Lê Mai Lĩnh: Một góc nhìn: 50 năm văn học miền Nam lưu vong (2)

                     Phần Hai – 1975/2025PHÂN CHIA NHIỆM VỤ.

Nếu hiệp định Geneva năm 1954, là một cơn biến động lịch sử, mang tới những thay đổi cho dòng sinh mệnh văn chương nước ta, tốt cũng như không, thì cơn cuồng nộ mang tính lịch sử ngày 30/4/1975, cũng không khác, văn chương miền Nam phải chịu cơn chia lìa, phân tán, có “chủ đích thần thánh”, nằm ngoài dự tưởng.

Nếu bảo, văn chương miền Nam trước 30/4/1975, là một con sông lớn (đại giang), thì, y như rằng, đúng chiều 30/4/1975, đại giang, tự nguyện, tự động, tự giác, xếp thành đội ngũ, phân chia làm BA NHÁNH SÔNG, không ai chỉ huy, không ai ra lệnh, không ai trao cấp bậc, không ai hứa hẹn trả lương, thù lao, không ai hứa trao huy chương, tưởng lục, hay bằng khen.

Nhưng có ba nhánh sông.

Vâng, ba nhánh sông, im lặng lên đường, như những chiến binh buổi can qua, không cần cấp chỉ huy, tự mình ra lệnh và tuân lệnh.

Vâng, ba nhánh sông, âm thầm vào trận địa, xếp hàng thành đội ngũ.

  1. Nhánh thứ nhất, tiến quân ra Bắc.
  2. Nhánh thứ hai, bám trụ vị trí cũ, chiến trường xưa: mai phục, bám chốt, ăn, ngủ, thở, trong lòng giặc, tình nguyện làm chứng nhân và nạn nhân.
  3. Nhánh thứ ba, lui quân, di tản, bảo toàn con người và di sản văn chương.

Lựa chọn này, sắp xếp này, “thần linh văn chương” mật lệnh cho chúng ta, không ai trong chúng ta dự phần chủ động.

Lựa chọn này, một lựa chọn không thể khác, đã làm nên một nền văn chương, ngoài nước, văn chương lưu vong, mụ mẫm, sổ sữa, bặm trợn, ngầu, rất ngầu, với hàng ngàn người viết, hàng trăm ngàn tác phẩm, sung mãn, cự phách, vô đối, mà tôi sẽ nói tới.

1/ Nhánh sông tiến quân ra Bắc: là khi những ĐÊM GIÃ TỪ HÀ NỘI, THÁNG GIÊNG CỎ NON, BẢN CHÚC THƯ TRÊN NGỌN ĐĨNH TRỜI ( Mai Thảo ), TÔI KHÔNG CÒN CÔ ĐỘC, BẾP LỬA (Thanh tâm Tuyền), ĐEM TÂM TÌNH VIẾT LỊCH SỬ, ĐẠI UÝ TRƯỜNG KỲ (Nguyễn mạnh Côn), NGƯỜI VIỄN KHÁCH THỨ MƯỜI (Nghiêm Xuân Hồng ), THÀNH CÁT TƯ HÃN (Vũ khắc Khoan ), BA SINH HƯƠNG LỬA (Doãn quốc Sỹ ) những tác phẩm của Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Chu Tử, Nguyên Sa, Nguyễn đình Toàn, Du Tử Lê, Nhật Tiến, Duyên Anh, Võ Hồng, Viên Linh, Quách Thoại, Bùi Giáng, Phạm công Thiện, Trần Hoài Thư, Thái Tú Hạp, Văn Quang, Sương biên Thùy, Phương Tấn, Phạm thiên Thư, Luân Hoán, Tô Thùy Yên, Nhật Tiến, Nhã Ca, Trần dạ Từ, Viên Linh, Trùng Dương, Tuý Hồng, Nguyễn Thụy Vũ, Nguyễn thị Hoàng…

và những băng nhạc tiền chiến, Bolero, với những tiếng hát Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan, Khánh Ly, Hà Thanh, Hoàng Oanh, Thanh Thúy, Bảo Yến, Mai lệ Huyền, Kim Tước, Mai Hương, Thanh Thúy…. bên nữ.

Bên nam, là những Nhật Trường, Duy Khánh, Từ công Phụng, Chế Linh, Duy Trác, Duy Quang, Tuấn Ngọc, Anh Khoa…..

Đã làm nhiệm vụ là những chiến sĩ văn hóa, tiến quân ra Bắc, bằng những con đường chui, nằm dưới đáy ba lô, trong những chiếc túi xách tay, trong những thùng hàng,  trong những toa tàu, của những người “vội vã vào vơ vét về “. 

Đó là những ngày đầu, thoạt đầu, là những bước thứ nhất.

Về sau, là những toa tàu xe lửa, những bến sông, bờ đại dương, tuồn, cắp, cướp, chiến lợi phẩm, chở về Bắc, hàng trăm hàng ngàn tấn văn hóa phẩm, từ một nguồn văn chương bội thu của văn chương miền Nam, nền văn học lớn mạnh, từ một xứ sở tự do vô biên.

Ngay sau ngày 30/4/1975, món ăn tinh thần của người Hà nội nói riêng, miền Bắc nói chung, là những tác phẩm văn chương, âm nhạc, của miền Nam, Saigon, thủ đô văn hóa.

Báo chí nói rằng, và là sự thật, sau 30/ 4/1975, trong các cơ quan, văn phòng làm việc, cán bộ, nhân viên, miền Bắc, chúi mũi vào những cuốn sách miền Nam, dấu trong hộc bàn, trong ngăn kéo, đọc hăm hở, miệt mài, vì từ lâu, đói sách.

Những phòng trọ, những căn nhà, được khép kín, canh chừng, khi nghe tiếng hát của những ca sĩ miền Nam, âm nhạc miền Nam.

Thoạt đầu, họ nghe lén, vì vẫn còn bị coi là “văn hóa đồi truỵ”, sợ láng giềng chỉ điểm, công an làm khó.

Nhưng về sau, âm nhạc miền Nam vang vọng khắp, mọi nẻo phố phường, cùng hang, cuối ngõ.

Thậm chí nghe nói, có những tụ điểm cho thuê sách, báo văn học miền Nam, băng casset, video.

