Nhà thơ Nguyễn Bảo Sinh và Tác Giả
Có những người quen nhưng về sau ta không còn nhớ gì về cuộc gặp gỡ lần đầu.Nhưng với người đàn ông kỳ lạ này thì sau hơn 20 năm mà tôi vẫn còn nhớ đến từng chi tiết. Có khi như nghe cả những tiếng cười đầy sảng khoái, có lúc lại nhớ về những khoảng lặng suy tư.
Vì sao? Những câu chữ của anh làm ta vui, nhưng khi cái vui vừa qua, ý thấm vào người buộc ta phải im lặng, trầm ngâm!
Đầu những năm 2000, tôi thường có dịp ra Hà Nội. Một buổi chiều có người bạn trẻ là Đạt đến khách sạn đón và chở tôi đi ăn. Thấy trên sườn xe có một quyển sách nhỏ, bìa vàng, kích cỡ chỉ bằng bàn tay, tôi tò mò hỏi sách gì vậy thì Đạt nói: “À tập thơ của một bác quen tặng em hồi trưa” “mà em ít đọc thơ, nếu anh thích em tặng lại anh!”.
Tò mò, tôi cầm lấy lật lạt vài trang và sững sờ dừng mắt ở mấy hàng chữ:
Con ta đâu phải của ta
Tai họa của nó mới là của ta!
Tôi giật bắn người! Không chỉ ý tưởng lạ đã làm tôi kinh ngạc và bất ngờ, nhưng sự trùng hợp ở cái thời điểm đặc biệt đã làm tôi rúng động: Chỉ mới tháng trước đấy tôi vừa chứng kiến hoàn cảnh đúng như anh viết: Một người bạn vừa mất con trong một vụ tai nạn! Anh là người hoạt bát và vui tính, mà sau biến cố ấy anh đã biến thành con người không còn sinh khí.
“Tai họa của nó mới là của ta.. ” đúng quá, tai họa xảy ra với con nhưng anh bạn đã hứng trọn những hậu quả. Và đây là một ý tưởng rất kỳ lạ với tôi, lúc đã 50 mà chưa nghe ai nói thế bao giờ.
Sau khi đọc vài trang khác nữa tôi liền bảo Đạt: Nếu có thể anh nhờ em sắp xếp để được gặp bác nhà thơ này. Đạt đồng ý và sáng hôm sau thông báo là khoảng 5h giờ chiều em sẽ đến tôi và đến nơi hẹn rồi em về nhà.
5h15 gặp nhà thơ Nguyễn Bảo Sinh và bên tách trà chúng tôi ngồi đối diện nhau trò chuyện. Gặp nhau lần đầu mà chỉ sau một lát hai chúng tôi như hai bạn cũ gặp nhau, câu chuyện miên man không dứt. Đây có lẽ là điều đặc biệt trong giới văn nghệ là khi đã hợp tạng thì dù mới gặp đều có cảm giác như quen nhau tự bao giờ.
Những lúc câu chuyện tạm ngưng để bắt trớn, tôi ngồi lặng lẽ quan sát anh: dáng người nho nhỏ, da ngâm đen, gầy nhưng rắn chắc, còn đôi mắt tinh anh vừa hóm hỉnh vừa rực sáng với cái miệng nói chuyện rất có duyên, chắc phụ nữ nào nghe anh nói cũng phải mê mệt.
Khoảng 18h30, thấy tôi nhìn đồng hồ anh Bảo Sinh liền nói: đang nói chuyện hào hứng thế này nếu dừng lại thì sẽ bị gián đoạn. Để tôi bảo mấy cháu chạy đi mua bún chả Hà nội, mình vừa ăn vừa tiếp tục nhé. Thế là chúng tôi tiếp tục nói đủ thứ chuyện về cuộc sống, văn chương triết học Đông Tây, có khi chạm vào chuyện thành công thất bại và lẽ tử sinh.
Nhưng phần lớn thời gian là ngồi nghe anh đọc thơ để cười lăn cười lóc.
Ra đường sợ nhất công nông/ Về nhà sợ nhất vợ không mặc gì.
