Chân nguyên trang
Năm 1997, tôi nghỉ hưu trí, về Tân Hòa tỉnh Bình Phước, sống thanh thản những năm tháng còn lại
Vào năm 1995, tôi mua được hơn một mẫu đất, một miếng bốn ngàn mét vuông nằm ngay cạnh bờ Suối Giai, Một miếng sáu ngàn mét vuông đang trồng điều, nằm ngay cạnh chùa. Đất lúc này rẻ lắm. Cô Huệ Quân ở Canada về Việt Nam làm từ thiện, cho tôi hai trăm mỹ kim mua miếng đất đó để mở lớp học Tình Thương. Sau này sư cô Chân Không cho tôi một ngàn usd, tôi làm được căn nhà xinh xắn nằm trên lưng đồi, nhìn ra dòng suối rộng mênh mông, nước trong vắt, sóng xô từng chập vào bờ, gợn bọt tung trắng xóa, đẹp như mặt biển Long Hải.
Tôi đặt nơi ở mới này là Chân Nguyên Trang, rồi trồng hai cây ngọc Lan trên bậc tam cấp bước lên căn nhà, mùi hương thơm tỏa khắp khung trời, tạo nên một không gian ngọt ngào, thanh tịnh.
Các em sinh viên Gia Đình Hiểu và Thương về thăm Chân Nguyên, đến cửa hàng bán cây giống, mỗi em mua một cây về trồng, ghi tên vào thân cây, để sau này nơi đây sẽ trở thành trang trại của Gia Đình, thỉnh thoảng các em về nghỉ ngơi, sinh hoạt. Với niềm mơ ước đơn giản đó, tôi nhận nơi đây làm quê hương thứ hai của tôi. Tôi xây dựng cơ ngơi như làm chuồng gà thật to để có trứng ăn, tôi trồng rau, trồng bắp, trồng đậu xanh, đậu đen, đậu phộng mỗi thứ một ít để có thực phẩm hàng ngày. Nhưng tôi đã thất bại, gà thì bị chó hàng xóm sang ăn thịt, các mẻ đậu phơi ở sân thì bị đàn gà mổ tứ tung.
Nhật Thường
Cơm chao ngày hai bát
hương vị thật thơm ngon
Cuốc đất ngày hai buổi
trồng được vài cây con
*Sáng sớm lo tưới nước.
Chiều chiều ngắm lộc non
Trăng non treo nửa mảnh
Êm đềm giấc mộng con
Chân Nguyên Trang-23-10-1997
Xin đừng ăn
Này lũ gà kia chớ có ăn
Đậu ta phơi nắng ở ngoài sân
Mồ hôi thấm giọt hai sào đất
Có nắm đậu kia khá nhọc nhằn
Chân Nguyên Trang-23-10-1997
Mất Gà
Gà ơi sao nỡ đi
Ta đã đi tìm Mi
Hết tối rồi đến sáng
Nào có tin tức chi
*Người ta bắt Mi rồi
Thân nóng bỏng nước sôi
Thịt băm vài chục miếng
Gừng kho thơm phức nồi
*Tội cho Gà vô minh
Ta thương Mi vô tình
lao đi tìm cái chết,
lặn trong vòng tử sinh
Chân Nguyên Trang-30-7-1997
109 * Gà đẻ
Cục tác chị gà tim ổ đẻ
Cục te anh trống cuống cuồng kêu
Cỏ tranh ta kết mi nằm đỡ
Nhớ đẻ trứng vàng nhé gà yêu.
Chân Nguyên Trang 13-10-1997
Hiểu Thương
Nhà thêm hai chó bé tí ti
Mai cười: Cô đặt nó tên chi ?
Phúc bồng con trắng: Hoài Thương nhé
Hoài bế con vàng: Phúc Hiểu ni !
*Hiểu Thương sớm tối quấn bên nhau
Bắt ghẻ, ăn chung, ngủ gối đầu
Rỡn nắng, đùa trăng, nằm hóng gió
Tuổi thơ trong vắt hạt sương ngâu !
Chân Nguyên Trang-01-11-1997
Chân Nguyên Trang
Phía sau trời nửa mảnh
Bao bọc dãy đồi cao
Hàng cây nghiêng đón gió
Thấp thoáng ánh trăng vào.
*Trước nhà mây lồng lộng
Trời xanh thẳm đáy hồ
Nước trôi về bốn hướng
Lơ lửng chiếc thuyền mơ
Trăng vằng vặc hiên nhà
Lâng lâng ngồi ngắm hoa
Xôn xao vàng ánh nước
Thơ thẩn một mình ta
Đời là mơ là thực
Cảnh là thực là mơ
Sớm chiều vui cuốc đất
Tối nằm ngủ ngon ơ !
Tân Hòa-1997
Đây là vùng Kinh Tế Mới, đa số người dân từ miền Bắc như Thái Bình, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh …về đây sinh sống, cuộc sống của họ còn nghèo, dân tình vẫn còn thô tháo. Tôi chấp nhận cuộc sống nơi đây, sống vui vẻ với hàng xóm, nhất là đám trẻ con. Các cháu chưa được dạy dỗ kỹ, vẫn còn đánh nhau, chửi thề, ăn cắp vặt. Chúng kéo nhau đến vườn điều của tôi sáng sớm, trèo lên cây, lắc cành cho rụng rồi thi nhau lượm bỏ túi quần, túi áo. Tôi bắt gặp bọn chúng, nhẹ nhàng vẫy tay gọi chúng lại, rồi dịu dàng hỏi : Các cháu nhặt điều của cô về bán lấy tiền để mua bánh, kẹo phải không ? Các cháu muốn ăn bánh kẹo thì chiều chủ nhật đến nhà cô ở mé suối đằng kia, cô có nhiều bánh kẹo lắm. Cô sẽ dạy các cháu hát, cùng vui chơi với nhau, ăn bánh kẹo thoải mái. Cháu nào thiếu sách vở, cô sẽ cho. Đừng đi lấy trộm những gì không thuộc của mình, chủ vườn bắt được, họ sẽ đánh các cháu đó. Tất cả bọn chúng đều cúi đầu xin lỗi, lấy điều trả hết cho tôi.
Từ đó, mỗi chiều chủ nhật đám trẻ con rủ nhau đến nhà tôi chơi. Tôi dẫn chúng ra cái giếng nước gần bờ Suối mà anh Tuấn đào, có làm nắp đậy cẩn thận. Trẻ con hàng xóm rủ nhau đến dăm bảy đứa, chúng chơi chán rồi quay ra đánh lộn chửi thề. Tôi gọi từng đứa lại, ra nội quy, bạn nào chửi thề, ăn cắp vặt thì bị khai trừ khỏi nhóm.