2/ Bộ phận thứ hai, hay còn gọi, nhánh sông thứ hai, mai phục, nằm vùng ở lại, ngấm vào lòng đất, nuôi dưỡng, duy trì, phát huy, hào khí văn chương miền Nam.

Họ, những nạn nhân và chứng nhân.

Họ, là những Dương nghiễm Mậu, Nguyễn Thụy Long, Nguyễn thị Hoàng, Nguyễn thị Thụy Vũ, Tô kiểu Ngân, Nguyễn tôn Nhan, Thế Phong, Thế Uyên, Đặng Tấn Tới, Trần Tuấn Kiệt, Văn Quang, Thiếu Khanh, Như Không, Nguyễn hữu Thụy, Nguyễn hữu Thời, Lê nguyên Ngữ, Nguyễn dương Quang, Từ thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn, Cao huy Khánh, Ngô nguyên Nghiễm, Nguyễn lệ Uyên, Nguyễn vũ Sinh, Lý Thụy Ý, Nguyễn Phú Yên, Trần tuấn Kiệt, Lê văn Trung, Kha tiệm Ly, Lê ký Thương, Châu Thạch, Trần vạn Giã, Thanh Hồ, Thụy Sơn…

âm thầm, miệt mài sáng tác, gởi ra cuộc đời những tác phẩm in dấu thời đại.

Thụy Sơn: Ngày Không Gió, Như hạt bụi đam mê, Trầm tích/ Như Không: Màu của gió, Đoá hoa tật nguyền/Nguyễn hữu Thụy: Hoa tim, Nín Thở/ Lê văn Trung : Cát bụi phận người, Tịnh khúc, Thu hoang đường, Biệt khúc/ Nguyễn hữu Thời: Trong cuộc đao binh, Thơ những người thua cuộc, thơ tình/ Kha tiệm Ly: Xóm âm hồn, Hương xưa còn đó, Thơ túi rượu bầu, Bánh đúc có xương/ Nguyễn dương Quang : Đêm ôm đàn uống rượu một mình/ Thiếu Khanh: Trong cơn thao thức/ Từ thế Mộng: Lời cỏ non, Lẽo đẽo Phương Quỳ, tuyển tập thơ Từ thế Mộng/ Lê ký Thương: Góp nắng cho cây/ Nguyễn Bắc Sơn: Chiến tranh Việt Nam và tôi, Người làm thơ phương Đông/ Ngô nguyên Nghiễm: Hai tập biên khảo các tác giả miền Nam, trước 30/4/1975/ Nguyễn Phú Yên: hai tập biên khảo, âm nhạc miền Nam/ Đỗ tư Nghĩa: nhà thơ, dịch giả/ Đỗ tư Nhơn (nhà thơ Trầm Tư)/ Trần thoại Nguyên, tự nhà thơ bụi đời/ Hồ trung Chính/

Những năm sau, vì không thể chối cãi, phủ nhận giá trị văn chương miền Nam, và cũng không thể khai sinh được, một trào lưu văn chương thích hợp, thoả đáng, cho nhu cầu người đọc, nên nhà cầm quyền đã buộc lòng, phải cho tái bản những tác phẩm văn học của các nhà văn gốc Việt nam cộng hòa: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn thị Hoàng, Nguyễn thị Thụy Vũ.

Đặc biệt vào giữa năm 2024, tiến sĩ văn chương Hoàng kim Oanh, tổ chức một buổi hội thảo về THƠ, của nhà thơ Thanh tâm Tuyền, tức đại úy QLVNCH Dư văn Tâm, giữa lòng SAIGON, thủ đô văn hóa miền Nam xưa.

Điều này cho thấy sự tuyệt vọng của giới cầm bút và lãnh đạo nhà sản.

Điều này, chẳng khác gì, trong âm thầm, không chính thức, họ vinh danh và trao vòng nguyệt quế cho nền thơ miền Nam, mà tác giả Tôi Không Còn Cô Độc, là một biểu tượng.

3/ Nhánh sông thứ ba, lui quân, di tản, bảo toàn con người và gia sản văn chương.

Nếu chúng ta tin rằng, có một đời sống tâm linh, thì việc rút lui, ra khỏi nước vào thời điểm sau 30/4/1975, là một lựa chọn Định mệnh, do đấng thiêng liêng quyết định.

Với một cái nhìn xuyên thấu, tự tin, kiêu hãnh, khi soi rọi nền văn học lưu vong, ta nên lưu ý ba giai đoạn trải qua như sau:

+ Định hình.

Những ngày đầu trên đất mới, bơ vơ, lạc lõng là tâm lý chung của những người cầm bút, bị bật gốc khỏi thửa ruộng văn chương cố quận.

Nhưng lực lượng ra đi, đa phần còn kẹt lại ở các trại tị nạn, các đảo, số lượng vào Mỹ không nhiều, nên những năm đầu sinh hoạt văn chương còn cầm chừng, cục bộ, chỉ tập trung ở tiểu bang California, mà sau này, khi phát triển lớn mạnh, nên được gọi là thủ đô văn hóa Việt nam lưu vong.

Một số những thi sĩ, nhà văn vào Mỹ sớm, như Nguyên Sa, Lê tất Điều, Đỗ quý Toàn, Đỗ Ngọc Yến, Nguyễn đức Quang, Nhật Tiến…

Họ đã bắt đầu khai sinh những Nhật báo, tạp chí văn nghệ.

Nhà báo Đỗ ngọc Yên, Đỗ quý Toàn,  có tờ nhật báo Người Việt .

(Tôi, mãi tới năm 1994, mới tới Hoa Kỳ và lưu trú vùng Đông/Bắc, nên không rõ lắm, những gì bên California, nơi được mệnh danh là thủ đô văn hóa tị nạn)

Do vậy, tôi chỉ đề cập tới những người cầm bút hoạt động và các tạp chí, nơi vùng 13 tiểu bang lập quốc, mà tôi gắn liền sinh hoạt trên 30 năm, từ ngày mới qua, tháng 1/1994.

13 tiểu bang lập quốc vùng Đông/Bắc Hoa Kỳ:

Delaware/Pennsylvania/ New Jersey/ Georgia/ Connecticut/ Massachusetts/ Maryland/ South Carolina/ New Hampshire/Virginia/ New York/ North Carolina/ Rhodesia Island.

