồng. Thế nên lúc này, lão nhìn đâu cũng ra hồn thơ với mây và gió, thế nên lão đang đuổi hoa bắt bướm, “hòai cố nhân” với đập bể kính ra tìm lấy bóng qua những hình ảnh phảng phất hương xưa cũ “Nào đâu cái yếm lụa sồi – Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân – Nào đâu cái áo tứ thân – Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen”. Bụng dạ lão lại nhằng nhịt chan chứa với thơ Nguyễn Bính “Hoa chanh nở giữa vườn chanh – Thầy u mình với chúng mình chân quê”.

        Cùng những váng chiều ấy, cũng cùng lúc ấy, trong đám người hỗn độn kẻ đón người đưa, mắt bà hấp ha hấp háy để áng chừng tìm kiếm lão, cũng là “người muôn năm cũ” hay “người về từ trăm năm” qua thơ, trong đám đông giữa đám đông với “Trước khi nhìn đám đông – Anh có tình cờ nhìn thấy em không…” (thơ Nguyễn Tất Nhiên). Như một đọan phim quay chậm, gần hơn một chút nữa, bà nhớn nhác thấy lão, còn lão thì dòm thấy bà từ lâu rồi, từ những giấc mơ tình hay giấc ngủ ngày. Lão thấy bà hom hem cười tủm, cái cười hơi thiếu vắng với hàm răng chộn rộn. Lão ngẫm lại, hàng ngày soi gương, giao tiếp với mấy cụ bạn quen thuộc sáng trưa chiều tối, lão thấy lão vẫn vậy, không đổi thay. Nay mới thấy hình ảnh của chính mình qua bà sau gần nửa thế kỷ không gặp lại, để thấy cả hai đang tàn tạ trong những ngày nhạt nắng.

        Bỗng hai mắt bà ăm ắp nước, tuôn rơi lả chả như hạt mưa thu, cứ như thể làm như lão tay sắp bắt chuồn chuồn về với tổ tiên đến nơi không bằng, và thảng thốt bật ra một câu đầy bi ai và gào tướng lên: “Trời cao đất dầy ơi! Ông đấy hở ”. Vừa chu chéo lên xong, bà như bị xúc động nên chập chọang ngã chúi người vào lão như vồ ếch, hai tay túm chặt lấy áo lão như sợ bị vuột mất thì có nước đi tướt. Giữa thanh thiên bạch nhật, lão chóang người, sợ thấy ông bà ông vải, lão cập rập…mắng yêu: “Hượm! Bà làm gì rối tinh lên vậy!” Trong một thóang giây, lão mở mồm dăm chữ yêu thương đầy niềm mong nỗi nhớ và nói như…quát lên: “ Khỉ ạHùng già đ..a..a..â..y ”.

       Bà ngơ ngác: “ Rau đay hở? Thiếu giống! Cứ ối ra đấy”. Lão biết bà…điếc đặc.

       Biết thì biết vậy, được thể lão ôm bà gọn lỏn trong vòng tay gầy guộc xương xẩu của lão, như con đực gặp con cái, thì như đã bảo, mảnh đời của lão đang rách nát như tương bần thì bỗng…nở hoa xuân, nên lão thấy bỗng chộn rộn…động tình. Trong một khỏanh khắc qua một cái chớp mắt, lão muốn gửi gấm bà một nụ hôn sau năm mươi năm nghìn trùng xa cách, chợt nhớ ra răng cỏ lão…cái còn cái mất. Vậy mà dòm kỹ hơn một chút, bà cũng chẳng khấm khá hơn gì lão, răng lợi cũng…cái mất cái còn, nên lão như niệm bụt ăn chay, đành ôm suông bà như gửi gió cho mây ngàn bay….Để rồi hồn ma bóng quế của chuyện ngày xửa ngày xưa lại nhàn tản hiện về, chuyện là cái ngày ấy ở trại di cư, trên cái trõng tre ọp ẹp, lão đè bà và…”tàn bạo” cúi xuống hôn. Nụ hôn đầu đời cùng một quên hai nhớ là bà đê mê nhắm mắt nhưng chẳng chịu…mở mồm, thế nên răng lão đụng răng bà một cái…”cốp”. Mẹ ơi, đau thấu mụ nội. Cũng kể từ dạo ấy, trong những cuộc tình hoang dại đi qua mảnh đời lão, lão chả dám hôn ai nữa…