Mấy đứa trẻ vui chơi rất ngoan, tôi thỉnh thoảng nấu chè hoặc làm bánh, chúng nó có củ khoai hay cái bắp nướng cũng mang đến chung vui. Chúng tôi sinh hoạt vui chơi như một gia đình nhỏ, chan hòa niềm yêu thương và hạnh phúc
Tôi giúp một số cháu học khá, con nhà nghèo những phần học bổng, và một số trẻ tàn tật do chất độc màu da cam và các cụ già neo đơn mỗi năm một triệu đồng. Tôi sống thân thiện với bà con lối xóm và hay sang Chùa Suối Giai sinh hoạt theo khóa lễ cùng các bà Phật Tử, nên mọi người quý mến và coi tôi như người thân xóm làng.
ƯỚC MƠ XƯA ĐÃ ĐẾN.
Sang đầu năm 1998, tôi nhận được giấy bảo lãnh của Làng Mai, mời sang Pháp Tu học. Tôi cảm động về tình thương yêu của Thầy và sư cô Chân Không dành cho tôi bền vững. Trải qua mấy chục năm xa vắng, Thầy vẫn không quên lời hứa sẽ đón tôi về tu học với Tăng Thân. Tôi đem chuyện vui này nói với Thầy Minh Tánh, Trụ Trì chùa Thiên Đức, Quận Sáu. Thầy cho tôi tiền mua bộ Y Vàng ba chiếc và mấy bộ quần áo nâu để tôi sang bên đó sớm thích nghi với đời sống một sư cô.
Ngày tiễn tôi ra phi trường có đủ mặt Gia đình, chị em tôi, các em huynh trưởng gia đình Hiểu và Thương, Phật Tử Tân Hòa, Thầy Minh Tánh, Thầy Vân Phương bối…
Tôi từ giã Việt Nam, tâm tràn đầy xúc động. Quê hương ơi, tôi sang Pháp để tu học, để gặp Thầy Nhất Hạnh, vị Thầy tôn kính đã dạy tôi sống một cuộc đời đạo hạnh, tâm hướng về Chân-Thiện -Mỹ. Tôi sẽ trở về đất nước Việt Nam thân yêu, để tiếp tục tiếp sức với các em học sinh, sinh viên còn gặp hoàn cảnh khó khăn trong chương trình học bổng, những cụ già cô đơn trong chương trình trợ giúp khó khăn.
CHUYẾN BAY MÀU NHIỆM.
Máy bay của tôi đáp xuống phi trường Charles de Gaulle Airport. Tôi ra khỏi máy bay và đi theo đám người xa lạ trong phi trường rộng mênh mông, cố gắng kiếm đường và đi theo dấu mũi tên chỉ dẫn đến phi trường Bordeaux. Lần đầu tiên tôi thấy cầu thang cuốn nên lúng túng, bị té và lăn xuống đất, chưa hoàn hồn. Vì thế tôi đi chậm chạp, khi tìm đường đến phi trường Bordeaux thì máy bay cất cánh rồi. Tôi bơ vơ giữa phi trường, vé máy bay đã hết giá trị. Tôi phải mua vé khác, mà tôi đâu có tiền. Tôi sợ hãi, bối rối trước tình huống lạc lõng ấy, tôi chỉ còn biết cầu nguyện đức Quán Âm, xin Ngài giúp con. Chung quanh tôi toàn người Pháp, họ không biết nói tiếng Anh.
Tôi gần như vô vọng thì có một thanh niên người Anh, dáng cao , nét mặt thanh tú , đến hỏi chuyện tôi có cần anh ta giúp gì không? Tôi mừng quá, kể cho anh nghe tình cảnh hiện tại của tôi, nhờ anh ta liên hệ giúp vé máy bay. Anh ta bảo tôi đưa passport, vé máy bay cũ và tiền để anh ta mua hộ vé máy bay đến Bordeaux. Tôi rơm rớm nước mắt, lắc đầu nói khẽ: I have no money.
Anh ta bảo tôi đứng yên đây đợi, anh sẽ đi liên hệ giùm xem có xin được chiếc vé hay không,
Tôi đứng lạc lõng giữa phi trường đông người ngoại quốc, đợi anh. Tôi đợi mãi đợi hoài mà không thấy bóng dáng anh. Tôi phát hoảng, gần như muốn khóc. Nếu anh không đến, tôi sẽ làm sao đây giữa đất nước xa lạ này.
Trong cơn gần như tuyệt vọng, tôi gọi Thầy: Thầy ơi, cứu con!
Một lúc sau, Anh xuất hiện, bước vội vã đến bên tôi. Anh kéo tôi đến quầy bán vé, nói chuyện với một thanh niên người Việt Nam về hoàn cảnh của tôi, xin quầy vé giúp đỡ để tôi có thể về Bordeaux ngay chiều hôm nay. Chàng thanh niên Việt Nam nhìn tôi vẻ ái ngại, rồi mua một vé máy bay trao cho tôi. Tôi xúc động ôm chặt chàng thanh niên người Anh, nói nghẹn ngào:
Oh, my God !!! Ngàn lời cảm ơn bây giờ cũng không thể diễn tả nỗi vui sướng và lòng biết ơn của tôi đối với hai người đàn ông xa lạ nhưng lại có tấm lòng bồ tát này.
Anh dẫn tôi đến cửa chờ đi Bordeaux, tìm một người đàn ông Việt Nam giúp đỡ tôi đến phi trường Bordeaux. Bước chân lên máy bay, tôi thấy lòng nhẹ nhõm, thầm cảm ơn những người đã giúp đỡ tôi đến bến bờ bình an để gặp Thầy, gặp Chị thương yêu.
Người ra phi trường Bordeaux đón tôi là vợ chồng anh Sơn, Phật tử Làng Mai. Tới làng, trời đã ngả tối. Sư cô Chân Không mừng rỡ đón tôi rồi đưa tôi vào phòng ăn. Có rất nhiều người ngoại quốc đang ngồi ăn trong im lặng. Tôi hơi ngạc nhiên nhìn bữa ăn, mỗi người một phần với đĩa cơm chay, không hề có một tiếng động. Sư cô chỉ tôi ra dãy bàn phía cuối, lấy phần cơm của mình. Tôi mới từ Việt Nam qua, hãy còn lạ lẫm, bỡ ngỡ, thân thể vẫn còn rét run. Tôi ngồi trước đĩa cơm, mà không thể ăn được. Sau tiếng kẻng, báo giờ bữa ăn kết thúc. Mọi người bắt đầu nói chuyện, lần lượt đứng lên, mang đĩa bát dơ của mình ra dãy bàn có những chậu nước nóng, tự mình rửa cho sạch rồi xếp lên kệ bát đĩa gần đó.
Bữa ăn chiều kết thúc, mọi người mau chóng trở về phòng riêng. Một mình tôi đứng thẫn thờ ngoài sân, khoảng nửa tiếng sau thì Sư Cô, với nụ cười hiền dịu, dẫn tôi vào một cái phòng nhỏ trong nhà kho, cô nói: Tối nay em ngủ đỡ ở đây. Bây giờ chị bận lắm, phải lên hướng dẫn cả ngàn thiền sinh nội quy tu tập. Ngày mai, chị sẽ dẫn em lên gặp Thầy. Rồi chị đưa cho tôi chiếc áo len dày.