Vợ cưới vừa xong thành đồ cổ/ thơ hay không thấy cũ bao giờ
Mải chuyện trò, chúng tôi không biết thời gian đã trôi qua. Khi nhìn lại thì đã hơn 11 giờ đêm, tức là nói với nhau ròng rã 6 tiếng đồng hồ! Lúc này đã khuya nên gọi taxi rất khó… 2 anh em ra cổng đứng chờ mãi xe mới đến …và tôi về đến khách sạn thì đã gần nửa đêm.
Anh Bảo Sinh có tặng tôi một số tập thơ nho nhỏ, bìa vàng. Tuy đã khuya nhưng thay quần áo xong là tôi đọc say sưa, có lúc tủm tỉm cười một mình rồi chìm vào giấc ngủ.
*
Sau lần gặp ấy cứ mỗi lần ra Hà Nội là chúng tôi gặp nhau rồi trở thành bạn vong niên. Thời ấy vì nhu cầu công việc tôi bay ra Hà Nội thường xuyên, chừng mỗi tháng 1 lần và ở lại 5, 7 ngày.
Tôi là người thích đọc, thích viết và đọc được gì hay thường chia sẻ và giới thiệu sách vở với bạn bè.
Vì không có file điện tử nên tôi nhờ người đánh máy lại các bài thơ trong tập thơ mini của anh BS rồi chuyển qua email cho các bạn bên Ý nên mỗi lần gặp nhau nhắc lại các bài thơ của BS ai cũng bật cười. Về SG, qua Dr Thành một Việt kiều ở Đức đã hồi hương nên thỉnh thoảng tôi cũng có tham gia các buổi gặp mặt của cộng đồng người Việt từ Đức về. Đọc thơ của Nguyễn Bảo Sinh đều được nhiều người thích, nhớ và thường nhắc đến.
Thời ấy cái tên Nguyễn Bảo Sinh ít được nhiều người biết, có chăng chỉ một số bạn bè văn chương ở Hà Nội, còn giới giang hồ ngồi bia hơi quán nhậu có người đọc những câu thơ này nhưng không biết tác giả là ai:
Vợ là cơm nguội nhà ta
Lại là phở tái thằng cha láng giềng,
hay
Suốt đời chỉ yêu một người
Bệnh ấy còn nặng gấp mười ung thư,
hay
Ghế thì ít, đít thì nhiều
Cho nên đấu đá là điều tất nhiên
Ba lạng thịt chốn động tiên
Thừa chỗ đủ để cưỡi trên vạn người…
*
Thời gian sau, có một lần đến nhà thăm anh Bảo Sinh thì vừa lúc ấy cũng có một người vừa đến. Anh là bác sĩ thú y Hoàng Ngọc Báu. Sau khi giới thiệu tôi từ Ý về, anh rất ngạc nhiên: Thế cơ à, tôi ở Hà nội mà bây giờ mới biết nhà thơ Nguyễn Bảo Sinh còn anh ở tận xa tít Âu châu mà quen bác trước tôi cả mấy năm thì quả là đáng nể.
Biết tôi là chuyên gia hóa dược, từng nghiên cứu và phát triển cả thuốc cho người và thú y nên nói chuyện một lát là khám phá ra chúng tôi có mấy người bạn chung ở Hà nội nên hai người rất dễ thân nhau.
Vừa lúc này anh Bảo Sinh đưa cho tôi mấy tập thơ nhỏ. Tôi lật tình cờ bắt gặp mấy câu này nên cười ngất:
Làm người không hiểu con ku
Đọc vạn quyển sách cũng ngu… như bò.
Trận cười chưa dứt mà đã thấy thêm 2 câu khác, tôi ngả người ra sau, tay cầm quyển sách mà cười lăn lộn như lên đồng:
Thà bị mọc 9 cái sừng,
Còn hơn bồ báo tin mừng mất kinh.
Bất ngờ là bsHoàng Ngọc Báu thấy thế và kịp thời bấm máy, thế là tôi có được một bức ảnh để đời!