       Đêm đã về khuya, lão và bà nằm thu lu bên cạnh nhau nhìn lên trần nhà, nhìn con thằn lằn đực đuổi con thằn lằn cái để chẳng có gì mà nói, nói cho ngay cả hai cũng chẳng có nhiều chuyện bao nhiêu để mà hàn huyên…Với bà, chuyện mới thì có: Như…mới đây, sau những mùa đông cô quả quạnh hiu, lòng dạ bà như bị xát muối ớt, bà cô quạnh nằm một mình ôm cái gối như ôm con lợn con mới đẻ, như cái thời còn con gái. Rồi thì năm thì bẩy lượt, bà quan hòai đến nhà lão này bên kia bến vắng và bà ôm cái gối bông như ôm lão cùng nhớ với thương, để thấy cái gối như mềm hẳn ra và mát lạnh, êm êm. Riêng lão thao thức trằn trọc, không phải vì lạ nhà lạ cửa, mà lão như thấy thiếu vắng một cái gì quen thuộc. Và bỗng dưng không đâu, lão nhớ khôn tả đến quả trứng trắng no tròn nằm trên bụng con chuột, đến cô bé Bắc kỳ nho nhỏ, cả một thời gian dài chẳng biết lưu lạc ở phương nao, nay nằm một đống ở bên cạnh…Như ở đâu đây, lão thóang nghe thấy tiếng con chim cu đất gù gù xa vắng, hòa lẫn tiếng húng hắng ho rời rạc của bà, để rồi cùng một lứa bên trời lận đận, trong cái khỏanh khắc của nửa đêm về sáng và vẩn vơ với chuyện cũ và chuyện mới.

       Cuối cùng thì lão cũng đã gặp lại bà trong cái tuổi…bóng ngả đường chiều.

       Với cái tuổi già thì cá mè một lứa, ai chẳng vậy với chụyện mới bói cả ngày không ra một mớ, ấy vậy mà chuyện cũ thì nhớ vanh vách, như gánh bùn sang ao với chuyện “sống cũng như chết” của lão. Chuyện dậu đổ bìm leo là lão đang hồi tưởng đến bà vợ …câm như hến của lão, cậy miệng cả ngày không ra hai chữ “yêu thương”, làm như trong…nỗi niềm riêng tư một cõi của bà có cả trăm nghìn chuyện “bí hiểm” chẳng thể một sớm một chiều bày tỏ cùng ai, sống để bụng, chết mang đi. Vậy mà cái ngày bà được Chúa đón về với nước Chúa, bà gắng gượng dậy, nhúm lấy tóc lão, kéo xuống, dặn ra được câu: “Ông ở lại nuôi con cho…vuông tròn…Rồi tôi hẹn ông…ở kiếp sau”. Trong cái lúc tang thương ngẫu lục ấy, lão nhủ thầm lũ con “nuôi” lão thì có. Còn nghe đến câu “hẹn nhau ở kiếp sau” thì mẹ ơi, mới nghe trối chăn xong là lão đã thấy chết nửa đời người và hãi quá thể. Thế nhưng cùng tắc biến, biến tắc thông hoặc giả như cái kim để trong bọc lâu ngày chẳng ai thấy, hay lọt sàng xuống nong thì vào cái buổi hòang hôn, trời chiều tà tà bóng ngả về tây, mèo mù vớ cá rán thế nào chẳng biết nữa, lão “vớ” ngay được người tình cũ đang nằm một đống như cái đụn rơm phình ra ở ngay cái giường to bằng cái đình này…