Các người cầm bút:

+ Massachusetts, Boston:

Trần trung Đạo/ Hoa Văn/ Nguyễn mạnh Cường/ Trần doãn Nho/ Lâm Chương/Phạm nhã Dự/ Dư Mỹ/ Phan Xuân Sinh/ Lương thư Trung/ Hoàng long Hãi/ Lê Gioăng/ Lê Vinh/ Việt Hùng/ Hồ công Tâm/ Phan bản Nhản/ Nguyễn Trọng Khôi/ Trần hoài Thư/ Xuân thiên Vị/ Ngô minh Hằng/ Hạ thi Nhân/ Trần quán Niệm/ Hà kỳ Lam/ Huỳnh văn Phú/ Nhã Nam/

+ Maryland/ Virginia/ Washington DC :

BỘI HẰNG/ HOÀNG QUỲNH HOA/

LÊ THỊ Ý/ LÊ THỊ NHỊ/THÁI AN/

DIỆM TRÂN/ NGUYỄN TÚ/

HOÀNG PHƯỢNG/ CHÚC ANH/

XUÂN TIÊN/ PHƯƠNG HOA/

KIM LOAN/ MINH NGUYÊT/

DƯƠNG VIỆT CHỈNH/ HƯƠNG PHỐ/ VI VÂN/ TƯỜNG DUNG/

TƯỜNG NHUNG/ KIM OANH/

THANH SONG KIM PHÚ/ NGỌC HẠNH/ PHẠM LANG/ LÃM THUÝ/

SAO KHUÊ/ MINH THUÝ/ THÁI LAN/ CAO MỴ NHÂN/TIỂU THU/

THÚY MESSEGEE/ NGUYỄN PHAN NGỌC AN/ LÊ MỸ HOÀN/ THƯ KHANH/ TƯỜNG THÚY/ TRỊNH BÌNH AN/ CUNG THỊ LAN/

LÊ DIỄM/ NGUYỄN THỊ THÊM/

LÊ TỐNG MỘNG HOA/

NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG/

HOÀNG BẠCH MAI/ Ý NHI/

ĐỖ DUNG/ HOÁNG QUÂN NGỌC THÚY/ NGUYỄN HỮU MỸ NGA/

HỒNG THUỶ/ Nhất Hùng/ Đào trường Phúc/ Nguyễn thị Thanh Bình/ Cao Nguyên/ Phan Khâm, Phan anh Dũng/ Phùng văn Nguyên/ Nguyễn thị Ngọc Dung, Trương anh Thụy…..

+ Các tạp chí và cơ sở văn hoá:

Vùng 13 tiểu bang lập quốc:

+ Massachusetts, Boston,

Tạp chí Dân chủ mới, nhà báo Việt Hùng, chủ nhiệm/ nhà thơ Hồ công Tâm, chủ bút.

Bán Nguyệt san Thăng Long, nhà báo Nguyễn mạnh Cường, chủ nhiệm, chủ bút.

+ CONNECTICUT:

Tạp chí Lửa Việt, nhà thơ Lê mai Lĩnh, chủ trương.

+ New York:

Tạp chí Đồng Tâm, nhà báo Trần minh Trí, chủ nhiệm, nhà văn Nguyễn văn Tánh, chủ bút.

+ New Jersey:

Tổ hợp Thư quán bản thảo, do hai nhà văn Trần Hoài Thư, Phạm văn Nhàn chủ trương.

+ Virginia/ Maryland/Washington DC:

  • Nhà xuất bản Cành Nam, do nhà văn Trương anh Thụy, chủ trương.
  • Nhà xuất bản và tạp chí Cỏ Thơm, do nhà văn Nguyễn Ngọc Dung, chủ trương.
  • Văn nghệ tiền phong.
  • Nguyệt san Kỷ nguyên mới.
  • Nhà Việt nam:
  • văn bút miền Đông/Bắc Hoa Kỳ, do nhà văn Hồng Thuỷ làm chủ tịch với đội ngũ những nhà văn, thi sĩ, lên tới 50 thành viên. Đây là một tập hợp đông đảo nhất trong các tập họp văn chương hãi ngoại. 
  • Với sự tham dự mới nhất của hai văn hữu Võ Phú và Tạ Quang Tuấn, văn bút, mùa Xuân 2025, đã cho ra mắt hai công trình văn chương:  1/ tạp chí tam cá nguyệt của Văn bút, 2/ Tuyển tập 36 nhà văn nữ.
  • Đặc biệt năm nay, kỷ niệm 50 năm văn bút VN lưu vong, nhà văn Cung thị Lan, chủ tịch văn bút Việt Nam hãi ngoại, tổ chức một chương trình văn nghệ: hội chợ sách, giới thiệu tác giả và tác phẩm.

Bắt đầu từ năm 1990, khi những người cầm bút trong quân đội VNCH, sau những năm tù cải tạo, được sang Mỹ theo diện nhân đạo (H.O. ), nhờ thế, sinh hoạt văn chương trở nên sôi động, phát triển trên toàn khắp nước Mỹ.

Nhiều tiểu bang thành lập hội cựu tù nhân chính trị, cũng chính nơi này, làm nên, ban biên tập cho những tạp chí đấu tranh, có mặt trên nhiều tiểu bang, đặc biệt là những tiểu bang có nhiều người Việt định cư, nhiều người cầm bút lính trú ngụ, như : California/ Houston/ Boston/ Florida/ Dallas/ Atlanta.

Tuần, tháng nào, cũng có những buổi Ra Mắt Sách (RMS ) của những tác giả lính, cựu tù nhân:

Trần hoài Thư/ Lâm Chương/ Hà thúc Sinh/ Trần doãn Nho/ Lê mai Lĩnh/ Phạm tín An Ninh/ Hạ quốc Huy/ Đức Phổ / Phan Xuân Sinh/ Dư Mỹ/ Hoa Văn/ Phan Khâm/ Phạm ngũ Yên/ Yên Sơn/ Phạm nhã Dự/ Hạ Thái/ Trần vấn Lệ/ Quan Dương/ Nguyễn Xuân Thiệp/ Ben Oh/ Lương thư Trung/ Trương Vấn….