Một lần khác ở Hà nội, tôi đang ngồi cà phê thì anh BS gọi điện mời tới nhà nói chuyện và cùng ăn cơm trưa. Tôi ngần ngại chưa biết trả lời thế nào vì đang ngồi với Paul Nguyễn Hoàng Đức, có thể mời Paul đến luôn không? Tôi e ngại vì không biết giữa 2 người có va chạm gì không, nhưng anh bảo: vậy mời ông ấy cùng đến cho vui. Tôi nói lại và Paul vui vẻ nhận lời và chở tôi đến đường Trương Định bằng xe máy. Lúc lên xe Paul nói với tôi, anh cũng hay nhỉ, ở tận Sài Gòn mà quen với “hai đầu Gấu” ở Hà Nội!
Là tác giả của 2 câu thơ làm dậy sóng văn đàn:
Muốn cho trộm chẳng đến nhà
Đề vào trước cửa: Đây là nhà thơ.
Ý anh nói là nhà thơ nghèo lắm, ăn trộm cũng chê thế nhưng nhà anh nằm ở ngõ 30 trên phố Trương Định là cả một khuôn viên rộng thênh thang.
Đây là khu đất mà gia đình anh đã định cư nhiều đời ở Hà Nội. Thời trẻ, anh đã từng đi lính, từng là võ sư Judo, quyền anh, từng vẽ truyền thần rồi sau này làm khách sạn chó mèo. Từ trẻ đến già, Nguyễn Bảo Sinh chỉ ở đây chứ không chuyển dịch đi đâu, xung quanh có vợ con, anh em, họ hàng, bè bạn nhưng luôn tự nhận là kẻ giang hồ và một người tu tại gia!
Là người yêu thơ bậc nhất. Ngôn ngữ đơn giản nhưng phát hiện được những nghịch lý oái oăm nên khiến người nghe bất ngờ và kinh ngạc. Sau này khi có Facebook thì thơ anh được truyền khẩu và người ta quên tên tác giả dù có khi đã biến thành ca dao, tục ngữ, thành lời bài hát …
Nói về nhà thơ vô danh, thi sĩ, đạo thơ và các hội thơ
-Đêm nằm nghĩ mãi không ra, tại sao thằng ấy lại là nhà thơ.
-Gặp kẻ ăn cắp thơ ta, hóa ra người ấy lại là tri âm.-Biết bao thi sĩ vô danh, nhưng vần thơ lại trở thành ca dao.
Biết bao thi sĩ ngôi sao, suốt đời chẳng để câu nào cho ai.
-Muốn đuổi khách ra khỏi nhà, Đọc thơ được giải họ ra tức thì.
-Hội nào rồi cũng sẽ tan, hội mà không hội không tan bao giờ
Hội thằng thơ dở xưa nay, quyết không để kẻ thơ hay lọt vào
– Làm thơ là tự khỏa thân / Ta không nên đọc giữa sân đông người
Nói về cướp:
Đuổi cướp trong cái vòng đời, trước sau giả thật chỉ trời biết thôi
Cướp vặt không thoát lưới trời, cướp cả thiên hạ được ngồi làm vua.
Về bản chất con người :
Dù ngồi ở bất cứ đâu, Chỉ đít đổi chỗ chứ đầu thì không
Buổi ăn trưa và trò chuyện với hai “cao thủ” hôm ấy rất vui vẻ và đáng nhớ.
Nhiều năm sau qua anh Bảo Sinh tôi tình cờ gặp một người bạn mà có thể nói sau này là độc giả tâm đắc của tiểu thuyết BÀN TAY NHỎ DƯỚI MƯA: Nghe giới thiệu tôi từng sống 40 năm ở Ý, có in quyển tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” được nhiều dư luận quan tâm. Anh Nguyễn văn Thành nhướng mắt nhìn tôi và nói đùa: sống nhiều năm ở nước ngoài, lại lấy vợ Ý thì sao mà viết được tiếng Việt? thế nhưng sau khi đọc tác phẩm anh viết ngay một nhận định rất trân trọng và chí tình cũng như đã tha thiết giới thiệu để tác phẩm được chuyển thành phim (Anh Nguyễn Văn Thành là con rể của nhà thơ Lưu Trọng Lư, anh học khoa Ngữ Văn (khóa 12 (1967-70) ở ĐH Tổng hợp Hà Nội và sau khi ra trường anh về công tác ngành nghiên cứu sân khấu điện ảnh.