Tôi ngồi lặng lẽ trong cái nhà kho rộng chừng tám mét vuông, chứa những đồ vật lỉnh kỉnh, chung quanh vắng lặng, không một bóng người. Khoảng chín giờ tối, một hồi kẻng vang trong sân, có lẽ báo giờ đi nghỉ. Trời về khuya lạnh buốt xương, tôi nằm chui gọn trong tấm mền, từ từ vào giấc ngủ.
Khoảng 5 giờ sáng, một hồi chuông vang lên báo cho mọi người giờ công phu sáng. Tôi thức dậy, mặc chiếc áo dài màu lam, đi theo các sư cô đến thiền đường. Thiền đường rộng mênh mông mà đại chúng ngồi chật kín cả hội trường. Sau giờ công phu, tất cả mọi người lặng lẽ từng bước chân đi thiền hành theo Thầy.
Sau giờ ăn sáng, các Phật Tử Việt Nam tụ họp trong gian phòng dành cho người Việt, nghe Thầy nói pháp thoại. Thầy đang nói về Hạnh Phúc Gia Đình, về Tình Yêu và Tôn Giáo. Sư cô Chân Không dẫn tôi vào hội trường kéo tôi ngồi cạnh sư cô. Từ chiều hôm qua, bây giờ tôi mới nhìn thấy Thầy sau hơn ba mươi năm xa cách. Về hình dáng, Thầy đã thay đổi nhiều, cũng như tôi, hồi đó tôi là một thiếu nữ mộng mơ, bây giờ tôi trở thành một bà già nét mặt in rõ những nét trăn trở, suy tư đượm nét buồn đau. Tôi chắp tay chào. Thầy nhìn tôi rồi nói với thính chúng:
Những năm còn ở Việt Nam, Thầy có một cô Phật Tử, Cô này có người yêu là đạo Chúa. Hai người rất yêu thương nhau, nhưng khi kết hôn thì anh chàng kia yêu cầu cô phải bỏ đạo Phật. Cô đau khổ lắm đến hỏi ý kiến Thầy, cô khóc, nói rằng anh chàng kia rất yêu thương cô, nhà anh khá giả, anh là giáo sư dạy triết học, anh hứa sẽ chăm lo, mang hạnh phúc cho cô suốt cuộc đời. Thầy hỏi cô ấy:
Thế con có biết chắc sẽ rất hạnh phúc sau khi làm đám cưới với anh không ?
– Dạ thưa Thầy, con nghĩ sẽ rất hạnh phúc vì anh ấy rất thương yêu con.
Thầy trả lời với cô ấy:
Vậy con cứ về với anh ta đi!
Cô ấy cười rạng rỡ, cúi đầu. Nhưng chỉ vài phút sau, cô ấy ngẩng nhìn Thầy, mắt ướt lệ, khẽ nói:
Không, con không về với anh ta đâu. Con không thể bỏ Đức Phật, bỏ mẹ con, bỏ Thầy mà đi. Con không thể nào sống hạnh phúc khi mỗi chiều con phải ngồi bên cạnh mẹ anh, cầu nguyện Chúa, Mẹ Maria, khi con chưa có niềm tin vào các vị đó. Chiều nay, con sẽ viết lá thư đoạn tuyệt với anh ấy.
Thế rồi, sau này cô đến Ban Tu Thư trường Cao Đẳng Phật học làm việc, quanh năm mặc chiếc áo dài màu tím. Cô ấy hiện giờ đang có mặt ở đây.
Mọi người đều quay đầu tìm kiếm. Sư cô Chân Không chỉ ngón tay, về phía tôi.
Tan giờ Pháp Thoại, mọi người vây quanh tôi, hỏi đủ thứ chuyện. Có một người đàn bà hỏi tôi: Tại sao ở Việt Nam có nhiều chùa nổi tiếng, có nhiều vị Thầy đạo hạnh cô không đến xin tu, mà cô phải tới nước Pháp xa xôi này, bỏ bảy đứa con nhỏ thiếu vắng tình mẹ, cô có thấy mình tàn nhẫn không ?
Tôi điềm tĩnh trả lời: Đã đến lúc buông bỏ thì cần phải dứt khoát, vậy thôi!
Chiều hôm đó, sư cô Chân Không dẫn tôi đến gặp Thầy, Thầy nằm thảnh thơi trên chiếc võng, cạnh thầy là một sư chú thị giả. Tôi quỳ xuống bên Thầy, chắp tay nói vừa đủ để Thầy nghe:
Thưa thầy, những ngày ở Việt Nam, con sống rất đau khổ, nếu không có hình ảnh của Đức Phật và Thầy luôn hiện diện để nâng đỡ tinh thần con, con đã chết, hoặc điên loạn rồi. Chiều chiều, con đứng bên hành lang chung cư Ấn Quang, nhìn mây tím bay về cuối trời, thầm nói: thầy ơi, con nguyện trung thành, hướng về đức Phật, đi theo bước chân thầy suốt cả cuộc đời, đến chết không thôi.
Thầy nhìn tôi, vẻ thương xót, nhẹ nói: Thầy cũng hơn gì con đâu. Nàng Kiều của cụ Nguyễn Du đã đau khổ lắm rồi, nhưng Thầy còn đau khổ hơn gấp nhiều lần đó con.
Giây phút ngồi bên Thầy tôi được lan tỏa hạnh phúc bình an. Từ nay, tôi được Thầy thế phát cho tôi xuất gia, được làm tròn lời hứa với đức Phật, với mẹ tôi. Tôi đã dứt khoát với quá khứ, phải thực tập theo nếp sống thiền môn. Một người lớn tuổi, trải qua bao truân chuyên của cuộc sống, tôi biết sẽ thật khó khăn.
Suốt 4 tháng thực tập gạt bỏ cái ngã của mình,tôi đã trải qua những thử thách, nhẫn nhịn, thực tập dưới sự hướng dẫn nghiêm túc của các sư cô, và những lời góp ý thẳng thắn của các em trẻ tuổi. Tôi rất quyết tâm, không từ bỏ thời khóa công phu, giờ lao động, hay công việc do các vị sư cô giao cho, Sau bốn tháng thực tập, hội đồng ni chúng bỏ phiếu chấp thuận cho tôi xuất gia, riêng có một sư cô không đồng ý. Cô ấy nói rằng: Tôi 58 tuổi, cái tuổi đã già, không đúng nội quy của Tăng Thân. Hơn nữa tôi lại được Thầy và sư cô Chân Không quý mến, được tu rồi, sẽ chẳng coi ai ra gì. Nhưng rất may cho tôi, lá phiếu của Thầy được nhân đôi. Thế là tôi được chấp thuận xuất gia vào ngày 26-10-1998.
