10/19/2017
Nhã My-Sương Lam: MỘT CHÚT TÂM TÌNH (khi đọc bài thơ Quê Hương của Nguyên Lạc)

   que huong

Thời gian gần đây, trên các trang văn học mạng, có đăng một bài thơ mới viết về chủ đề Quê Hương của tác giả Nguyên Lạc. Bài thơ khá dài, gồm 5 khổ thơ thể 6 chữ.

Nhà phê bình Châu Thạch, nhạy bén và với bút lực dồi dào đã nhanh chóng viết một bài nhận xét, so sánh bài thơ này của tác giả Nguyên Lạc với bài thơ của tác giả Đỗ Trung Quân cùng chủ đề có tựa ”Bài học đầu cho con”, một bài thơ nổi tiếng và đã được nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ nhạc tựa đề Quê Hương.

Bài viết của tác giả Châu Thạch rất hay, nhận định rõ ràng, lời văn trôi chảy; người đọc dễ dàng nắm bắt được những điểm chính giữa hai bài thơ cùng một chủ đề này, cũng như ”hai tâm tình” của hai tác giả.

Tôi không viết phê bình, không ”ăn theo” một bài thơ hay, mà vì đồng cảm và xúc động khi đọc qua bài thơ của tác giả Nguyên Lạc, nên xin được gởi gấm mấy dòng tâm tình này.

Với lồi viết trần tình, ngôn ngữ chân phương giản dị, bài thơ cuả tác giả Nguyên Lạc đã dẫn dắt người đọc qua từng giai đoạn đời người, dễ dàng ” thẩm thấu” vào tâm hồn người đọc và nó trở nên một bài thơ hay và thật như nhận định của nhiều người.

Tác giả mở đầu bằng một câu tưởng như phủ định ”quê hương có gì để nhớ”, để rồi ở đoạn 1, vẽ ra những hình ảnh ” ở nhà quê” với bà mẹ ” vai gầy, gánh khổ, ngày ngày kham khổ qua sông kiếm sống vì thương đàn con (đang thiếu đói). Rồi hình ảnh đầy thương nhớ của người bà”nhai trầu tóm tém” , mắng yêu thằng cháu ”mất dạy” nghịch phá, lêu lỏng, rong chơi ”mẹ mầy ”  (…cha mầy ). Càng gợi nhớ hơn nữa với những kỷ niệm đẹp, ngọt ngào của những ngày còn bé; dòng sông mênh mang, những nhánh bần de, bọn trẻ ” phóng đùng” xuống dòng ” nước mát” rồi lặn, rồi tìm, bắt chân, la lối đầy nghịch ngợm, thích thú đến nỗi chị phải réo gọi đến khàn tiếng và cha đánh đòn bầm tím vết roi! Hay niềm vui theo từng tiếng trống trường, trên đường đi học có tiếng chim hót trên cao, cùng đám bạn chia nhau những trò chơi, chia nhau từng tiếng cười, và lo sợ khi nghe thầy gọi (trả bài), để rồi có khi (làm bài sai, không thuộc bài, nói chuyện hay lơ đễnh trong lớp học ..gì đó …) cũng bị thầy ban cho vài thước kẻ vào bàn tay!

Ở đoạn 2, lớn lên chút nữa, tuổi mộng mơ đã biết ”trao lưu bút” mỗi dịp hè về, đã  phân vân sau mùa chia tay, lệ rơi từ biệt không biết còn gặp lại bạn bè hay không. Trong thời chiến có thể chàng trai giã biệt sân trường gia nhập quân đội; cũng có thể hai người vì theo cha mẹ dời đi, phải phân ly. Rồi ” buồn vui gác trọ ” ” hút thuốc” ”nghe nhạc” khi lớn hơn chút nữa.

Đoạn 3: ”mùa định mệnh ”, đã làm thay đổi bao số phận con người, bể dâu với những nghiệt ngã, đoạn trường! ”Bể dâu. Biệt ly. Mong đợi!/Khổ đau thay thế nụ cười!” ”Bao năm chém tre đẵn gỗ/Bạn bè. Chết không nấm mồ!”. ”Mẹ già vượt đồi núi khổ/Thăm con. Lệ cạn mắt khô!” ”Con ơi. Vợ con Kiều đó/Bán thân. Lo giúp cho chồng!”

Đoạn 4: ”con đường từ biệt” với bao nỗi buồn chua xót “nước mắt lưng tròng ” ”Rặng cây quê hương mờ bóng/Có còn gặp lại được không?”

Đoạn 5 là nỗi niềm của người tha hương lưu lạc ”Quê hương hoài mong thương nhớ/Cô thân. Lưu lạc phương người /Chiều nay. Nhớ dòng sông ấy/Lục bình hoa tím hoài trôi! “, với những trở trăn, dằng xé giữa hai thái cực ”nhớ hay quên”.

Bài thơ khép lại với hai câu kết đầy trăn trở ” Quê hương sẽ còn để nhớ?/Quê hương đáng nhớ không người ?!”

Quê hương là dòng sữa mẹ. ”Quê hương mỗi người chỉ một / Như là một mẹ mà thôi !” (Đỗ Trung Quân ). Có lẽ trong chúng ta ai mà không nghĩ và mong muốn như vậy, bởi mẹ là nguời duy nhứt, cưu mang nặng nhọc, sinh dưỡng khổ công; mẹ là hình ảnh mà xưa nay ai cũng trân trọng, quý yêu. Thế nhưng, vì hoàn cảnh nào đó, có những đứa con phải chia lìa cốt nhục, cắt đứt tình cảm thiêng liêng mà bỏ ra đi, rồi đến một chân trời xa lạ nào khác, xa cách; có khi là tạm thời, mà cũng có khi là vĩnh viễn thì thử hỏi có đau lòng không? Rồi , vì cuộc sống mới , những đứa con lưu lạc này phải nhận thêm một quê hương thứ hai khác, như là một bà mẹ nuôi, không sinh mà có dưỡng, bên hiếu, bên tình, bên thương, bên nhớ, canh cánh bên lòng những nỗi xốn xang! Người bên mẹ, tâm tình cố định, kẻ ra đi sóng gió dập dềnh. ”Ngựa Hồ gầm gió Bắc, Chim Việt đậu cành Nam”, con vật còn có tánh linh, huống hồ chi con người vốn đa mang nhiều tình cảm!