        Để rồi trong im ắng như câu thơ tìm nhau, tay lão mò mẫm tìm tay bà. Bà để yên không rụt lại như cái hồi ấy, và trong khuya khoắt, vẫn chứng nào tật ấy, lão lại lọm khọm chống gậy trở về với dĩ vãng…Lão tủm tỉm cười một mình về những ngày tháng ngây dại của cái tuổi thiếu thời. Như hồi còn tấm bé, lão hỏi bu lão rằng lão từ đâu mà có thì bu lão vừa nhai trầu bỏm bẻm, vừa cười tủm trả lời từ nách chui ra. Lớn lên một chút, cái ngày lão gặp bà lẩn thẩn bên hồ cá tra, lão nắm tay bà, bà rụt rè hỏi lão rằng: “Đằng ấy nắm tay tớ, liệu tớ có…chửa không?” làm lão cũng ngớ ra vì nào có biết chuyện ruồi bu của người lớn. Rồi khôn nhà dại chợ, sau đấy là cái chuyện ranh con đã nứt mắt, lão trèo lên người bà làm như “Nhong nhong, ngựa ông đã về – Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn” thì thề rằng “Trèo lên cây ớt, rớt xuống bụi hành – Ai chẳng lòng thành, hành đâm lủng ruột” là…là…

        Ông trời ông ấy sinh ra thế, lão cũng chỉ biết…có thế.

        Thế nhưng trong lão đang dạt dào với tình cũ không hẹn mà tới, người lão như lâng lâng bay bổng. Dường như bà đang thiu thiu thiu đi vào giấc nồng thì phải, lão như người cưỡi mây hoang tưởng về một thời với những cuộc tình lãng mạn thập niên 30, 40, với những chuyện tình trong mộng tưởng, chỉ thấy mây bay  chẳng thấy…người. Hoặc giả, quá lắm thì cũng…không tưởng như “Tay anh em hãy tựa đầu – Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi” (tho Huy Cận). Thóang như có tiếng ngáy nghe như rì rào của sóng biển, gió nồng và trái sầu đã chín cây, lão chỉ đợi cái lúc này. Lão đợi lâu lắm rồi, như đợi nhau từ kiếp trước. Sợ bà biết thấu tâm can, lão đợi thêm một chút nữa như đợi cá cắn câu. Lão nghĩ cũng đến lúc, lão rón rén thò tay xuống…phía dưới. Thật nhẹ nhàng như thở không ra hơi, sâu hơn một chút nữa, tìm kiếm. Lão…đút tay vào…quần, sờ sọang. Lão chột dạ chẳng thấy nó đâu. Lão nín thở mò mẫm. Lão thọc tay thẳng vào trong mầy mò… Lão súyt nữa bật reo lên như siêu nước sôi:

        –  Nó đây rồi…

        Lão thấy…”nó” rồi. Lão sờ mó nó, gì mà nhẵn thín. Lão mân mê nó, lạnh tanh, lạnh ngắt như đồng…Thật từ từ, thật chậm chạp. Lão nhón nhén rút ra…một cái nhẫn.

        Trong yêu thương dạt dào, lão lóng ngóng đeo vào tay bà, ngón tay khô queo, khô quắt, nhiều da ít thịt, chỉ thấy những lóng xương. Trong lão ngập tràn những bồi hồi xót xa với những cảm xúc chan hòa, lẫn lộn như mớ bòng bong. Tự thầm hỏi cảm xúc như thế nào, lão chỉ thấy bồi hồi với…những xúc cảm đến đực mặt ra vì thấy mình hơi bị…chậm tiêu. Vì khi không lại đi mua những chỉ…một cái nhẫn thì ai có ai đừng.

         Và lão ngẩn ngơ ngắm bà, bà chẳng mảy may cục cựa, nằm như…khúc gỗ.