Cùng xuất gia với tôi gồm có 8 người, gồm 4 người nữ. Tôi là người lớn tuổi nhất, còn ba cô bé. Một là người Anh gốc Việt, người thứ hai người Úc gốc Việt, người thứ ba là người Pháp. Cả ba cô bé đều ngây thơ xinh đẹp. Bốn người nam có một người Do Thái, một người Mỹ, một người Pháp, còn người thứ tư là người Anh. Cả bốn người đều là thanh niên, vóc dáng khỏe mạnh, nét mặt khôi ngô thanh tú. Thầy đặt tên cho nhóm chúng tôi là Gia Đình Cây Sung. Có một vài sư cô nói đùa, cây sung sẽ mau rụng.
Ngày xuất gia, Tăng Thân tổ chức rất là trang trọng. Quý Thầy cô tất cả đều đắp y màu vàng, ngồi thành hai phía Tăng Ni và cư sĩ nam nữ. Phía trên là vài một hòa thượng và một sư bà được thỉnh mời từ Việt Nam qua. Sau khi thực hiện các nghi thức làm lễ xuất gia, hỏi các giới tử những điều trong giới luật xuất gia, tất cả đều viên mãn. Một thị giả bưng một cái khay và một cái kéo đi theo Thầy, lần lượt đến từng giới tử Thầy đọc mấy câu kinh xong rồi cắt một lọn tóc cho họ.
Đến lần tôi là sau chót, bởi tôi lớn tuổi đứng hàng cuối cùng. Lúc Thầy đưa cái kéo cắt từng lọn tóc dài của tôi, tôi bật khóc nức nở, như tiếng khóc của em bé mới chào đời. Hòa theo tiếng khóc ấy là những giọt mưa thu đang rơi tí tách trên sân gạch đỏ, trên cây sồi già đứng góc sân.
Người cắt tóc cuối cho tôi là sư cô Chân Tường Nghiêm, người Pháp. Sư cô dịu dàng, rất thương tôi. Sau khi trút bỏ mái tóc dài óng ả, mặc chiếc áo người tu, tôi thật sự là một sư cô, là baby Nun, là con chính thức của đức Thế Tôn, của Thầy.
Ngày 26-10-là ngày sinh nhật thứ hai của tôi, ngày tôi ra đời trong hình thái một người hoàn toàn mới. Tôi đã trút bỏ dĩ vãng, đã sống hòa nhập với Tăng Thân trong giây phút hiện tại. Tôi đã hóa thân thành một sư cô bé nhỏ, mới tu. Tôi phải vâng lời tất cả mọi người trong Tăng Thân, dù chỉ là một sư cô xuất gia trước tôi hai tháng.
GIẤC MƠ CỐ HƯƠNG
Năm 2002, tôi rất nhớ quê nhà, nên xin phép thầy Nhất Hạnh trở về Việt Nam, một phần cũng vì để Công An Thành Phố không xóa hộ khẩu của tôi. Tôi cũng xin thầy cho phép tôi gặp các vị trụ trì có uy tín, xin quý vị viết thư mời thầy về Việt Nam với tính cách cá nhân, tình đồng đạo. Tôi chưa biết việc tôi làm có thành công không, nhưng ít ra tôi cũng hiểu được tình huynh đệ các thầy dành cho thầy Nhất Hạnh.
Khi đặt chân lên mảnh đất quê hương, tôi đến thăm quí vị Hòa thượng, Thượng tọa có chức vụ trong giáo hội, trình bày về sự đoàn kết của Phật giáo để giữ gìn sự hưng vong truyền thống tinh hoa Phật giáo dân tộc. Thầy Nhất Hạnh là vị thiền sư rất sáng giá ở hải ngoại. Thầy rất nhớ quê hương, nên tôi xin các thầy viết thư mời thầy Nhất Hạnh đến thăm Việt Nam để cùng quý ngài phát triển pháp môn thiền Chánh Niệm, tổ chức những khóa tu cho tăng ni trẻ và sinh viên học sinh, chấn hưng đạo đức.
Trước tiên, tôi đến chùa Từ Đức Cam Ranh. Nơi đây tôi đã cấp học bổng cho các em sinh viên học sinh nghèo hiếu học, các cụ già cô đơn, trẻ em khuyết tật trong bốn năm khi tôi còn là cô giáo. Tôi gặp thầy Giác Viên trụ trì nhưng thầy từ chối không viết thư.
Tôi đến chùa Hải Đức ở Thành Phố Nha Trang, gặp Hòa thượng Viên Giác, Trụ trì chùa Hải Đức. Tôi chưa từng gặp Hòa thượng, nhưng ấn tượng về ngài đã cho tôi một niềm tôn kính. Tôi thưa với ngài mục đích của tôi đến thăm ngài là chuyển lời kính thăm và chúc sức khỏe của thầy Nhất Hạnh tới ngài.
Ôn lắng nghe tôi nói, rồi Ôn khóc. Ngài lau nước mắt, chậm rãi nói.
– Tôi rất thương nhớ sư đệ Nhất Hạnh – thầy ấy là đàn em của tôi. Thầy đã thật xứng đáng là một Tăng tài Việt Nam, làm rạng danh Phật giáo Việt Nam trên khắp năm châu thế giới. Tôi bây giờ mang danh Trụ trì, nhưng chỉ là bù nhìn, sư cô hãy gặp thầy Quảng Bình, thầy ấy đang là Chánh Đại Diện Phật Giáo Tỉnh Khánh Hòa, có ảnh hưởng lớn với chính quyền.
Tôi đến chùa thăm Hòa thượng Quảng Bình, nhưng Hòa thượng đi vắng. Đệ tử của thầy chỉ tôi sang gặp Hòa thượng Đổng Minh. Sau khi nghe tôi trình bày, thầy mỉm cười nói:
– Tôi nghe tin có một sư cô người Bắc, thuộc bộ nội vụ, đi gặp các Hòa thượng, yêu cầu viết thư mời thầy Nhất Hạnh về thăm quê hương. Cô này lớn tuổi, dáng hiền lành, ngọt ngào mà khéo lắm, mục đích là gài bẫy chúng tôi.
– Bây giờ gặp cô, nghe cô nói, tôi thấy cô rất chân thật. Việc cô nhờ chúng tôi viết thư mời thầy Nhất Hạnh là phát xuất từ tấm lòng cô rất tôn kính thầy, mong thầy sớm trở về Việt Nam để thăm quê hương và xây dựng Phật giáo phát triển cho giới trí thức, sinh viên học sinh, mở ra một đạo Phật mới cho thời đại. Có đúng như vậy, phải không, sư cô.
– Con cảm ơn thầy đã hiểu ý con.
Thầy ngắt lời tôi: Nhưng cô còn ngây thơ lắm. Cô chưa hiểu về chính thể này. Việc viết thư mời Thầy, chúng tôi không làm được.
