T.Vấn

& Bạn Hữu

Văn Học và Đời Sống

Nguyên Giác Phan Tấn Hải: TUYỂN TẬP “TÂM TRONG”: KHI 10 NHÀ THƠ HỘI NGỘ

Share on facebook
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Xin mời đọc hai dòng thơ lục bát sau:

Khom lưng nhặt hạt bồ đề

Hỏi tâm mới thấy tỉnh mê kiếp người…

Đó là thơ của thi sĩ Nguyễn Thanh Huy ở trang 152, trong tập “Tâm Trong” – một tuyển tập thơ đầy đạo vị, và cũng là một cuộc hội ngộ hy hữu, của 10 nhà thơ.

Trong những ngày Xuân, không gì vui hơn là đóng vai độc giả để lắng nghe cuộc hội ngộ của 10 nhà thơ (và hiển nhiên, may mắn là, ngồi đọc sẽ đỡ mệt nhọc hơn là “khom lưng nhặt hạt bồ đề”)…

Và do vậy, chữ nghĩa của họ rất là phiêu bồng.

Tuyển tập thơ “Tâm Trong” xuất bản bởi NXB Trung Đạo cuối năm 2015, ngay trong Lời Nói Đầu đã giải thích cơ duyên hội ngộ 10 thi sĩ với những hình ảnh rất Thiền vị, rằng đây là một thuận duyên, rằng cái đẹp là quay về chính mình, rằng đây chỉ là bóng nhạn lướt qua sông, hay tựa tơ trời bãng lãng…

Trích Lời Nói Đầu do Bạch Xuân Phẻ viết, như sau:

Xin cảm ơn! Cuốn sách nằm trong tay của quý vị là một thuận duyên cho tất cả chúng ta đang có mặt với nhau, giữa người đọc và người viết. Nơi đây là sự gặp gỡ giữa những tấm lòng vị tha đang cùng hướng gần đến Chân-Thiện-Mỹ. Ai trong chúng ta đều có những nỗi niềm, kỷ niệm, hoài vọng, ước mơ và hy vọng. Chúng ta đều biết thổn thức, trăn trở, rung động hay cảm nhận trước những gì xảy ra xung quanh chúng ta. Nhưng cái khó hơn là nhận chân những gì đang xảy ra ở trong ta. Cái hay, cái đẹp, phải chăng là sự quay về với chính mình. Cho và nhận tuy hai là một. Nhận và cho tuy một nhưng hai. Vì thế giữa người đọc và người viết không có một khoảng cách, có chăng chỉ là bóng nhạn lướt qua sông hay tựa tơ trời bãng lãng.

Cuốn sách này là một nỗ lực chung để làm văn hoá và ngôn ngữ Việt Nam ngày càng phong phú hơn và được phát hành qua hệ thống Amazon, và nếu có lợi nhuận (sau khi ấn loát), số tiền lời sẽ được nhà xuất bản làm việc văn hoá xã hội. Tuyển tập này sắp đặt theo thứ tự của họ tên người viết, bao gồm: Bạch Xuân Phẻ, Hàn Long Ẩn, Huyền, Nguyên Lương, Nguyễn Hoàng Lãng-Du, Nguyễn Thanh Huy, Nguyễn Phúc Sông Hương, Phan Thanh Cương, Trần Kiêm Đoàn và Tuệ Lạc. Rất mong sự hoan hỷ và biết ơn của tất cả quý vị, người đọc và người viết…” (trang 5)

Khi 10 thi sĩ gặp nhau — trong đó có một nhà sư (và là nhà thư pháp nổi tiếng ở San Jose) và hầu hết là các cư sĩ đã gần trọn đời gánh vác Phật sự — ai cũng sẽ hình dung được rằng, vị cư sĩ thứ 11 sẽ từ mặt đất hiện lên (xin hiểu, đất Tâm) để hoan hỷ, tán thán về hạnh phòng hộ Tâm Trong: đó là khi nhà bình luận Huỳnh Kim Quang bước tới, đọc thơ và giới thiệu qua bài “Vào Cõi Tâm Trong” trên Việt Báo ngày 25-12-2015 – trích như sau:

“…Tâm Trong là lòng sạch như băng tuyết trên đỉnh cao chót vót, là lòng trong sáng rạng ngời như nhật nguyệt trên tầng không bao la vô tận. Như mặt hồ trong và lặng có thể phản chiếu ánh trăng trong sáng tròn đầy, tâm trong lắng xuống những ô trược để phản chiếu tự tánh thanh tịnh hồn nhiên.

“Hồ tâm phẳng lặng lung linh trăng vàng.”

(Dưới Nhành Liễu Xanh, Huyền)

Nhà Phật gọi tâm đó là tâm chúng sinh, gồm có chân và vọng, thật và giả, Phật và chúng sinh. Cái tâm trong đó bao trùm tất cả các pháp, lớn thì như cõi thái hư mười phương pháp giới, nhỏ thì như một hạt bụi vi trần mắt phàm không thấy nổi. Từ tâm đó mà các pháp sinh. Từ tâm đó mà thơ ra đời. Tâm càng trong cảnh hiện càng rõ, càng nguyên sơ. Khi tâm cảnh hòa quyện lấy nhau, thơ sẽ là âm ba, là giai điệu oà vỡ trong những khoảnh khắc tuyệt vời nhất. Tâm càng trong, thơ càng vi diệu, mượt mà, sâu lắng, rung động lòng người...”(hết trích)

*

Trước tiên là thơ  Bạch Xuân Phẻ (Tâm Thường Định). Trong loạt Những Bài Thơ Haiku về Trăng, nơi Bài số 5, trang 9, trích:

Trăng thuỷ tinh lấp lánh

Lung linh mặt nước động chân nguyên

Tỉnh – quay về Phật tánh.

Hay trong bài Lời Nhắn Tình Yêu, trang 11, họ Bạch viết:

…Có ai về bến đó

Cho tôi gởi đôi lời

Phù du cười cát bụi

Ngậm ngùi miền tử sinh.

Hay là bài Vô Ngôn, trang 17, họ Bạch viết:

Kính tặng Thầy Minh Đạt

Điện Phật trầm hương tỏa

Trăng khuya soi dáng gầy

Thầy trầm tư tĩnh tọa

Vô ngôn thay cảnh này.

*

Nhà thơ  thứ nhì trong tuyển tập là thi sĩ Hàn Long Ẩn, cũng là nhà thư pháp.

Trong bài Vết Cháy Thời Gian, thi sĩ HLA nơi trang 32 viết:

Ta cắn vỡ thời gian tìm kỷ niệm

Nghe đời mình loang lỗ vết máu xanh

Mắt đã ráo khô đôi dòng lệ

Mùa thu ơi, chiếc lá mục trên cành… (hết trích)

Hay là trong bài “Ở Hai Đầu Sanh Tử” thi sĩ Hàn Long Ẩn viết:

Ở hai đầu sanh tử

Là cuộc mộng bắt đầu

Ta làm người lữ khách

Gánh mãi một niềm đau… (hết trích)

*

Nhà thơ thứ ba trong tuyển tập là Huyền.

Trong bài thơ tựa đề “Sư đi Sư lại về” nơi trang 65-66, được ghi là “Thay lẵng hoa tang kính dâng Giác linh Hòa Thượng Thích Huyền Quang,” nhà thơ Huyển viết, trích:

“…Cuộc đời là tạm bợ

Sư thị hiện ta-bà

Hoá thân là khách trọ

Sư gieo mầm liên hoa

 .

Nơi ao tù nước đọng

Sư gạn đục lắng trong

Từ khô cằn sỏi đá

Từng bước Sư thong dong

 .

Huyễn mộng bào ảnh thôi!

Sư hóa cánh chim trời

Băng ngang vùng bão nổi

Mưa sầu giăng muôn nơi

 .

