ngộ không;cnlv

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 195)

  Thanh mai trúc mã “Mai” đây là “quả mơ” chứ không phải là cây mai. “Thanh mai” là trái mơ xanh. “Trúc mã” là con ngựa đồ chơi làm bằng tre. Câu này lấy từ điển cố trong bài thơ “Trường ca hành” của Lý Bạch.Tả mối tình thơ ngây của đôi trai gái,

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 192)

  Linh sàng (2) Linh là thiêng liêng, là liên quan đến người chết; sàng là cái giường. Các từ tố này đã được soạn giả giải nghĩa đúng. Nhưng nhiều người cho rằng linh sàng là giường thờ người mới chết chưa đem chôn. Nếu như vậy thì phải chăng Nguyễn Du đã dùng

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 191)

Chữ nghĩa làng văn Theo tôi, để văn chương hàm súc và ý vị, nhà văn phải viết trong giả thiết là người đọc của mình là những người cực kỳ thông minh và uyên bác: hắn không cần phải viết những gì, thứ nhất, độc giả có thể đã biết rồi; thứ hai, độc

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 189)

  Phát âm Việt ba miền Người Trung (Bắc-Trung) phát giọng  hỏi và nặng giống nhau! Thí dụ như: Ăn ba chái thù đụ mà vẫn chưa đụ thì chừng nào mới đụ? Thôi đừng nói nữa … đụ zồi đụ zồi. Đây là cách viết các dấu,  phân biệt được người viết là người

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 186)

  Danh nhân miền Nam gốc Minh Hương Trong lịch sử khẩn hoang ở miền Nam, sự đóng góp của người Minh hương từ xưa đến nay về lịch sử và văn hóa thật là to lớn. Bao nhiêu danh nhân Việt nam trong lịch sử là có gốc Minh hương, từ Trịnh Hoài Đức,

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 172)

Chữ nghĩa làng văn (2)  Nhạc sĩ Phạm Duy, bạn thân của Hoàng Cầm, đã phổ bài thơ Lá diêu bông thành ca khúc, từng viết Hoàng Cầm trong tôi tại California, Hoa Kỳ, vào năm 1984 nêu cách giải thích: “Trước hết chúng ta cần biết lá diêu bông là lá gì? Lá diêu bông (lá bông diêu

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 171)

Đàn đáy (2) Đàn đáy là nhạc khí đặc trưng trước kia chỉ dùng để đệm cho một thể loại hát duy nhất với hai nhánh mà ngày nay người Việt thường gọi là Hát cửa đình và Hát ả đào (hoặc Ca trù). Chỉ nam giới mới chơi nhạc cụ này. Có lẽ đàn

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 162)

  Cải tạo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh giải nghĩa rất đơn giản: Cải tạo: Đem cái cũ đổi lại làm mới. Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý dài dòng hơn: Cải tạo: Làm cho thay đổi một cách căn bản, cho tốt hẳn lên Ví dụ: Cải tạo

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 161)

  Tục ngữ Tầu Thượng bất thượng, hạ bất hạ (Trên chẳng ra trên, dưới chẳng ra dưới) Đây là một hình thức chơi chữ của người Tầu vì “Thượng bất thượng, hạ bất hạ” là chiết tự của chữ “nhất”. (Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)   Tự lực văn đoàn  Tự lực

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 159)

Giá sách cũ làng văn 1975-2010 Lớp nhà văn từ 70 tuổi trở lên… Những nhà văn còn sót lại của lớp tuổi trên 70 có thể đếm trên đầu ngón tay. Như Doãn Quốc Sĩ sau 1975, ở hải ngoại, ông cho xuất bản Mình lại soi mình (1981), Người vái tứ phương (1982),

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 158)

  Câu đố tình tự I Xưa kia em trắng như ngà Bởi chưng ngủ lắm em đà đen thâm Lúc bẩn chàng đánh chàng đâm Đến khi rửa sạch chàng nằm lên trên (Giải đáp: Cái Chiếu)  Sự khác nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội Vào nhà hàng Sài Gòn: Vâng em làm

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 155)

  Câu đố Xét trong quan hệ với vật đố, tức cách biểu thị vật đố ra sao, hình ảnh ở lời đố thường được sử dụng theo kiểu tên riêng. Kiểu tên riêng được dùng theo lối cùng âm: tên riêng, tên người, tên đất được dùng theo cách cùng âm, cùng nghĩa cũng

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