Tôi ra về, tiếp tục con đường tôi đã vạch ra, tự nhủ lòng: Đừng nản chí.
Tôi ra Quảng Ngãi thăm Ni sư Hạnh Toàn, nhờ Ni sư đưa tôi đến thăm Hòa thượng Huyền Quang.
Gặp tôi, ngài rất mừng. Tôi thưa với ngài:
– Con mới từ Làng Mai về. Con thọ pháp với thầy Nhất Hạnh, pháp danh Chân Y Nghiêm. Con ở bên Làng được bốn năm, kỳ này con được phép về thăm quê ba tháng. Nhưng bị lỗi về giấy tờ, Pháp không cho con nhập cảnh.
Hòa thượng kể cho tôi nghe nhiều việc đã xảy ra với ngài trong thời gian qua, vui ít, buồn nhiều. Ngài thao thức về đạo pháp suy vi, Tăng đoàn thiếu định hướng, đạo đức lỏng lẻo. Thế gian thì đói khổ lầm than, sống kiếp đọa đày như trâu ngựa…
Nhìn thân hình khắc khổ, nét mặt trầm tư của vị Hòa thượng trụ cột của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, trong tư thế bị giam lỏng, tôi cảm thấy chua xót cho thân phận con người giữa quê hương đã mất. Thầy hỏi tôi.
– Cô có nhận xét gì về các chùa bên đó.
– Con ít đi chùa nên không hiểu nhiều, nhưng con nghe các bà Phật tử họ than với con, họ sợ gặp các sư ở Việt Nam mới qua.
Mới đầu các vị này đến tá túc các ngôi chùa lớn, làm quen thân với các bà Phật tử, nhờ họ thuê cho căn nhà nhỏ, xây dựng thành cái am rồi chiêu dụ Phật tử về đó tụng kinh, tổ chức ăn uống… dần dần tụ điểm khá đông, họ quyên góp mua nhà, ôi đủ thứ. Riết rồi, chúng tôi sợ các vị ấy luôn.
Phật dạy Thời Mạt Pháp thì đạo Phật biến tướng ra đủ mọi hình thức tu sĩ. Con lớn tuổi rồi mới đi tu, không làm gì được cho Phật pháp nên con hướng tâm về giúp các cháu học sinh, sinh viên nghèo hiếu học, mong một chút ít ỏi đền đáp công ơn các vị anh hùng, chí sĩ đã hy sinh cho đất nước.
Thầy kể tôi nghe những câu chuyện buồn vui về sinh hoạt Tăng Ni trong nước. Điều đáng mừng là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã duy trì được được viện Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn, đào tạo ra lớp Tăng Ni trẻ có kiến thức căn bản Phật học và một số sinh viên Tăng Ni đã học thêm khoa học, triết học, y khoa và xã hội học để bổ sung kiến thức, hòa nhập vào xã hội tiến bộ, hướng dẫn các thanh thiếu niên học hỏi giáo lý Phật giáo.
Nhưng cũng có điều đáng buồn, Tăng Ni nhập vào bộ phận lãnh đạo Giáo hội thuộc thành phần đảng viên, giới luật nhà chùa ít được tôn trọng nên thường xuyên xảy ra những vụ tai tiếng, làm giảm sự tôn nghiêm của Phật giáo.
Nhìn nét ưu tư trên khuôn mặt già nua của vị đại lão Hòa thượng mà lòng tôi tràn ngập niềm kính thương lẫn xót xa.
***
Tôi được biết Hòa thượng Huyền Quang vào mùa hè năm 1991, nhân một dịp tôi ra Huế làm từ thiện với sự hỗ trợ của sư cô Chân Không và Tăng Thân Làng Mai.
Lúc từ Huế trở về Sài Gòn, sư cô Trí Hải có nhờ sư cô Hạnh Toàn, trụ trì chùa Tịnh Nghiêm ở Quảng Ngãi, dẫn tôi đến xã Nghĩa Hành, Quảng Ngãi, giúp 70 phần quà cho đồng bào nghèo nơi đây.
Sau đó cô Hạnh Toàn dẫn tôi tới thăm hòa thượng Huyền Quang đang bị giam lỏng tại một ngôi chùa nhỏ trên cánh đồng Làng, thuộc xã Quảng Ngãi.
Trước đây, tôi chưa từng diện kiến ngài, chỉ nghe danh Hòa thượng Huyền Quang, một bậc chân tu đáng kính. Sau khi nghe sư cô Hạnh Toàn giới thiệu về tôi, ngài mỉm cười nói:
– Mời bà Phật tử mới quen biết ngồi.
Tôi chắp tay cúi chào thầy, xin phép thầy ngồi xuống.
Trước một vị Tăng thống già nua đáng kính, chưa quen biết, tôi không biết nói gì, nhìn ngài, im lặng.
Ngài kêu chú thị giả mang bình trà, rót nước mời tôi.
Ngài nâng ly trà, thong thả uống, ánh mắt trầm ấm nhìn tôi, ngài hỏi:
– Bà ra Huế làm từ thiện, bà đã đi những xã nào, bà đi với chùa nào, bà có gặp khó khăn khi tiếp xúc với chính quyền địa phương không? Bà kể tường tận cho tôi nghe. Tôi bị giam lỏng ở đây, không biết tin tức gì bên ngoài cả.
Thế là tôi kể cho hòa thượng nghe về những gian nan trong chuyến hành trình làm từ thiện vừa rồi
Tôi ra Huế vào dịp cuối năm, theo sự giới thiệu của sư cô Chân Không để gặp sư cô Minh Tánh, nhóm anh Đính thuộc nhóm Thanh Niên Phụng Sự và anh Bửu nhóm bác Siêu, đi thăm và phát quà cho các đồng bào nghèo miền núi. Chúng tôi đã đến tận nơi, trao tặng quà cho từng gia đình những món quà vào dịp Tết.
Năm nay, 1991, vì số tiền sư cô Chân Không gửi về từng đợt khá nhiều, nên tôi chọn đi vào dịp nghỉ hè. Tôi đi cùng với ni sư Tịnh Nguyện. Tới nơi, tôi nhờ sư cô Minh Tánh và anh Đính xin phép địa phương, vì thời gian đó trùng hợp với đại hội Đảng. Nhưng mọi người đều nói là nếu xin giấy phép thì phải nhập toàn bộ số quà vào Ủy Ban Mặt Trận tỉnh Thừa Thiên.
Thế là chúng tôi bỏ qua phần giấy phép, chỉ chở xe quà lên đường vào các xã, với danh nghĩa đoàn từ thiện NHẤT KHÔNG. Đoàn xe của chúng con vừa mới vào xã Hương Vinh Thừa Thiên thì bị Trưởng công an xã chặn lại, mời tất cả mọi người vào đồn công an. Ông ta hỏi: Đoàn người đi đâu, đến đây có việc gì?