Có một câu nói mà người tha hương vẫn hay nghe nhắc đến “chúng ta ra đi mang theo quê hương”. Có người hỏi ” quê hương đâu phải cục đất, cái lu, cái hủ hay đứa con nít mà mang theo được? ” Đúng! Quê hương không đơn giản chỉ là vật chất, là đất, là núi là sông, là đền đài , nhà cửa , chợ búa … mà còn ẩn chứa phần hồn, là những thứ thiêng liêng đã ăn sâu vào tâm khảm của con người . Một câu hò, một giọng nói, một gương mặt, một làn gió, một món ăn…tất cả tinh hoa chắt lọc thành kỷ niệm, tạo nên hồn dân tộc; hòa quyện với nhau trong ký ức mỗi khi chợt nhớ về nơi chốn mà mình đã sinh ra, đã lớn lên và (chua xót hơn ) đã phải bỏ ra đi! Cho dù trong thực tế, cùng với sự phát triển và lớn lên của lớp trẻ tài giỏi, thành công nơi đất khách, thì một ” cộng đồng vật chất ” cũng nẩy sinh và phát triển do lớp người cũ xa quê cố gắng tạo nên. Những vườn rau, cây chuối, giàn bí, giàn bầu, trái thanh long, nhãn, chôm chôm … trồng trên đất nguời xum xuê tươi tốt. Cơ sở bán buôn mang tên và viết bằng chữ bản xứ, cũng dần dần được bà mẹ nuôi vốn tánh tình hào phóng, bao dung chấp thuận để cho những đứa con lưu lạc tạo ra một ”quê hương nhỏ theo bản gốc ” lồng trong quê hương mới cho đỡ nhớ thương.

Nhưng rồi thì sao? Ký ức cũ, kỷ niệm xưa có thể nào phai nhạt hoặc vĩnh viễn quên đi? Bao nhiêu khúc nhạc, bài thơ về quê hương, cố quốc đã nói lên điều đó! Phải đối diện với ký ức và thực tại, dẳn vật bởi nỗi nhớ, điều muốn quên thì chắc có mấy ai vui, nếu không muốn nói là khổ sở! Tác giả Nguyên Lạc chắc cũng đã có nhiều đêm trằn trọc, muốn xua đuổi những bóng dáng, những hình ảnh cũ, muốn xóa nó đi trong ký ức đau buồn, nên đã thốt lên:

”Quê hương ta ơi… đừng nhớ!

Muộn phiền. Cay đắng mà thôi!

Cố quên. Sao lòng vẫn nhớ!

Quê hương nhớ lắm… người ơi!”

Đọc bài thơ, tôi cảm thấy quá thấm thía với tâm tình của tác giả; chia sẻ từng niềm vui, nỗi khổ mà ”buồn vui nước mắt lưng tròng “. Và còn thấm thía hơn với 2 câu kết:

”Quê hương sẽ còn để nhớ?

Quê hương đáng nhớ không người?!”

Quê hương còn đó không mất, nhưng biết đâu sẽ mai một, quên đi và mất nếu ta không đem hết tâm huyết, tâm sức của mình để cùng nhau bảo vệ và giữ gìn nó. Cũng có thể suy luận như tác giả Châu Thạch đã viết:”có lẽ người có thể quên quê hương là những người đang ở trên quê hương , người có thể phá quê hương là những người đang ở trên quê hương. Bởi những người đi xa, không có quê hương nên mới nhớ, không thể không nhớ được. Họ không cầm vận mệnh quê hương trên tay nên cũng không làm sao phá được bằng những người trực tiếp với quê hương”.

Nếu bảo bài thơ Quê Hương của Giang Nam là một bức tranh đẹp, nhưng buồn vì nó được lồng vào một cuộc tình đẹp mà đoạn kết bi thương, bài thơ ấm lên thơm nồng cùng mùi đất và trở nên thiêng liêng bất tử “yêu quê hương vì trong từng nắm đất / Có một phần xương thịt của em tôi”; bài cuả Đỗ Trung Quân , một viên ngọc toàn bích, không tỳ vết, một bức tranh đẹp mà bà mẹ đã in vào đầu óc non nớt cuả đứa trẻ vì yêu con, bức tranh naỳ quá đẹp và vì lý tưởng quá nên không chứa thêm nhiều nét khác. Bức tranh quê hương mới của Lạc Nguyễn là bức tranh đầy đủ nét chấm phá cuả một người “đã lớn được làm người”, trải qua kinh nghiệm, tình cảm, trải qua giai đoạn của lịch sử đau buồn mới. Đây là một bức tranh “đẹp và thật”, một bài thơ chứa đựng tâm tình không riêng cuả tác giả mà như là cũng của một số người tha hương, chung hoàn cảnh khi nhớ về cố quốc. Tác giả Nguyên Lạc hỏi mà  cũng là đã trả lời ”nhớ lắm mà còn thương lắm, quý lắm nữa”, nếu không thương, không cần nhớ thì cần chi gởi gắm tâm tình vừa tha thiết lại ngậm ngùi như vậy!

Nhã My – SươngLam

 

 

 

 

©T.Vấn 2017