+ VAI TRÒ, NHIỆM VỤ VĂN CHƯƠNG LƯU VONG THỜI HẬU CỌNG SẢN.

Trước khi nhận diện vị trí, nhiệm vụ của văn học VN lưu vong, thời hậu Cọng, thiết tưởng chúng ta nên có một cái nhìn ngoái về, thực trạng văn học trong nước, sau 50, chiếm đóng, miền Nam và cả nước.

+ Gần đây báo chí trong nước xuất hiện một bài viết LIÊN QUAN TỚI VĂN CHƯƠNG, CHỮ NGHĨA, người ký tên là PHÙNG HOÀI NGỌC.

Bài viết, NHƯ MỘT TIẾNG KHÓC TRẦM THỐNG, như một NỖI TUYỆT VỌNG TẬN CÙNG, DƯỚI ĐÁY, của VĂN CHƯƠNG, như một lời AI OÁN NỈ NON, về một nền VĂN HỌC CUỐI MÙA, CỦA MỘT CUÔC TỰ SÁT TẬP THỂ, như một lời CÁO CHUNG, VĨNH BIỆT, của cái gọi là NỀN VĂN CHƯƠNG HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, là một DẤU CHẤM THAN, CHẤM HẾT, của một thế kỹ VĂN NÔ, THI NÔ của NHỮNG NGƯỜI CẦM BÚT, MỘT THỜI LÀ CON CƯNG CỦA CHẾ ĐỘ, của một thời VĂN CHƯƠNG XÂY DỰNG, NUÔI DƯỠNG BẰNG SỰ THÙ HẬN, DỐI TRÁ và LÁO KHOÉT.

Bài báo xuất hiện cùng lúc với ĐẠI HỘI 12 CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM. 

Cái thời, mà SỰ CÁO CHUNG CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM, như một hệ quả TẤT YẾU CỦA LỊCH SỰ và CỦA LẼ ĐỜI, LUẬT NHÂN QUẢ.

Bài báo của tác giả PHÙNG HOÀI NGỌC viết: 

“ Văn học xưa nay, thường là mũi nhọn, tiền phong, đỉnh cao của NGHỆ THUẬT, trong mọi thời đại. 

Văn học vừa mang tính hàn lâm, đồng thời mang tính đại chúng, và ảnh hưởng sâu bền nhất là đi qua nhà trường. 

NHƯNG HƠN NỬA THẾ KỶ QUA, VĂN HỌC CHỈ BIẾT LIÊN MIÊN KHÁNG CHIẾN VÀ XÂY DỰNG “ LÂU ĐÀI ẢO TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.”

CHỦ ĐỀ CỦA HƯỚNG CA NGỢI VẼ ĐẸP CON NGƯỜI VÀ TÌNH BẠN QUẢ LÀ RẤT THIẾU VẮNG VÀ NHẠT NHÒA. 

VĂN CHƯƠNG LÃNG MẠN THÌ CỤT HỨNG : NGỚ NGẨN, QUỜ QUẠNG, KHÔNG VỖ CÁNH LÊN ĐƯỢC. 

TÁC PHẨM CỦA NHỮNG CÂY BÚT ĂN LƯƠNG KHÁ NHẠT NHẼO, IN ĐƯỢC SÁCH XONG THÌ THÔI,

CHẲNG CẦN GIỚI PHÊ BÌNH BÀN LUẬN. 

TÌNH TRẠNG ĐÓ TRIỀN MIÊN DIỄN RA TỪ 20, 30 NĂM QUA “

Cũng xuất hiện bên cạnh bài viết của tác giả PHÙNG HOÀI NGỌC, nhà văn NGUYÊN NGỌC, được xem như bậc thầy, đỉnh cao của văn chương CHỐNG MỸ, cũng lên tiếng:  

” VĂN CHƯƠNG NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI TRIỀN MIÊN THIẾU VẮNG TÌNH BẠN.

NÓI CHUNG VĂN CHƯƠNG THIẾU VẮNG NHỮNG GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CƠ BẢN, VÌ PHẢI NHƯỜNG ĐẤT CHO VĂN CHƯƠNG CÁCH MẠNG”.

Hai bài viết này của hai ông Nguyên Ngọc và Phùng hoài Ngọc, mang tính TỐ CÁO SỰ YỂU KÉM CỦA NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO VĂN HỌC VÀ CHÍNH TRỊ TRONG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, TRONG SUỐT HƠN 80 NĂM QUA. 

Nay, ngày trở về, hồi hương đã cận kề.

Chúng ta biết, phải làm gì, và vai trò, sứ mệnh, của văn chương lưu vong, thế nào, thời gian hậu cọng sản.

Chúng ta, 50 qua, dõi mắt về quê nhà, chúng ta đã ghi nhận, những tàn phá, hủy diệt, của thứ văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa, lên đời sống tinh thần của nhân dân ra sao.

Để từ đó, dẫn tới một xã hội, phi đạo đức, vô văn hóa, nếu nói, một xã hội, người ăn thịt người, cũng không sai.

Văn học việt cọng, đất nước cho là tiến bộ thành công rực rỡ ! Sao mỗi độ Xuân về, không có nổi một bản nhạc Xuân cho ra hồn ? 

Cứ thấy người ta mở nhạc Xuân của thời VNCH.

Nhạc sỹ nâng bi đầy đường, thi sỹ bưng bô khắp mọi miền đất nước, lấy đâu ca khúc hay đón Xuân, ngẩng đầu là thấy khẩu hiệu “Mừng Đảng mừng Xuân” giăng tá lả.

Đến XUÂN  DÂN TỘC còn bị chúng đặt sau đít Đảng của chúng, thì còn gì mà hát với ca.

Bài viết sau đây cho thấy giá trị âm nhạc miền Nam, qua đó, thấy giá trị văn học nói chung.

NHẠC VÀNG BẤT TỬ.

Khi mọi thứ đã hoang tàn đổ nát kể cả lòng người dân lành, thì những dòng nhạc trữ tình khe khẽ quay trở về như làn gió nhiệm mầu, xoa dịu bớt cái nổi thống khổ của đời thường XHCN.

CSVN gọi dòng nhạc đó là “Nhạc Vàng” để cân với dòng “Nhạc Đỏ” sặc mùi chém giết, mà giai điệu và tiết tấu mang đậm sắc thái TC. 