Sư đứng bên bờ Giác

Dõi mắt về bờ Mê

Thương chúng sanh lầm lạc

Sư đi Sư lại về

.

Sư bước xuống dòng sông

Bùn nhơ hoá nước trong

Liên hoa toà nở rộng

Đưa Sư ngược bến Không

.

Không đến cũng không đi

Không tụ không phân ly

Cùng pháp giới vô vi

Sư đi Sư lại về…(hết trích)

*

Kế tiếp là nhà thơ Nguyên Lương.

Trong bài Nói Một Lần Thôi, trang 75-76, thi sĩ Nguyên Lương viết, trích:

…Nói gì không biết nói

Người đi ta hết lời

Ngày xưa chưa dám nói

Ngày nay cũng vậy thôi

 .

Viết gì không dám viết

Mực chảy từ trái tim

Ghi xuống một vài chữ

Thật lòng ta yêu em

 .

Phải rồi: ta yêu em

Cỏ cây có biết không?

Đất trời nay chứng kiến

Ta nói rồi nghe không!

.

Ta nói một lần thôi

Úp mặt lòng bàn tay

Nhớ người sao nhớ quá

Trái tim cuồng vỡ đôi

 .

Yêu người sao khó quá!

Tháng tám trời đổ mưa

Mực khô nhỏ nước mắt

Tình khô thêm nước mưa…(hết trích)

*

Trong khi đó, nhà thơ  Nguyễn Hoàng Lãng-Du bay bổng.

Trong bài nơi trang 116, NHLD viết, trích:

Tái Sinh

Ừ, ta gió núi mây ngàn;

Đồi trăng suối chảy, tơ đàn mưa bay.

Lối xưa vang tiếng hạc gầy,

Có con bướm lạ chờ ngày hóa thân. (hết trích)

Hay là bài nơi trang 120, NHLD viết, trích:

Trăng Hạnh-Phúc

Mở trang sách đọng trầm hương,

Cái tình hư-ảo như sương khói mờ.

Tìm trăng thấy cõi bơ-vơ,

Ai ngờ trăng ngủ trên bờ vai em. (hết trích)

*

Trong khi đó, nhà thơ Nguyễn-Phúc Sông Hương qua bài Buổi Chiều Đàn Trâu Nhớ Con, nơi trang 130 đã viết, trích:

Không phải chim gõ kiến

Gõ gỗ trong rừng sâu,

Là tiếng mõ bản Thượng

Chiều về gõ gọi trâu.

  .

Trại tù vang tiếng kẻng,

Thằng chăn thúc bước mau.

Đoàn tù đi bước chậm

Bầy trâu gầy chờ nhau.

.

Đàn trâu về bản Thượng,

Tiếng nghé kêu lạc bầy.

Tim người tù đau đớn

Tưởng con mình đâu đây!

.

Không phải chim gõ kiến

Gõ gỗ trong rừng sâu,

Tiếng mõ và tiếng kẻng

Chiều về gõ gọi trâu. (hết trích)

*

Trong khi đó, nhà thơ Nguyễn Thanh Huy luôn luôn quan tâm về những cõi bờ sinh tử. Trong bài Xác Thân Rồi Cũng Xa, nơi trang 153, NTH viết:

Người qua rồi một thuở,

Ta mất đi hình hài

Cõi lòng ta tan vở

Đêm buồn giữa trần ai.

 .

Từ khi ta thấy có,

Là không đang đợi chờ

Vốn chẳng dừng lại đó,

Nên đời mãi ước mơ.

.

Thời gian thì vẫn thế,

Chỉ có ta thấy già,

Đêm buồn ngồi kể lể,

Một mình ta với ta.. .

.

Lửa tàn theo điếu thuốc,

Khói buồn chẳng bay xa,

Có không rồi cũng vậy,

Nghĩ chi cho mau già.

.