Chúng tôi không chỉ gặp nhau ở Hà nội mà cũng có khi gặp nhau ở Sài gòn. Nhà thơ Bảo Sinh cũng đã từng tham dự một buổi ra mắt tsvhnt Quán Văn hay gặp một số bạn bè ở quán cà phê Tắt đèn. Nhận xét của anh là “ ở SG anh em thực sự yêu mến văn chương, không khí họp mặt bạn bè chân tình, cởi mở và tôn trọng lẫn nhau!”
Một kỷ niệm khác khá vui là lúc mới quen nhà văn Trần Thanh Cảnh, anh đến đón tôi ở khách sạn và nói “tôi chở ông ra bờ hồ với một nhà thơ”. Tôi nói có phải cái ông: làm thơ, nuôi chó, chọi gà, ấy ai biết được lão là nhà thơ đấy không? Trần Thanh Cảnh bất ngờ cười lớn: a… thế ông cũng biết BS à? Hay nhỉ!
Ngồi nói chuyện mới hay là cả hai chúng tôi cũng thường trích thơ Bảo Sinh và đưa vào trong các trang viết.
Có mấy câu thơ nói về chiến tranh với con người mà cả tôi và Trần Thanh Cảnh đều cho là tuyệt bút. Nhắc xong tôi còn yêu cầu anh BS đọc lại để ghi âm:
Kìa xem Hán Sở tranh hùng
Quân kì ca khúc điệp trùng nơi nơi
Trông gần chính nghĩa sáng ngời
Nhìn xa chỉ thấy lũ người giết nhau
Và
Tết xưa theo mẹ sang bà
Tết nay mẹ tiễn con ra chiến trường.
Bàn thờ thêm một bát hương
Mẹ tôi thêm tấm huân chương anh hùng.
Mấy câu thơ ngắn nhưng bóc tách lớp vỏ ngụy trang mang tên “chính nghĩa” vượt lên trên phe phái Hán hay Sở để chỉ ra bản chất cuối cùng của MỌI cuộc chiến: nạn nhân là những người dân thường “giết nhau” vì tham vọng của tầng lớp thống trị.
Bảo Sinh đã sử dụng nhuần nhuyễn thủ pháp tương phản, không khí đầm ấm của Tết xưa (đi cùng mẹ) và sự chia ly của Tết nay (ra chiến trường), để nhìn thẳng vào bộ mặt chiến tranh: Tấm “huân chương” – biểu tượng vinh quang – không thể bù đắp sự mất đi sinh mạng của người con mà chỉ làm dài thêm nỗi đau của người mẹ.
Cả hai khổ thơ đều thể hiện tinh thần nhân bản và đứng trên mọi lý thuyết chính trị để nhìn chiến tranh bằng trái tim nhạy cảm, xót thương cho những kiếp người bị cuốn vào vòng xoáy lịch sử. Mới đọc tưởng giản dị nhưng ngẫm kỹ mới thấy góc nhìn triết lý, nhân văn về chiến tranh và thân phận con người.
Theo tôi đây là những câu thơ cực hay về chiến tranh! Không gươm đao hay khói súng. Không kích động hận thù và để lại trong lòng người đọc một sự ngậm ngùi và nỗi đau âm ỉ.
Mỗi lần gặp BS ở Hà nội, phần lớn tôi đều gặp cả nv Nguyễn Huy Thiệp. Trong một bài viết BS nói quen TVD qua NHT là không chính xác. Vì tôi quen anh BS trước, mấy năm sau mới gặp anh Thiệp ở Ý lúc anh qua lãnh giải thưởng Nonino rồi sau này gặp cả 2 anh ở Hà Nội.
Có một lần thấy bài viết của Nguyễn Huy Thiệp gọi BS là nhà thơ dân gian, tôi không đồng ý lắm. Anh BS hóm hỉnh, thích ỡm ờ, thực và ảo, giữa chân lý và phi lý, nửa nạc nửa mỡ nửa đời nửa đạo… nên thơ anh có dân gian nhưng cũng là thơ bác học, trí thức, có mang hơi hướng thiền Phật Giáo. Anh NHT không nói gì nhưng im lặng, không cãi.