Nhưng tới hiện tại thì họ trở nên ganh tị với cái tên gọi đó, vì nó đích đáng và đúng, trên nhiều khía cạnh.

“Nhạc Vàng” không cổ súy chiến tranh mà chỉ biểu lộ những đau thương của con người trong thời chiến. 

Vậy tại sao người ta cấm Nhạc Vàng?

Có phải người ta sợ cái bóng dáng thiên thần dịu dàng và ngọt ngào đầy tình người, sẽ làm hiện thân của Ác Quỷ nổi trội rỏ nét hơn chăng?

“Nhạc Vàng” một tòa lâu đài văn hóa Việt Nam Cộng Hòa bất diệt, chẳng những không hoen rỉ qua thời gian, mà còn lóng lánh hơn, như một kho báu, cho mọi tầng lớp con dân VN suốt 3 miền, kể cả những kẻ từng lên án, vùi dập lẩn sợ sệt nó. 

Bao nhiêu người đã khai thác cái kho báu vô tận nầy.

“Nhạc Vàng” loài hoa mỹ miều kiêu sa, mọc lên từ bom đạn chiến tranh, tồn tại qua bao sự vùi dập, thể hiện tính Nhân Bản của một xã hội đầy tình người, đáng được trân quý như vàng.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, chưa có một đối thủ nào lăm le đứng gần, chứ đừng nói là soán ngôi.

“Nhạc Vàng”, một thứ phụ gia kỳ diệu, không thể thiếu được khi thưởng thức một ly cà phê ngon hay một chén trà thanh thoát. 

Một tay guitar và nhạc vàng luôn là tâm điểm cho những buổi nhậu bình dân.

“Nhạc Vàng”, một loại trầm hương hảo hạng, cho bất kỳ cuộc họp mặt nào từ quê ra tỉnh, từ đám cưới đến đám tang, từ sân khấu đại nhạc hội hàng ngàn khán thính giả đến quán cà phê dăm ba người cuối phố, thậm chí là niềm giải trí duy nhất trong chốn lao tù…

“Nhạc Vàng”, là ánh lửa rực rỡ của con Phượng Hoàng hồi sinh từ tro bụi, sau khi những người nhân danh CSCN đã giết nó bằng mọi khả năng của họ.

( Hoàng Ngọc Mai )

Và oái oăm thay, có những tác phẩm văn học hay, lại là những cái búa tạ, gõ lên đầu chế độ: 

Đêm Giữa Ban Ngày, Vũ thư Hiên/ Chuyện Kể Năm 2000, Bùi Ngọc Tấn/ Đèn Cù, Trần Đĩnh/ Thiên Đường Mù, Dương thu Hương.

+ Văn nghệ sĩ lưu vong, những chiến sĩ văn chương thời hậu Cọng.

Ngày cáo chung của chế độ cọng sản, là một tất yếu của lịch sử.

Nên, thời sau cọng, hậu cọng, sẽ mỡ ra một mặt trận mới, mặt trận văn hóa.

Nên, cũng chính họ, những U80, 90, sẽ không đào ngũ, mà sẽ ghé vai gánh vác.

Kinh nghiệm chiến trường xưa, trước  1975+ kinh nghiệm tù cải tạo sau 1975 + kinh nghiệm lưu vong H.O. từ 1990, họ, những chiến sĩ, cây viết, dạn dày kinh nghiệm, bản lĩnh có thừa, gan lì có số má, họ, hàng ngàn người cầm bút, với hàng trăm ngàn tác phẩm văn chương, sẽ cập bến Bạch đằng, cảng Cam ranh, Hải phòng, Đà nằng, sân bay Tân Sơn nhất, Nội Bài, Phú bài.

Theo sau là những hội sách, những đêm đọc thơ, mà bấy lâu nay, nhân dân ta, đói bụng, nghèo sách.

Họ, giờ là những U70, 80, bất sá.

Họ nguyện, sẽ chiến đấu tới hơi thở cuối cùng, với sứ mệnh người lính VNCH:

Tổ quốc/ danh dự/ trách nhiệm.

Để kết luận bài “Một góc nhìn, 50 năm Văn học VN lưu vong”, chúng tôi mượn đoạn văn sau đây, của thi sĩ Trần trung Đạo, khi ông viết “ bài thơ cuối năm hay nhất tôi được đọc” làm phần kết:

“ Bài thơ”Chuyến Tàu Cuối Năm” là bút ký của một người tù trên chuyến tàu từ Bắc vào Nam.

Người tù này chưa được thả, chỉ bị chuyển từ một nhà tù ở Thanh Hóa vào nhà tù khác ở Gia Rai.

Bài thơ Chuyến Tàu Cuối Năm, còn là tâm sự của một thế hệ và hơn thế nữa, là tâm sự của cả dân tộc, trong giai đoạn đen tối của lịch sử Việt Nam.

Lịch sử rồi sẽ sang trang, nhưng bài thơ “ Chuyến Tàu Cuối Năm “ của Lê Mai Lĩnh sẽ sống rất lâu cùng đất nước.

Một mai, khi cách sống và lối sống của con người đổi thay, những bài thơ tỏ tình có tính thời trang sẽ được đưa vào thư viện.

Nhưng những bài thơ gắn liền với thăng trầm của dân tộc, vẫn sẽ tiếp tục sống, sống trong giảng đường đại học, trong sinh hoạt văn hóa và ngay trong những quán café dưới gốc cây me hay trên vỉa phố.

Bởi vì, những bài thơ đó, là một phần của nền văn hóa đầy sinh động của con người trong dòng chảy không ngừng của lịch sử.

Dân tộc Việt Nam còn tồn tại hôm nay và sẽ vượt qua khổ nạn Cộng Sản, bởi vì các thế hệ đi sau thường rất cảm thông với sự chịu đựng và

chia sẻ tâm nguyện của những người đi trước, và đứng lên tiếp tục hành trình của họ.

Trong diễn văn nổi tiếng đọc trước Quốc hội Hoa Kỳ, danh tướng Douglas MacArthur kết luận bằng cách lập lại một câu danh ngôn:

“Những người lính già không bao giờ chết, họ chỉ tan dần đi mà thôi”.