Lời xưa thầy đã dạy

Đây là cõi ta bà,

Hơn thua gì cho mệt,

Xác thân rồi cũng xa… (hết trích)

*

Kế tiếp là nhà thơ Phan Thanh Cương, trong bài Lời Ru Xanh, trang 168, ghi nhận:

Ngoài kia ngọn cỏ lay

Giữa trời cao đất rộng

Viết câu thơ về mẹ

Ngọn cỏ về trên tay

Mẹ để màu cho cây

Mẹ để lời cho gió

Mẹ ơi! cây và gió

Lời ru xanh nơi này

Để con làm nắng ấm

Mẹ qua hết đêm đen

Để con làm hoa nở

Mẹ qua hết đông dài

Có con chim ngây thơ

Tưởng đo được trời rộng

Có áng mây vu vơ

Vẽ lên hình hài mẹ

Thơ bằng lời ru xanh

Tình mẹ mênh mông quá

Suốt ngàn năm qua đi

Mà sao thơ không thành. (hết trích)

*

Trong khi đó, nhà thơ Trần Kiêm Đoàn rất mực lãng mạn, qua bài tựa đề “40 – Valentine” nơi trang 194-195, với ghi chú rằng, “Viết tặng Lê, 40 năm ngày cưới của chúng ta.” Bài thơ trích như sau:

Nhổ vài cọng râu bạc

Anh ngỡ mình bớt già

Nhuộm đường ngôi tóc trắng

Em nghe mình trẻ ra

 .

Nhấm cốc rượu sương pha

Ta nhen hồng cảm xúc

Chân chim từng khóe mắt

Tuổi xuân gần hay xa

  .

Gọi bình minh thịt da

Chút phấn hồng tươi mới

Nhớ giọng nói tiếng cười

Nếp nhăn đời xa lạ

  .

Ngày Tình Yêu hôm nay

Bốn mươi năm Ngày đó

Sông xuôi về nỗi nhớ…

Những mùa Valentine… (hết trích)

*

Cuối cùng là nhà thơ  Tuệ Lạc (Nguyễn Điều).

Trong bài tựa đề Say Trăng, thi sĩ Tuệ Lạc viết, trích:

“…Lắm lúc ta nhìn trăng dưới ao.

Lung linh…không biết ấy trăng nào?

Bấy nhiêu đáy nước, bao gương nguyệt…

Trăng cũng nhiều như những ánh sao?

.

Trăng ở quê nhà, trăng chứa thơ.

Ngày xưa ta vẫn khóc trăng mờ.

Chừ trăng đất khách, trăng hoang lạnh.

Ta vẫn nhìn trăng, dạ ngẩn ngơ….”

Có thể nói thêm gì về tuyển tập thơ “Tâm Trong”?  Nơi đây xin mượn lời nhà phê binh Huỳnh Kim Quang:

Đọc từng trang của tuyển tập thơ Tâm Trong, tôi thấy như mình đang bước vào một vườn hoa văn học với vô số những kỳ hoa dị thảo đang khoe sắc thắm tươi và tỏa hương ngào ngạt. Đọc từng câu thơ của Tâm Trong lòng tôi cũng nhẹ bớt đi phiền não lao xao của cuộc sống đời thường, và thấy tâm mình cũng trong theo với những vần thơ trong vắt của mười tác giả. Điều may mắn của tôi là có thể đọc được những bài thơ hay của mười tác giả trong một tuyển tập mà không cần phải mất công tìm tòi ở đâu xa để đọc và thưởng thức. Quả tình, nếu không đọc được Tâm Trong thì chưa chắc tôi đã có duyên để đọc thơ của tất cả những nhà thơ có mặt trong tuyển tập thơ này.”

Lời bình trên là đầy đủ vậy. Không dễ có cuộc hội ngộ của 10 nhà thơ với tâm hồn trong vắt như thế.

Nguyên Giác Phan Tấn Hải

(Trích bản thảo Khoảnh Khắc Chiêm Bao)