cnlv

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 107)

   Nghi vấn văn học về thành ngữ và thơ “Sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ đa dâm” , có tác giả cho là câu này của Minh Mạng ám chỉ đất Nghệ An của bà Hồ Xuân Hương. Đồng thời ngoài bài thơ “Thiếu nữ ngủ ngày” với những câu

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 50)

Bắc Nam Người Bắc lúc nào cũng lịch sự, khi nói chuyện với bạn của người thân trong gia đình vai vế nhỏ hơn mình thì luôn luôn hạ danh xưng mình bằng người thấp hơn. Tôi còn nhớ khi còn học tiểu học, một cậu bé đến nhà rủ tôi đi học chung. Lúc

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 48)

Mì Mì là… mì, là cái sợi làm bằng bột mì được các ông, các bà ăn hàng ngày đấy. Mì khô, mì ướt, mì xào. Mì Mỹ Tho, mì Nam Vang. Vậy mà không biết à? Vậy mì là… cái gì? Đại Nam quốc âm tự vị (1895) của Huỳnh Tịnh Của định nghĩa

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 46)

“m” Nhiều học giả cho rằng phần lớn các âm tiếng Việt biểu thị một cái gì đó. Như phụ âm “m”, hàm ý nghe rất…êm dịu, thỏai mái, như: Mịn màng, mềm mại, mượt mà, man mát, mơn mởn..v..v.. (Nguyễn Triệu Việt – tạp chí Tân Văn) Xạo luận vui về chữ “Tử” Chết

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 45)

Ăn mày chữ nghĩa Khổng Tử đi chơi ra phía đông, thấy hai đứa bé cãi nhau, hỏi tại làm sao, thì một đứa nói rằng: “Tôi thì tôi cho mặt trời, lúc mới mọc, ở gần ta hơn. Về buổi trưa, ở xa ta hơn.” Còn một đứa nói: “Tôi thì tôi cho mặt

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 44)

A Di Đà Phật Trong thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu có câu: “Thỉnh ông Phật tổ A-Di”. “A” có nghĩa là vô. “Di Đà” có nghĩa là lượng. A Di Đà Phật là tiếng Phạn, là lời niệm mong khi tịch được trở về cõi cực lạc (nguyên nghĩa “vô lượng thọ

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 43)

Lúa Chiêm Cây lúa cần nhiều nước nên ban đầu, chỉ có một vụ lúa vào mùa có nhiều mưa (hè, thu) gọi là lúa mùa (1). Về sau có thêm loại lúa có khả năng chịu hạn vào mùa khô (đông, xuân) gọi là lúa chiêm. Lúa chiêm xuất xứ từ Chiêm Thành khô

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 42)

  Chữ “tua rua” trong tiếng Việt cổ Một câu ca dao khác có từ thời cổ xưa mà nguồn từ tộc Nam Dương hay Mã Lai cổ mà nhiều nhà nhân chủng học cho là có liên hệ đến chủng tộc Việt: Bao giờ thấy vỏ thị rơi Tua rua quặt xuống thì thôi

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 40)

  Tiếng Việt sao lắt léo thế Về cách biến thể của những câu nói, chỉ cần ngắt câu thì những câu không giống nhau : Đàn bà không có đàn ông, là con số không Đàn bà không có đàn ông là con số không Đàn bà không, có đàn ông, là con số

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 39)

Giá sách cũ Nhóm Bách Khoa chọn tòa soạn ở đường Phan Ðình Phùng do nhà văn Huỳnh Văn Lang sáng lập. Sau giao toàn quyền việc điều hành cho ông Lê Ngộ Châu. Ông Châu không phải là nhà văn, cũng không hề là nhà báo. Nhưng ông Lê Ngộ Châu là người có

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 38)

Chữ “Việt” theo “Tầu” Khi có chữ viết thì người Tầu dùng phép tượng hình. Để chỉ người Việt, vì người Việt dùng cái rìu làm vũ khí. Họ viết “chữ Việt nguyên thủy” gồm có: Một nét ngang dài tượng hình cho cái cán. Dưới có một cái móc xéo tượng hình cho lưỡi

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 36)

  Truyện cực ngắn – Chiến tranh Ði lính hơn ba năm, hắn khoe hắn đã bắn chết đúng tám tên địch. Sang Úc, mỗi lần nhậu ngà ngà, hắn lại khoe khoang thành tích ấy. Bạn bè hắn không tin. Hắn cởi áo và xắn quần lên khoe: trên lưng và dưới chân hắn

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