Những người lính cầm bút VNCH còn sống hôm nay rồi cũng sẽ tan dần. 

Nhưng ước mơ một ngày dân tộc Việt thăng hoa phản ảnh trong thơ ca của họ sẽ sống mãi với thời gian.

Năm, mười năm sau, một trăm năm sau, hai trăm năm sau, các nhà viết văn học sử Việt Nam, biết đâu lại chẳng tìm đến con đường Dorchester ở Massachusetts, con đường Bolsa ở California, con đường Bellaire ở Houston v.v… để sưu tầm dấu tích của những người cầm bút Việt Nam Cộng Hòa còn để lại, sau khi đã tan đi trên đất khách.

Đêm ở nhà tôi, nhà thơ Lê Mai Lĩnh đọc bài Chuyến Tàu Cuối Năm và ông đã khóc.

CHUYẾN TÀU CUỐI NĂM.

Về quê hương vào những ngày cuối năm,

Trên con tàu chở đầy xiềng xích,

Xin vĩnh biệt chào vương quốc lừa dối,

Ta trả lại Người, những đói rét hờn căm.

.

Mai ta đi, từ bóng tối mù tăm,

Nơi ta về quê, miền Nam yêu dấu,

Hãy ở lại, những đói nghèo, đau thương, ẩn náu,

Chia tay nghe, vĩnh biệt, yên nằm.

.

Chào không chút xót ,thương, núi rừng Việt Bắc,

Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Lào Cai,

Chào Vĩnh Phú, Thanh Phong, Thanh Hoá,

Còn trong ta cơn ác mộng chưa phai.

.

Chào bo bo, chào sắn khoai, bắp xay, bắp hột,

Vĩnh biệt nghe, nước muối đại dương,

Chào rau tàu bay, lá đay rừng chua xót,

Khi nghĩ về, lạnh buốt khớp xương.

.

Mai ta đi, chào những ngôi giáo đường,

Đứng lạnh lùng giữa hoang tàn cỏ dại,

Hãy ở lại nghe, những nghiêng chùa đổ chái,

Áo rêu phong khép kín niềm thương.

.

Chào con phố nào, ta đã có lần qua,

Dẫu không biết tên để gọi,

Nhưng trong lòng ta thầm nói:

Đó là phố Sinh Từ.

Để nhớ Trần Dần và nhóm Nhân Văn,

Để ngợi ca những thi sĩ, nhà văn,

Đã dũng cảm đấu tranh cho Sự Thật,

Ngậm ngùi trong lòng ta, tưởng nhớ Phan Khôi,

Nhớ ông Bình Vôi bất hủ.

Nơi miền quê nào, ông đã yên nằm, ấp ủ,

Nhưng trong lòng tôi, ông sống mãi,

Ông sống mãi rồi, ông Phan Khôi ơi,

Nhớ về ông, tôi nghĩ tới Kim Tự Tháp của ông Hồ,

Mai cuộc vuông tròn, đời còn tính sổ.

.

Mai ta đi, chào những gia đình bị chỉ định cư trú,

Vách đất mái tranh, không đủ ấm mùa Đông,

Nương sắn, đồi khoai, không đắp đổi qua ngày,

Phải lặn lội rừng sâu, năm năm một lần đổi chỗ,

Thương cụ già tám mươi, tất bật ngược xuôi,

Mấy chục năm rồi đói khổ,

Nhìn đàn con cháu điêu linh,

Không dám đứng lâu với ta, để bày tỏ sự tình,

Sợ thằng công an ngó nhìn, quở mắng.

.

Chào em bé ném đá ta ngày mới tới,

Và cô gái chu miệng chửi rủa mẹ cha ta, ngày mới ra,

Giờ thì các em đã biết ta,

Không phải là quân ăn thịt người,

Nên đã có em mang sắn đến cho ta.

.

Khi con tàu qua tới bờ Nam,

Kinh hoàng lòng ta, rợn người muốn khóc,

Đã sau lưng rồi, xứ sở của đau thương,

Ta đã thoát, hang hùm khó nhọc.

.

Trên những cánh đồng miền Trung tàu qua,

Ta chỉ thấy đàn bà em nhỏ,

Thanh niên đâu, đi lính hay tù,

Đã mấy năm rồi, quê hương thế đó.

.

Này cô gái thanh niên xung phong,

Khi con tàu qua khỏi hầm đèo,

Sao cô cầm đá ném vào đầu công an,

Rồi hai tay chống nạnh nhìn theo.

Này các em ở sân ga Đà Nẵng,

Có bao lăm, lời lỗ thế nào,

Mà em ném cho ta bao thuốc tặng,

Nhỡ công an thấy được làm sao.

.

Này các em nhỏ ở sân ga Nha Trang,

Em hát những gì nghe sao ngộ nghĩnh,

Em giận đời chăng, rằng em bị phỉnh:

– Như có Bác Hồ trong thùng phuy đậy nắp,

– Mở nắp ra, nghe cái cốc trên đầu.

Em hát lạ lùng, giữa một đám đông,

Đứng vẫy tay chào các anh trở lại,

Trong lòng ta, từ nay sống mãi,

Tình quê hương, lòng đồng bào miền Nam,

Trong nỗi đau, quân cướp Đỏ bạo tàn.

.

Này cái vẫy tay vụng trộm đón chào,

Này con mắt nhìn dấu yêu thầm lặng,

Này nụ cười, trao gởi niềm tin,

Đã hiểu rồi, ta nhất định thắng.

.

Chúng không giết được chúng ta sau ngày 30 tháng 4,

Chúng không giết được chúng ta

trong BÓNG TỐI, ĐÓI RÉT và SỰ LÃNG QUÊN,

Nơi núi rừng âm u Việt Bắc,

Ta đã ra ánh sáng, ta đã về đất sống,

Nhất định chúng ta phải thắng,

Nhất định chúng ta phải thắng.

.

Nhất định chúng ta phải thắng.

Thép đã tôi, lưỡi gươm này phải sắc,

Phải rắn, phải chắc, phải bền lòng, dũng cảm,

Đường gươm đi phải đẹp,

Phải làm lại từ đầu, với cái giá đã mua,

Phải làm lại, từ đầu, đừng để lòng già nua,

Tóc dẫu bạc, nhưng lòng thanh niên trẻ lại,

Trên bước chân đi, trong tim đời thoải mái,

Ta hiên ngang, chững chạc, đàng hoàng,

Ta đã về, khi quân cướp hoang mang,

Ta đã về, với niềm tin tất thắng.