        Bà nằm như đo giường thật đấy nhưng không như…khúc gỗ vì bà biết hết…Thực tình lúc đầu bà không biết lão này dở trò ma bùn gì đây, nào ai biết ma ăn cỗ, nhưng bà cũng xốn xang chờ đợi, để thấy sự thể là như vậy…Để rồi sau đấy, bà có những khỏanh khắc ấm êm, mà đã tự lâu rồi bà đã đánh mất, tưởng rằng chẳng bao giờ tìm lại được. Nếu có, chẳng qua là nhờ cái…cái.. .Bà nhớ đến cái gối bông mềm thật mềm và bà quay sang ôm nhẹ lão. Lão cũng ôm cứng lấy bà  Bà lững lờ nhìn lão. Lão lặng lẽ nhìn bà. Trong một thóang giây làm như vô tình với ai biết đó là đâu. Lão hờ hững đặt tay lên ngực bà…Chửa kịp nghĩ cái giống gì nhão nhẹt như bánh đa ướt thì đã bị bà nhăn mặt, hất tay lão ra và mắng: Rõ dơ.

       Lão im thin thít như thịt nấu đông, lão nghĩ: “Quái, người già mà lạ”. Lão than thầm, rằng bà cũng rõ dấm dớ, khi không “mời gọi” lão lên đây như tiếng chim gọi đàn để nghe con cu đất gáy gù gù. Cũng đến cả mươi phút, lão nằm đuỗn ra nghe tiếng tiếng cái đồng hồ treo tường kêu “tích tách, tích tách” buồn tê tái, buồn nẫu ruột. Bỗng con cú giả chứ không phải con cu đất thật, từ cái mái nhà của cái đồng hồ chui ra chõ mỏ gáy “cúc cù cu, cúc cu cu” vang vọng giữa đêm vắng. Bất giác, lão chìm đắm trong vọng tưởng, lão ôm bà chặt hơn và thả hồn về ngày nào năm ấy với cái chõng tre, cái nền nhà thô mát lạnh và…Và tiếp đến là tiếng kêu “boong…boong” đánh dấu vào cái giờ tí canh ba như tiếng chuông tỉnh thức. Nhưng mà lạ chửa kìa: Không phải là lão mà là bà. Bà trườn lên người lão, như con thạch thùng cái bò lên con thạch thùng đực. Thân bà vắt chéo qua thân lão như cây thập tự giá đóng đinh, người bà dán chặt vào người lão đến nhẹ tênh và mềm như dưa. Trong cái đầu củ chuối của lão, đang định mừng húm thì bất chợt có tiếng con thạch thùng chép miệng tặc lưỡi đánh “tắc” một cái khô khan và lão nghe ra là…“tắc…tị”. Bất giác lão thở dài trong chân không, vì trộm nghĩ rằng, ở cái tuổi này nào còn lòng dạ hơi sức mà đú đỡn như xưa kia cùng một thời vắng bóng…

                                                         x           x            x

        Chẳng ai nói với ai, cả hai đều nhòai nửa người ra khỏi cái giường, hai thân thể chồng lên nhau như hai hòn đá, như hòn Chồng, hòn Vợ chông chênh nằm lên nhau lạc lõng ngòai biển xa đất vắng. Qua bóng tối chập chọang, hai khuôn người, trong cái thế chênh vênh gần như chúi xuống, lửng lơ với gần đất xa trời, cả hai đờ đẫn nhìn xuống sàn nhà lát gạch hoa. Cũng chẳng ai nhìn ai, như thẫn thờ đang đi tìm lại những ngày tháng cũ, như mong bắt gặp lại đôi vợ chồng chuột của ngày xưa.

       Bên kia hàng xóm, cách một khỏang sân, thỏang qua gió, nghe có giọng hát: “Em hỏi tôi đá biết thở dài xa xôi ? Em hỏi tôi đá có ngậm ngùi chia phôi…”. Trong lắng đọng, gió rì rào qua khe lá, âm hưởng mất hút, chìm vào màn đêm, lát sau lại nghe văng vẳng:

       –  Mai Đây…sỏi đá cũng cần có nhau…

(hết)

 Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

©T.Vấn 2022