Sư cô Minh Tánh trả lời: Chúng tôi đến đây phát quà cho đồng bào nghèo.
– Vậy trước khi đến đây, các anh chị đã liên hệ xin phép chính quyền địa phương, có được họ đồng ý cấp giấy phép chưa?
– Mọi lần chúng tôi đi phát quà từ thiện cho đồng bào nghèo tại địa phương đâu cần xin phép. Thôn, xã vẫn đồng ý cho đồng bào nhận quà, có sao đâu.
Ông Xã trưởng xẵng giọng nói: Thời gian này tỉnh Thừa Thiên đang chuẩn bị đại hội Đảng VII, thế nên nghiêm cấm tất cả các sinh hoạt hội tụ đông người, nhất là sự có mặt người ngoài Thành Phố. Người đại diện đoàn Từ Thiện này là ai? Yêu cầu nói rõ xuất xứ những món quà này. Ai là trưởng đoàn?
Tất cả mọi người nhìn nhau, im lặng. Viên Trưởng công an xẵng giọng:
– Nếu tôi hỏi đến lần thứ ba mà trưởng đoàn không xuất hiện thì chúng tôi sẽ giữ xe quà này lại để điều tra.
Thấy viên công an nhìn về phía chúng con, ni sư Tịnh Nguyện vội kéo tay con đi ra ngoài, nói nhỏ:
– Kệ họ giải quyết với nhau. Mình là người Sài Gòn, ở đây sẽ gặp rắc rối.
– Ni sư cứ đứng ở đây, con không thể bỏ mặc quà từ thiện mất được.
Tôi bước vào ngồi chỗ cũ, điềm tĩnh trả lời:
– Thưa ông, tôi là người đại diện cho đoàn từ thiện này. Bản thân tôi là giáo viên dạy ngoại ngữ tại trường Hồng Bàng quận 5, Sài Gòn. Cuối năm ngoái tôi có ra Huế tặng quà cho một số đồng bào nghèo. Tôi thấy bà con ở đây khổ quá, bão lụt liên miên, đời sống rất cơ cực, các cháu học sinh thiếu mọi phương tiện học hành. Thế nên tôi đã kêu gọi các giáo viên và học sinh trường tôi, góp mỗi người một chút mua quà tặng đồng bào và các cháu học sinh nghèo. Tôi cũng đến chùa Ấn Quang kêu gọi Ban Từ Thiện chùa ủng hộ thêm. Nhân chuyến ra Huế tặng quà cho đồng bào nơi đây, tôi có hứa với họ, đích thân tôi sẽ trao những phần quà này đến tận tay đồng bào.Đây là giấy phép do Thượng tọa Thích Trí Quảng ủy thác cho tôi thăm hỏi đồng bào Huế, và giấy phép tôi được ra Huế nghỉ hè do trường Hồng Bàng cấp. Như vậy, tôi chưa đủ hợp pháp để tặng quà cho đồng bào Huế sao, thưa ông chủ tịch xã?
Trưởng đồn công an thấy con trình đủ giấy tờ, ông im lặng một chút rồi đề nghị hai giải pháp, hoặc là giao số quà này cho Ủy Ban Từ Thiện Xã, họ sẽ đứng ra phát thay, hoặc là phải chờ sau đại hội đảng, nếu muốn tự mình phát qua.
Vì bị công an ngăn trở, Chúng tôi quay xe, sang xã khác. Nơi đây, chúng tôi gặp ông chủ tịch xã, nói hết mọi chuyện, và yêu cầu ông giúp đỡ cho đoàn từ thiện phát hết phần quà cho đồng bào, thay vì mỗi người được một phần, bây giờ họ được luôn hai phần.
Ủy ban xã và đồng bào nghèo rất cảm động, họ nói với chúng tôi: Các cô ơi, chúng con rất mừng nhận được phần quà cứu trợ của các vị hảo tâm, những quà chúng con ăn rồi sẽ hết, chúng con vẫn không thoát cảnh nghèo, mà các con của chúng con vẫn chịu cảnh dốt nát. Chúng con xin các cô chú mở lớp học Tình Thương cho các cháu được đi học.
Ông chủ tịch xã cũng xin chúng tôi giúp xã mở lớp học Tình Thương, họ sẽ hỗ trợ phần trường lớp, bàn ghế. Phần chúng tôi sẽ chi phí sách vở, lương bổng cho giáo viên và các phần phụ phí khác. Số tiền tôi mang ra Huế lúc đó là 35 triệu đồng được đem gửi ngân hàng, dưới tên sư cô Minh Tánh. Còn tôi giữ sổ Tài Khoản. Khi cần chi việc gì, tôi và sư cô cùng ra ngân hàng rút tiền, khi mua sắm của công, hoặc giao tiền cho ai.
Tất cả mọi việc đều có ghi sổ rõ ràng. Cứ như vậy, chúng tôi đã mở được mười lớp học Tình Thương và cấp được 100 phần học bổng cho các cháu sinh viên, học sinh nghèo.
Hơn một tháng mùa hè ở Huế, tôi đã hoàn tất mọi việc sư cô Chân Không giao phó. Lúc ra về, tôi đã giao sổ Tài Khoản cho sư cô Minh Tánh để sư cô chi phí hàng tháng cho mười lớp học Tình Thương.
Sau khi kể xong cho hòa thượng Huyền Quang nghe sự việc vừa rồi ở Huế, tôi nói tiếp: Con đến Quảng Ngãi theo lời yêu cầu của sư cô Trí Hải, và hôm nay con đến thăm thầy. Thầy Nhất Hạnh và sư cô Chân Không gửi lời kính thăm thầy.
Hòa thượng trầm ngâm một lúc rồi hỏi tôi:
– Theo ý kiến bà, muốn giúp cho người dân thoát khỏi cảnh nghèo, dân trí hiểu biết thì chúng tôi nên làm gì?
– Thưa Thầy, con chỉ là một cô giáo nhỏ bé, con không dám nghĩ đến phạm vi rộng lớn của một người làm chính trị. Riêng bản thân con, trong lớp học, ngoài kiến thức chuyên môn, con luôn gợi ý cho các cháu lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, lòng biết ơn tổ tiên đã gìn giữ quê hương thoát khỏi cảnh ngoại xâm…
– Ngoài ra, con đã kêu gọi các nhà hảo tâm giúp con những phần học bổng cho các em học sinh, sinh viên nghèo hiếu học. Tuy chỉ là một đốm lửa như con đom đóm, nhưng con cảm thấy không hổ thẹn với các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Cường Để… tiếp tục chí nguyện của các ngài, phục quốc bằng cách khai dân trí cho tuổi trẻ…
Thầy đăm đăm nhìn tôi, thầy hỏi tiếp:
– Về Phật giáo, muốn xây dựng hàng ngũ Tăng ni chân chính để phụng sự đạo pháp, chúng tôi nên làm gì trong thời gian này?