Về quê hương, vào những ngày cuối năm,

Dẫu trong tay xích xiềng còn trói chặt,

Nhưng trong lòng ta, bao nỗi hân hoan,

Khi thấy dấu bạo tàn sắp tắt.

(Trại tù Gia Rai, Z30A/1981 )

TTĐ.

PHỤ  LỤC:

NHỮNG TÁC GIẢ, TÁC PHẨM HẢI NGOẠI, TÔI BIẾT:

+ Những tác giả và tác phẩm:

Võ Đại Tôn (Tắm máu Đen), Hà Thúc Sinh (Đại Học Máu), Trần Hoài Thư (Ra Biển Gọi Thầm, Ban Mê Thuột, Ngày đầu Ngày cuối), Trần Doãn Nho (Căn Phòng Thao Thức), Thái Tú Hạp (Hạt Bụi Nào Bay qua), Nghiêu Minh (Dấu Xưa), Trần Trung Đạo (Thao Thức,  Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười), Hà Kỳ Nam (Vùng Đá Ngầm, núi vẫn xanh), Trần Quán Niệm (Nụ Chồi Non), Kinh Dương Vương (Mặt Nạ Cười), Hồ Minh Dũng (Hoa Vạn Hạt, Câu Nam Ai Thất Lạc), Quan Dương (Ruột Đau Chín Khúc), Trần Ngân Tiêu (Thơ Đắng), Trương Sỹ Lương (Một Đời Dang Dở), Hà Huyền Chi (Thơ Kẽm Gai, Một Túi Bình Sinh, Một Túi Thơ), Viên Linh (Thủy Mộ Quan), Phan Hội Yên (Hạ sĩ Khinh Binh), Cung Trầm Tưởng (Lời Viết Hai Tay), Nguyễn Bá Dĩnh (Mùa Đông Quạnh Vắng), Thủy Trang (Thơ Thủy Trang), Nguyễn Xuân Thiệp (Thơ Tôi Cùng Với Gió Mùa), Song Nhị với Tiếng Hờn Chiến Mã (tập thơ tù, 1996, tái bản 2002), Tiếng Hót Loài Chim Di (thơ 2004). Về Lối Đi Xưa (thơ 1999). Nửa Thế Kỷ Việt Nam/ Bút ký Tự truyện (ấn hành tháng 1/2010, tái bản 8/2010), Lưu Dân thì Thoại, Viết chung Diên Nghị 2003), Lời Rao Giảng của Thơ 2014) – Thanh Thương Hoàng với 5 tập truyện: Người Mỹ Cô Đơn, Tiến Sĩ Lê Mai, Những Nỗi Đau Đời, Ông Tướng Tỵ Nạn – Vi Khuê (Giọt Lệ *thơ 1971, Cát Vàng *thơ 1985, Tặng Phẩm Tình Yêu *thơ 1991, Hoa Bướm Vườn Thơ Tôi *thơ 1994, Ngựa Hồng Trên Đồi Cỏ *truyện 1986, Những Ngày Ở Virginia *truyện 1991, Vẫn Chờ Xe Thổ Mộ *truyện 1993, Thơ Trong Mưa Và Hoa/ (tập thơ song ngữ Việt-Anh) 2001. Diên Nghị (Cõi thơ tìm gặp 2005), Lưu Dân Thi Thoại. Duy Năng/ Giữa Dòng Nghịch Lũ (truyện 1991), Dặm Nghìn (thơ 1998), -Huệ Thu với Thơ Huệ Thu 1987, Sương Chiều Thu Đọng 1991, Mở Ngõ Phù Vân 1995, Lục Bát Huệ Thu 1997, Đầu Non Mây Trắng 1998, Tứ Tuyệt Huệ Thu 1998. Tuệ Nga với trên 10 thi phẩm: Suối Trầm Tư (1982),  Mây Hương (Thơ Đạo 1987), Chiều Phố Mây (1991), Hoa Sương (1994), Hoa Đài Dâng Hương (Thơ Đạo 1995), Nửa Viền Trăng (1997), Lan Hoa Thi Tập (Tuệ Nga Phương Hồ 1998),  Suối Hoa (1999), Từ Giòng Sông Trăng (2005), Về Bên Suối Tịnh (2007), Dòng Cổ Nguyệt (2014) – Cao Mỵ Nhân với các thi phẩm : Sau Cuộc Chiến 2003, Đưa Người Tình Đi Tu 2001, Thơ Mỵ, Aùo Màu Xanh Lãng Đãng Vào Thu 2001, Chốn Bụi Hồng (Văn 1994), Quán Thơ Tháng Ngày Còn Lại 2009.

Phan Thị Ngôn Ngữ với 5 thi phẩm: Vọng Khúc    2003, Tạ Tình Khúc 2005, Dùng Dằng 2010, Lỗi Một Vần Gieo 2010. – Phong Thu với tập truyện song ngữ Việt Anh Sài Gón Mưa Vẫn Rơi – The Rain Still Falls In Sai Gon, do nhà xb XLibris Corporation ấn hành. “Gấu Bông Giúp Bạn”, (1990). Cô Bé Bên Giàn Hoa Giấy Đỏ, Truyện ngắn 2003, Đóa Phù Dung, truyện 2005. – Ấu Tím với Một Quãng Xuân Thì *tập truyện, Vinasoft 2007 và trên 5 Tuyển Tập với nhiều tác giả nữ khác.  – Võ Ý với Lý Lịch Dọc Ngang của Thảo 2003, Tìm về Tổ ấm 2013,  Cao Nguyên (Thao Thức 2014) – và các nhà văn Đỗ Tiến Đức, Tràm Cà Mau, Ngô Viết Trọng, mỗi tác giả trên dưới 10 tập truyện.

