Nguyễn Phú Yên: LÊ MAI LĨNH, THI SĨ CỦA TRẦN GIAN

   

Tôi thích gọi nhà thơ Lê Mai Lĩnh bằng cái tên ngày xưa hơn: Sương Biên Thùy. Biên thùy ở đâu? Đó là giới tuyến, là vùng đất của Đông Hà, Bến Hải, Gio Linh… Cái tên gọi đó cho biết anh là người con của Quảng Trị rồi. Vì sao tôi yêu cái tên đó? Ngày trước khi bắt đầu học đệ nhị cấp, tôi đã nghe tên này, tác giả của tập thơ Nỗi BuồnNhươc Tiểu. Với một đứa học trò yêu văn chương, chỉ cần nghe tên một tập thơ của một nhà thơ trẻ tự xuất bản tác phẩm của mình, thì đứa học trò đó đem lòng ngưỡng mộ. Thập niên 1960 ở Huế, từng xuất hiện các tập thơ như Vùng Tủi Nhục của Thái Luân, Quê Nhà của Chu Sơn, Hoa Cô Độc của Ngô Kha, và rồi tiếp đó là Nỗi Buồn Nhược Tiểu của Sương Biên Thùy.

    Các tác giả trẻ tuổi ấy là những người sinh ra trong chiến tranh, tình cảm của họ không còn mang phong vị cổ điển như xưa mà thấm đẫm tư duy về hiện thực, về trạng huống xao xuyến, thao thức, băn khoăn, ưu tư trước ngưỡng cửa cuộc đời, trước số phận con người và sinh mệnh đất nước.       

    Tôi cứ tưởng nhà thơ Sương Biên Thùy từ Quảng Trị đi vào đất học là xứ Huế, nhưng không, với tuổi trẻ thích phiêu bồng, anh đi xa hơn, vào học tận Nha Trang. Năm 1963, chính tại nơi đây anh cho xuất bản tập thơ đầu tay của mình. Tác phẩm của một anh học trò Trường Võ Tánh đã làm giật mình giới cầm bút ở đây, vì cậu học trò nào từ xa mới đến mà dám chơi trội, “bóp còi qua mặt” các tao nhân mặc khách của xứ thùy dương, nhất là ông “vua thơ” Sao Trên Rừng thì ra mặt dọa dẫm. Nhưng không, chàng thi sĩ trẻ tuổi chỉ muốn “chào sân” bằng những tình cảm riêng tư, tự nhiên, chân thật, tha thiết của mình.

     Với Sương Biên Thùy, những vần thơ đầu đời của anh luôn dành cho gia đình và quê hương của anh. Hãy nghe anh kể lể về cuộc đời mình:

Cha tôi còn, nhưng người theo kháng chiến

Phung phí một đời cho ảo tưởng hôm qua

Sống, chết đến nay, tôi không còn biết

Dư ảnh lu mờ, kỷ niệm phôi pha.

Từ cha tôi lên đường kháng chiến

Mẹ tôi về lo việc bán buôn

Mang tuổi thơ, tôi đã biết buồn

Không lúc cười, dù hoạt kê trước mặt

Mắt không vui, dù đời không buộc chặt

Tôi ngủ nhoài vào vùng lớn suy tư

Mang niềm đau nhược tiểu ưu tư

Tôi chối từ mọi tơ vương vị ngã…

(Chân dung tự họa)

Là người con của Quảng Trị, làm sao anh có thể quên nơi mình sinh ra:

Làm sao tôi có thể quên những người mẹ Quảng Trị

Phơi tấm thân gầy trên ruộng đồng

Dưới cái nắng chang chang cơn gió Lào rát mặt

Chắt chiu từng hạt lúa củ khoai…

Làm sao tôi có thể quên những người cha Quảng Trị

Tất bật ngược xuôi cuối bãi đầu ghềnh

Nhặt nhạnh từng gánh than gánh củi

Đổi thành gạo thành tiền, thành cơm thành áo…

Và nhất là khi nhìn rõ hiện thực chiến tranh, anh chia sẻ nỗi niềm đau thương:

Những cha con, chồng vợ, cháu chắt, ông bà

Bồng bế, gồng gánh, chân đất đầu trần

Đói khát, khóc la và gào thét

Đi trên mìn chông, đi trong đạn lạc

Đi giữa bom napalm, đi cùng tiếng đại bác

Đi suốt con đường khổ nạn, trầm luân…

    (Lời tạ lỗi với quê hương)

    Bên cạnh những vần thơ lấy cảm hứng từ nơi đất mẹ, người đọc còn tìm thấy trong thơ anh hình ảnh của xứ Huế vẫn mãi vương vấn trái tim chàng thi sĩ tài hoa. Không biết tự khi nào mà anh để lại những tình cảm lưu luyến ấy cho xứ thần kinh đầy thơ mộng:

Hãy tưởng tượng mỗi lần nói đến Huế

Những bà mẹ Việt Nam mặc áo lam

Ăn chay trường trai…

Hãy tưởng tượng mỗi lần nói đến Huế

Những dòng nữ sinh Đồng Khánh

Đi xe đạp đến trường

Áo trắng, cặp da đen…

Về một mùa đông những ngày dài chi lạ

Về một cây cầu…

(Trường ca cho Huế mùa xuân)

    Kể từ khi anh đoạt giải nhất văn chương của Phật giáo Quảng Trị năm 1962, anh say mê đi vào con đường chữ nghĩa. Con đường ấy dẫn anh đi xa hơn, đi suốt cả cuộc đời. Anh viết báo, viết chính luận, làm thơ gửi cho các tờ báo và tạp chí ở Sài Gòn. Chính trong môi trường văn chương này, anh đã quen biết nhiều nhà văn, nhà thơ và tên tuổi anh dần được mọi người biết đến. Đặc biệt là khi anh viết bài bút chiến với Mặc Đỗ năm 1969, với Uyên Thao năm 1971. Cùng năm đó, anh ứng cử dân biểu Hạ nghị viện, đơn vị Phan Thiết – Bình Thuận và năm sau 1972, nhân danh một thi sĩ, anh đề nghị “Một giải pháp hòa bình cho chiến tranh VN”. Đúng là một người tự  nhận trách nhiệm của một “thất phu” nên phải dấn thân tích cực trước vận nước điêu linh.

     Năm 1968, sau cuộc sống dân sự, anh bắt đầu vào quân trường Thủ Đức, mặc áo lính và năm sau anh được đổi về Bình Thuận, có tên trong hai đại đội tác chiến ở đây – vùng đất dữ của những người lính. Không biết trong những ngày chiến đấu, có khi nào anh đặt chân đến những địa danh như Sông Mao, Chợ Lầu, Ma Lâm, Thiện Giáo, Tà Dôn, rồi những mật khu Lê Hồng Phong, Tam Giác Sắt…? Có lần tôi gặp anh trong một quán cơm trên đường Nguyễn Hoàng, Phan Thiết; anh là thiếu úy Lê Văn Chính, một anh lính gương mặt xương xẩu, phong sương, ngang tàng cất bước trong một lần về thị xã giữa những ngày đầy cơn gió thốc bụi đường vào cuối năm. Một nhà thơ cầm súng như bao nhà văn, nhà thơ từng dừng chân tại vùng đất này: Y Uyên, Dzũng Chinh, Tạ Chí Đại Trường, Phạm Tín An Ninh, Nguyễn Bắc Sơn, Lê Nguyên Ngữ, Mai Việt, Phan Anh Dũng, Huỳnh Hữu Võ, Nguyễn Dương Quang…

     Năm 1975, khi Sài Gòn sụp đổ, cũng như bao người lính khác, anh phải vào trại cải tạo, ngao ngán qua 10 trại tù khắc nghiệt từ Nam ra Bắc. Đó là dấu ấn của một bước ngoặt cuộc đời:

Ta được người mệnh danh giải phóng

Đưa xuống tàu từ giã miền Nam

Ra tới đây núi rừng Việt Bắc

Tù khổ sai, không được than van…

(Giao thừa năm 37 tuổi)

Cuộc sống tù túng, ngột ngạt, giam hãm thân xác nhưng không thể nhốt kín tâm hồn người thi sĩ:

Ta thấy rồi Tự do mở rộng

Song sắt nào khóa nổi hồn ta

Đêm giao thừa trong nhà giam lạnh

Nhưng ấm lòng ta, niềm tin quê nhà.

(Giao thừa năm 37 tuổi, Trại tù Lào Cai, 1978)

Tuy sống trong trại tù khổ sai đầy gian khổ, bị đói ăn, bị lao động nặng nhọc, khi rét lạnh căm căm, đã nếm những đòn thù nhưng anh vẫn giữ lửa trong tim, vẫn tha thiết yêu cuộc đời ấm lạnh:

Chào tái ngộ mùa đông ta sống

Trong những ngày sôi nổi niềm tin

Dẫu khó khăn nào ta vẫn sống

Để đợi giờ báo hiệu Bình minh.

(Mùa đông đi cấy ruộng sình, Trại tù Vĩnh Phú, 1979)

Cảm ơn đời còn cho ta hi vọng

Cảm ơn em, còn đứng lại đợi chờ

Ta còn em, còn con, còn một trời sức sống

Thì còn ta với trăm nỗi ước mơ.

(Thơ tình mùa hạ)

Và khi được trở về cuộc sống tự do, gửi lại lời từ giã những vùng đất khổ đau để trở về quê xưa, dù mưu sinh đầy gian khó nhưng thi sĩ vượt qua bởi niềm tin yêu mạnh mẽ:

Về quê hương vào những ngày cuối năm

Trên con tàu chở đầy xiềng xích

Xin vĩnh biệt chào vương quốc lừa dối

Trả lại người những đói rét hờn căm…

Mai ta đi chào những ngôi giáo đường

Đứng lạnh lùng giữa hoang tàn cỏ dại

Hãy ở lại nghe những nghiêng chùa đổ chái

Áo rêu phong khép kín niềm thương…

(Chuyến tàu cuối năm)

    Lê Mai Lĩnh viết rất nhiều thơ từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường cho đến nay với nhiều đề tài từ tình yêu, chiến tranh, thế sự, bi phẫn đôi khi táo bạo cho đến thân phận, quê hương, đấu tranh cho tương lai đất nước, tỏ bày thế đứng dõng dạc của người thi sĩ trước bạo quyền… Với hai thi phẩm Bản cáo trạng hay Thư gởi tên tù nhân của lịch sửNăm bài thơ cảm hứng từ phong trào Dù vàng Hồng Kông, anh đã cho ta thấy diện mạo thi sĩ là một người dũng cảm, kiên cường, đầy khí phách. Hình ảnh thi sĩ càng rực rỡ hơn khi anh viết một tuyên ngôn thơ, một tuyên ngôn trước cuộc đời, dù ngắn ngủi nhưng đầy bất khuất: “Dù trong gông cùm, xiềng xích, trước họng súng, lưỡi lê, thi sĩ vẫn lên tiếng và thơ đã có mặt”.

    Thơ Lê Mai Lĩnh không bay bổng vào thế giới thần tiên, không tìm nguồn mỹ cảm trong những phong hoa tuyết nguyệt của một thời xa xưa. Một đời anh gắn bó với quê hương, với mảnh đất nuôi anh lớn lên với mọi cảnh đời, với mọi người. Anh mãi hiện hữu, luôn tại thế, luôn ở lại với cõi đời bởi anh là thi sĩ của trần gian.

Nguyễn Phú Yên

©T.Vấn 2023

Bài Mới Nhất
Search