– Thưa thầy, con không hiểu rõ về quy luật của Giáo hội, nhưng theo ý nghĩ đơn giản của con, nếu có phương tiện, thầy nên cấp học bổng cho Tăng ni trong tỉnh nhà để quý vị được tiếp tục theo học. Còn phạm vi về giáo lý, quý thầy nên mở trường Sơ cấp Phật học và Cơ bản Phật học để quý vị được học Giáo lý đạo Phật, để sau này quý vị rao giảng chánh pháp cho mọi người.
– Để thực hiện chương trình học bổng có kết quả tốt, bà đã làm như thế nào?
Tôi đã kể cho thầy nghe phương pháp làm việc của tôi. Mọi việc làm đều quang minh, chính đại, với một tấm lòng mong mỏi được cứu giúp đồng bào. Tôi không hề ăn bớt đồng nào, mà lại còn tự bỏ thêm vào chi phí gửi thư ra nước ngoài, hay chi phí đi lại. Tất cả đều có sổ sách rõ ràng, gây được niềm tin của các vị ân nhân.
Tôi cứ thế nói chuyện với thầy, thân thương như nói với người tri kỷ. Tôi quên mất người đối diện là một vị đại lão hòa thượng, một vị Tăng thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, bởi tôi tìm thấy nơi ngài một tấm lòng yêu thương dân tộc như các bậc tiền nhân Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu…, một bậc chân tu, muốn hoằng dương giáo pháp chân chính của đức Phật Thích Ca, cứu nhân dân Việt Nam thoát khỏi u mê, sa đọa vào tâm tham, sân, si độc ác đưa dân tộc Việt Nam vào vũng lầy đau khổ.
Thầy muốn tôi ngồi tiếp tục nói chuyện với thầy, nhưng nắng chiều đã ngả sang màu vàng sậm. Tôi xin phép thầy ra về. Đó là buổi đầu tiên tôi gặp Hòa thượng Huyền Quang, năm 1991, như một dấu ấn rất đẹp, cảm động theo dấu chân tôi về Sài Gòn.
***
Chiều nay, năm 2002, tôi đến thăm thầy với mục đích xin thầy viết thư mời thầy Nhất Hạnh về thăm quê hương để cùng quý thầy đạo cao đức trọng xiển dương chánh pháp. Xa cách hơn mười năm, nhưng khi gặp thầy, cả hai đều rất mừng rỡ. Mặc dù lúc bấy giờ tôi đã là một sư cô, mặc áo nâu sồng, nhưng thầy vẫn gọi tôi là bà Phật tử mới quen biết. Hình như cái phút giây gặp gỡ mười năm về trước vẫn in đậm trong trí thầy, thầy vẫn thấy tôi là một cô giáo hiền lành, đơn giản với tấm lòng yêu quê hương, và tuổi trẻ thiết tha.
Thầy kể tôi nghe nhiều câu chuyện vui ít buồn nhiều, xảy đến với thầy trong thời gian qua. Đặc biệt mới đây có ông trưởng công an tỉnh Quảng Ngãi đến thăm thầy, ông ấy lịch sự, niềm nở, chứ không như mấy ông cán bộ trước có vẻ hống hách, khó chịu.
Ông ta đưa thầy coi một bản tin mà ông ta gọi đó là bản tin mật, là gửi từ Tòa thánh La Mã tới Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn, đại ý là phải tống cổ bọn họ ra biển trong vòng mười năm. Họ thiếu tổ chức, thiếu đoàn kết, thiếu nhân sự được đào tạo cơ bản, họ đây có nghĩa là Phật giáo…
Ông ấy kêu gọi thầy vì tương lai dân tộc và sự tồn vong Phật giáo, thầy nên mở lòng ra, về cộng tác với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, cùng các vị tôn túc xây dựng lại Giáo hội cho nghiêm túc, đào tạo Tăng tài, cán bộ nòng cốt để phát triển Phật giáo theo giáo lý chân chính của đức Phật Thích Ca, đưa Phật giáo Việt Nam sánh ngang với tầm vóc thế giới.
Tôi lắng nghe thầy nói, nét mặt thầy bây giờ già nua, mang đậm nét ưu tư. Thầy chậm rãi hỏi tôi:
– Theo ý bà, tôi nên làm gì bây giờ?
– Theo ý bà nhận xét thì những vị tu sĩ đạo hạnh và tài giỏi trong Giáo Hội Thống Nhất trong nước còn nhiều không?
Tôi im lặng một lúc rồi trả lời thầy:
– Thưa thầy, đã từ lâu, con ít đến chùa, nên con không rõ những vị nào trong Giáo Hội Thống Nhất, con chỉ biết thầy Không Tánh, bản chất thầy ấy thì rất tốt, nhưng tính thầy ấy thì thẳng thắn, bộc trực quá. Còn ở ngoại quốc thì quý vị thiếu đoàn kết, chia năm sẻ bảy tông phái.
– Thầy năm nay đã cao tuổi rồi, thầy nên suy nghĩ thầy còn làm được điều gì cho đất nước thì thầy làm. Bây giờ họ đã có thiện ý đến gần thầy, giơ tay đón thầy để cùng xây dựng khối Phật giáo dân tộc vững mạnh. Con nghĩ thầy cũng nên xích lại gần họ, để tạo nên khối đoàn kết. Nếu sau đó, thầy thấy không ổn thì rút lui cũng chưa muộn.
Thầy lắng nghe tôi nói, vẻ trầm ngâm.
Tôi nói tiếp:
– Thưa thầy, kỳ này về quê hương, con đến xin thầy viết lá thư mời thầy Nhất Hạnh về Việt Nam trong tinh thần huynh đệ. Thầy con rất nhớ quê nhà. Con tin rằng trong cơ hội này, thầy và thầy Làng Mai sẽ cùng nhau làm được điều lợi ích cho đồng bào, đất nước.
Thầy Huyền Quang rất cảm động, nói:
– Tôi sẽ viết thư mời thầy Nhất Hạnh về nước. Chúng tôi sẽ cố gắng làm được điều lợi ích cho Phật giáo và quê hương.
Nắng chiều đang ngả về tây, trải ánh nắng vàng óng, nhảy múa trên cánh đồng mạ non. Tôi thật xúc động nhìn thầy, một vị hòa thượng chân chất, suốt một đời hiến thân cho đạo pháp và dân tộc.
Tôi chắp tay cúi chào thầy.
Ánh nắng quái chiều hôm nhạt nhòa trong mắt khiến tôi rưng rưng, tự hỏi đôi chân mình đang nhẹ bước trên mảnh đất khô cằn hay trong huyễn mộng?
