Chữ Nghĩa Làng Văn

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 163)

  Phùng Quán Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam đã xuất bản “Nhà văn Việt Nam hiện đại”, dày 1200 trang khổ lớn, tập hợp chân dung trên một ngàn nhà văn các thế hệ, từ các cụ Ngô Tất Tố, Phan Khôi… cho đến lớp nhà văn vừa được kết nạp như

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 162)

  Cải tạo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh giải nghĩa rất đơn giản: Cải tạo: Đem cái cũ đổi lại làm mới. Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý dài dòng hơn: Cải tạo: Làm cho thay đổi một cách căn bản, cho tốt hẳn lên Ví dụ: Cải tạo

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 161)

  Tục ngữ Tầu Thượng bất thượng, hạ bất hạ (Trên chẳng ra trên, dưới chẳng ra dưới) Đây là một hình thức chơi chữ của người Tầu vì “Thượng bất thượng, hạ bất hạ” là chiết tự của chữ “nhất”. (Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)   Tự lực văn đoàn  Tự lực

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 160)

Truyện cực ngắn – Chiến tranh Ði lính hơn ba năm, hắn khoe hắn đã bắn chết đúng tám tên địch. Sang Úc, mỗi lần nhậu ngà ngà, hắn lại khoe khoang thành tích ấy. Bạn bè không tin. Hắn cởi áo và xắn quần lên khoe: trên lưng và dưới chân hắn còn thấy

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 159)

Giá sách cũ làng văn 1975-2010 Lớp nhà văn từ 70 tuổi trở lên… Những nhà văn còn sót lại của lớp tuổi trên 70 có thể đếm trên đầu ngón tay. Như Doãn Quốc Sĩ sau 1975, ở hải ngoại, ông cho xuất bản Mình lại soi mình (1981), Người vái tứ phương (1982),

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 158)

  Câu đố tình tự I Xưa kia em trắng như ngà Bởi chưng ngủ lắm em đà đen thâm Lúc bẩn chàng đánh chàng đâm Đến khi rửa sạch chàng nằm lên trên (Giải đáp: Cái Chiếu)  Sự khác nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội Vào nhà hàng Sài Gòn: Vâng em làm

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 157)

Sửa ca dao Gần đây người trong nước sửa “tháng giêng” thành “tháng một”! Sửa như thế chỉ gây rắc rối thêm nếu chúng đọc đến bài ca dao : Tháng giêng là tháng ăn chơi, Tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè Những thành phố cổ, nhà cửa so le, đường xá quanh

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 156)

  Thịt chó với Nguyễn Du Nguyễn Du mê ăn thịt chó nên thúc giục giết thịt chó mà đánh chén. Trong bài thơ chữ Hán Hành lạc từ, câu ấy là “hữu khuyển khả tu sát” . Cụ Lê Thước diễn nôm cả đoạn thơ ấy như sau: Tội gì ngàn năm lo Có

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 155)

  Câu đố Xét trong quan hệ với vật đố, tức cách biểu thị vật đố ra sao, hình ảnh ở lời đố thường được sử dụng theo kiểu tên riêng. Kiểu tên riêng được dùng theo lối cùng âm: tên riêng, tên người, tên đất được dùng theo cách cùng âm, cùng nghĩa cũng

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 154)

  Chữ nghĩa làng văn Ở đâu nhà văn và nhà giáo cũng có quan hệ khá chặt chẽ với nhau. Cả hai loại người này đều sinh hoạt trong thế giới sách vở. Hậu quả là phần lớn các nhà văn đều có khuynh hướng viết văn như một nhà giáo. Một biểu hiện

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 153)

  Chữ nghĩa làng văn  Trong bài Khen vợ của Trần Tế Xương hai câu mở đầu: Quanh năm buôn bán ở “ven” sông Nuôi đủ “đàn” con với một chồng Thực ra hai câu này là: Quanh năm buôn bán ở “mom” sông Nuôi đủ “năm” con với một chồng Mom đây là phần

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 152)

  Giai thoại làng văn Là bạn của Nam Cao, Tô Hoài cũng không dễ chịu về tiền nong hơn mấy chút, nhưng tương đối anh cũng đỡ lo lắng và cũng đỡ phải vật lộn với sự sống hàng ngày như Nam Cao. Có lẽ vì thế giọng văn của Tô Hoài ít chua

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