Lê mai Lĩnh gồm: 

Thơ Lê Mai Lĩnh / A Lasting Mirage/B.40 / Hậu B.40/ Đứng Ngồi Không Yên/ Vườn Thơ Hải Ngoại/ Lưu Dân Thi Thoại/ Một Phần Tư Thế Kỷ Thi Ca Việt Nam hãi ngoại/ Những Đứa Con Hoang/ Chân Dung Lê Mai Lĩnh/ Trăng Trên Dòng Thạch Hãn/ Tuyền tập Lê Mai Lĩnh/ Thơ Tình Thế Kỷ/ Lương Quyên, cô láng giềng/ Tuyển tập Văn Miền Nam Thời Chiến/Tuyển tập thơ thời chiến miền Nam/ Chân Dung Người Lính – Thi Sĩ Miền Nam/ Cuộc Phẩu Thuật văn chương/ Thơ những người thua cuộc/ Nguyễn thị Sầm, Những dấu chân dọc đường kháng chiến/

Thơ tình Lê mai Lĩnh/ Hãy cho tổ quốc mượn đôi chân của bạn/ Văn duy Tùng, Trong Sân Giáo Đường/

Hàn Hương Giang, Thanh Xuân là Em/ Nguyễn Phan Ngọc An,

Tiếng Thơ Là Những Đừơng Tơ 

Của Lòng, Rừng Thu Xưa Vẫn Nhớ, Từ Miền Biển Sóng, Ngàn Năm Mây Trắng, Ru Thầm Tiếng Gọi Việt Nam, Lửa Màu Xanh, Những Đóa Hoa Tim, nhiều CD thơ phổ nhạc, 

Nguyễn minh Thúy: Thơ, Nếu Đời Không Có Thơ/ Bốn Mùa Thơ Gọi/ Suối Thơ/ Văn, Bước Thời Gian/ Tìm Bóng/ Nhặt Giọt Nắng Tan.

Hồng Thuỷ, Những Cánh Hoa Dại Màu Vàng/ Hoa Tương Tư/

Ý Nhi-Nguyễn thị Dung: Góp Nhặt Hương Đời.

+ Những tác giả:

Phạm Hồng Ân, Phương Tấn, Phạm thị Bình, Phan nữ Lan, BỘI HẰNG, HOÀNG QUỲNH HOA, LÊ THỊ Ý, LÊ THỊ NHỊ, THÁI AN, DIỆM TRÂN,

NGUYỄN TÚ, HOÀNG PHƯỢNG, CHÚC ANH, XUÂN TIÊN,

PHƯƠNG HOA, KIM LOAN, MINH NGUYÊN, DƯƠNG VIỆT CHỈNH, HƯƠNG PHỐ, VI VÂN,

TƯỞNG DUNG, TƯỜNG NHUNG, KIM OANH, THANH SONG KIM PHÚ, NGỌC HẠNH, PHAN LANG, LÃM THUÝ, SAO KHUÊ, MINH THUÝ, THÁI LAN, CAO MỴ NHÂN,TIỂU THU, THÚY MESSEGEE, NGUYỄN PHAN NGỌC AN, DIỆM TRÂN, LÊ MỸ HOÀN, THƯ KHANH, TƯỜNG THÚY, TRỊNH BÌNH AN, CUNG THỊ LAN, LÊ DIỄM, NGUYỄN THỊ THÊM, LÊ TỐNG MỘNG HOA, NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG, HOÀNG BẠCH MAI,

Ý NHI, ĐỖ DUNG, HOÀNG QUÂN NGỌC THUÝ,NGUYỄN HỮU MỸ NGA,

HỒNG THUỶ, Phạm tín An Ninh, Hạ quốc Huy, Vương trùng Dương, Trần trung Đạo, Phạm ngũ Yên, Trương Vấn, Yên Sơn, Thanh Đặng, Thông Đặng, Hàn hương Giang, Nguyễn Nguyệt, Lê hữu Minh Toán, Ben Oh, Nguyễn Hàn Chung, Đặng Toản, Lâm Chương, Dư Mỹ, Trần doãn Nho, Lương thư Trung, Thái Tú Hạp, Luân Hoán, Phan ni Tấn, Đêm Mơ, Nguyễn Vy Khanh, Song Thao, Trần mộng Lâm, Nguyễn bá Dĩnh, Thuỷ Trang, Đức Phổ, Hoàng Lộc, Trần yên Hoà, Trần ngân Tiêu, Phan sỹ Trung, Vương lệ Hằng, Hùng Vĩnh Phước, Lê đình Bì, Lê đình Cai, Hạ Thái, Đào Khoa, Lê Xuân Nhuận, Lê Mai, Nguyễn hữu Liêm, Ngô Đức Diễm, Song Nhị, Diên Nghị, Trần Ngọc Phong, Phùng văn Nguyên, Nguyễn tiến Việt, Phan Khâm, Trương anh Thụy, Nguyễn Ngọc Dung, Phong Thu, Cao Nguyên, Vĩnh Tuấn, Phạm tương Như, Đặng minh Hùng, Tuý Hà, Nguyễn lương Tuyền, Trương sỹ Lương, Tuệ Chương Hoàng long Hãi, Cung minh Huân, Phạm Mỹ Nhung, Đào đông Khê, Mây Ngàn, Lê thị Hoài Niệm, Song Thy, Thiên Lý, Út Bạch Lan, Cao trúc Giang, Nguyễn lập Đông, Đào Lê, Nguyễn Đức Nhơn, Phạm Đức Nhị, Đỗ văn Phúc, Minh Giang, Lê văn Trạch, Lý thơ Hiểu, Lý thy Dân, Vũ mộng Tuyền, Hoàng gia Độ, Lê Nhung, Tao Hoàng, Thục Uyên, Hằng Ngô, Ngô minh Hằng, Hạ thi Nhân, Nguyễn Ngọc, Xuân thiên Vỵ, Uyên Thao, Nhất Hùng, Nguyễn Lân, Nguyễn Xuân Thiệp, Hoàng định Nam, Phạm văn Nhàn, Vĩnh Điện, Quan Dương,  Văn duy Tùng, Hàn Hương Giang, Nguyễn Phan Ngọc An, Trát Nguyễn, Phạm cao Hoàng, Ý Nhi-Nguyễn thị Dung, Hà hỉnh Trung, Nguyễn minh Nữu, Nguyễn đức Nam, Đăng Nguyên, 

Hoa Kỳ.

4/01/2025.

Lê Mai Lĩnh.

Bài Mới Nhất
Search