Tôi tiếp tục ra Huế, đến chùa Từ Hiếu gặp thầy Chí Mậu. Thầy hiện đang là Trụ trì chùa Từ Hiếu, là sư đệ Sư ông Làng Mai. Tôi ngỏ lời xin thầy viết thư mời Sư ông về Việt Nam với tư cách tình huynh đệ. Thầy từ chối nói rằng thầy chỉ là trụ trì trên danh nghĩa, còn quyền điều hành thuộc về thầy Thiện Hạnh và thầy Thái Hòa. Tôi gặp hai thầy này, nhưng vẫn bị từ chối.
Tôi gặp sư bà Diệu Nghiêm, là sư tỷ của thầy. Có lẽ sư bà lớn tuổi, tình cảm chị em sâu nặng với thầy, nên khi tôi ngỏ ý xin sư bà viết thư mời thầy về thăm quê, sư bà kêu đệ tử viết lá thư mời thầy về.
Cầm lá thư trên tay mà tôi mừng rỡ. Trên chặng đường từ Sài Gòn ra đến Huế, gặp được rất nhiều vị cao tăng, mà tôi chỉ nhận được hai lá thư. Một của Hòa thượng Huyền Quang, bây giờ là của sư bà Diệu Nghiêm.
Sau khi phân vân không biết có nên ra Hà Nội hay không, tôi quyết định mình nên đi ra ngoài Bắc một chuyến
Hà Nội tôi chỉ quen biết sư thầy Đàm Lan, trụ trì chùa Bồ Đề. Tôi quen được bà ở Xóm Mới, lúc sư thầy sang dự lễ Đại Giới Đàn thế kỷ 21, truyền giới cho tứ chúng tại Xóm Hạ. Ngày chia tay, sư thầy cho tôi số điện thoại và địa chỉ chùa Bồ Đề Hà Nội, tha thiết mời tôi về thăm chùa, khi tôi về Việt Nam.
Từ lúc nhỏ tôi chưa về thăm quê nội một lần, chỉ nghe ba tôi nói với các con là quê nội chúng tôi là làng Vẽ, tức làng Đông Ngạc. Cô cháu dâu, vợ anh Phan Huy Đính, anh họ của tôi, đang làm thanh tra Sở Giáo Dục Hà Nội, dẫn tôi thăm phố phường Hà nội.
Sau đó tôi về thăm quê ngoại ở làng Tứ Tống, nay gọi là Từ Liêm, nằm dọc theo con đê Yên Phụ. Làng quê thay đổi nhiều quá. Những nóc nhà ngói, nhà tranh nằm lẫn trong bụi tre xanh ngày xưa, bây giờ đã được thay thế bằng hai dãy nhà lầu nằm dọc dưới chân đê, không còn cây xanh bóng mát.
Anh Chất, con Già Lý, dẫn tôi ra thăm mộ mẹ tôi trong cánh đồng Làng. Mộ được xây thành từng hàng, có lát đá hoa cương. Mẹ tôi là con gái út, nên các cháu tôi bây giờ đã có tuổi. Tất cả mọi người đều có cuộc sống ổn định, họ hàng họp mặt để đón mừng tôi, tất cả đều quấn quýt bên tôi, tay bắt mặt mừng, níu kéo mời tôi thăm từng nhà, từng xóm.
Ôi, tình quê hương sao mà ngọt ngào quá, thân thương quá. Tôi xa quê năm tôi mười ba tuổi, năm nay tôi đã ngoài sáu mươi. Thời gian tuy dài đằng đẵng, nhưng tình quê hương vẫn mãi gần nhau.
Tôi đến chùa Bồ Đề gặp Ni sư Đàm Lan. Bà vui mừng gặp lại tôi. Tôi có đề nghị ni sư viết thư mời Sư ông Nhất Hạnh về thăm quê hương trong tinh thần dân tộc. Bà vui vẻ nhận lời và viết lá thư ngắn gọn nhưng chan chứa đạo tình, tha thiết mời Sư ông về thăm quê hương Hà Nội. Ni sư Đàm Lan cầm lá thư đến các chùa quanh Thủ Đô yêu cầu các vị Trụ trì ký tên vào.
Tôi cầm lá thư mà rưng rưng cảm động về mối chân tình của người Hà Nội dành cho Sư ông.
Về đến Sài Gòn, tôi đến chùa Ấn Quang, gặp Thượng tọa Trí Quảng. Tôi rất kính trọng và quý mến thầy Trí Quảng. Khoảng mười năm trước, thầy Trí Quảng đã giúp đỡ chúng tôi hết lòng về chương trình Học bổng Hiểu và Thương. Thầy hiểu tấm lòng tôi dành cho quê hương, Phật giáo và tuổi trẻ. Thầy thường chấp thuận những đề nghị của tôi. Có lần thầy nói với tôi:
– Tôi thấy sợ về sự năng động và quá nhiệt tình của chị Thuần.
Bây giờ, ngồi trước mặt thầy, tôi vẫn là cô Thuần, nhưng trong bộ áo nâu sồng thầy Nhất Hạnh đã ban cho tôi. Thầy trò chúng tôi vui vẻ nói chuyện với nhau về sinh hoạt Phật giáo bên Làng Mai và trong nước.
Cuối cùng tôi xin thầy viết lá thư mời thầy Nhất Hạnh về thăm quê hương, không phải với danh nghĩa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, mà với danh nghĩa tình huynh đệ.
– Cô Thuần vẫn như ngày xưa, nhiệt tình và ngây thơ nữa. Cô thưa với thầy Nhất Hạnh lời nhắn gửi của tôi:
Hiện thời, thầy vẫn giữ ưu thế truyền bá Pháp Môn Thiền Chánh Niệm ở ngoại quốc, thầy vẫn giữ yên công cuộc hành đạo như vậy đi.
Nhà nước họ nói mở cửa, nhưng họ chỉ mở hé vậy thôi. Thầy về bây giờ, không làm được việc gì, có khi gặp rắc rối. Thầy ráng đợi vài năm nữa, khi nhà nước họ mở cửa hoàn toàn, họ sẽ cần đến Thầy. Lúc đó tôi sẽ đích thân sang Pháp đón, thầy sẽ trở về trong niềm hân hoan, đón rước của toàn thể Phật tử Bắc, Trung, Nam.
Tôi cúi đầu chào thầy, rất cảm động và mang ơn lời khuyên chân thành của một bậc thầy đạo hạnh mà tôi rất kính ngưỡng.
Đã hết thời gian nghỉ ba tháng về thăm quê hương. Tôi chuẩn bị lên đường sang Pháp thì được sư cô Chân Không báo tin:
Pháp không cho tôi nhập cảnh, giấy tờ tạm trú của tôi ở bên đó thường xuyên trình báo trễ hạn. Sư cô mua vé khứ hồi cho tôi, bây giờ bị mất trắng. Duyên của tôi với Làng thật ngắn ngủi.
Tôi tự an ủi: Âu cũng là số phận. Thôi thì, quê hương vẫn là nơi an trú cho con đường tâm linh thánh thiện nhất.