Sau khi anh Thiệp về thì BS nói… Người ta chỉ cho mình thế thôi ông à. Tôi hiểu. Rồi anh đọc:
CÂU THƠ KHI TỎ KHI MỜ
LÝ TRÊN BÁC HỌC TÌNH THỪA DÂN GIAN.
Tôi cũng đọc tiếp theo:
– Thiền là cuộc sống quanh ta.
-Cho ta về chỗ gió mưa
Cho ta về chỗ có trưa có chiều
Về nơi có ghét có yêu
Nắng mưa, yêu, ghét, sớm, chiều như ta.
Và anh Bảo Sinh cũng đọc tiếp hai câu mà tôi rất thích:
Khi mê bùn chỉ là bùn
Ngộ rồi mới biết trong bùn có sen.
Tuy ngắn gọn nhưng ý nghĩa sâu sắc và sau này tôi nghe được rất nhiều quý Thầy, Đại đức, Thượng tọa trong Phật giáo (như Hòa thượng Thích Nhất Hạnh với tư tưởng “Hữu bùn hữu sen”) thường trích/mượn làm đề tài thuyết pháp về lẽ vô thường, giác ngộ và sự chuyển hóa tâm thức. Giác ngộ không nằm ở một thế giới xa xôi mà nằm trong việc thấu hiểu và chuyển hóa những khó khăn của cuộc sống.
Sau này anh BS nói với tôi “tôi với ông Nguyễn Huy Thiệp quen nhau hơn 40 năm… nhưng rất khác là khác nhau, hình như cái khác nhau thì hút nhau, thí dụ với ông Thiệp thì tôi là người: vô sở cầu, ông Thiệp là người “hữu sở cầu”. Ông Thiệp làm việc gì phải có mục đích, có ý nghĩa, tôi làm việc không cần có mục đích, không có ý nghĩa hay tôi nghĩ ta như mây trắng giữa trời, ngắm nhìn thiên hạ đang ngồi máy bay, tôi nghĩ tôi là mây trắng bay giữa trời, ông Thiệp là người đi máy bay.”
Bề ngoài Bảo Sinh là người đơn giản nhưng có óc quan sát tinh tế, chiêm nghiệm sâu xa và hiểu đời sâu sắc.
Đi đái thì đứng giữa đường, Hôn nhau lại nấp sau tường để che.
Lời nịnh như gái sờ cu, Lời thật như cắt khối u trong người.
Chúng ta không sợ kẻ thù, Chúng ta chỉ sợ con cu của mình.
Là người không câu nệ lễ nghi nên dù lạ hay quen, ai cũng đều có thể ngồi nhâm nhi chén trà, bàn chuyện thi ca đọc cho nhau nghe những vần thơ để rồi cùng cười tan cả không gian. Đôi khi ông cũng chỉ trầm ngâm, ngồi nghe bạn bày tỏ nỗi lòng.
Là người đa tài nhưng cũng lắm tật. Thơ ông có nhiều thể loại, từ tình yêu nam nữ, đến thế sự, chọc ghẹo cuộc đời bằng ngôn ngữ có khi thanh tao mà cũng lắm khi trần tục, thơ chó mèo, người ngợm, ma ma phật phật… cả một thế giới thi ca kỳ lạ xưa nay hiếm thấy.
Khi yêu cái xích dưới chân/ Thì xiềng xích ấy là thần Tự do!’,
–Có người rất ghét tivi, Được đưa lên sóng đi khoe rầm trời
“Tự trói thì gọi là tu/ Bị trói thì gọi là tù mọt gông!”,
Anh hùng bất khuất trần ai/Vợ đánh cũng quyết không khai ra bồ
Vô đề
-Hoàng đế khi đã ngồi tù, Cai ngục chỉ gọi là đồ phạm nhân
-Đã vào đến động mại dâm,Ông lão cứ được gọi nhầm là anh
Gia nhập vê kép tê ô (WTO),
Xuất tinh thì ít, xuất thô thì nhiều
Giao lưu văn hoá đã nhiều
Giao mà không hợp bao nhiêu cũng thừa
-Gần chùa gọi bụt bằng anh,
Anh hùng nhìn mãi cũng thành thường thôi.
Lên chùa: Vào chùa lễ phật thấy sư, Người người cúi lạy chiếc lư hương đồng
Miệng cầu sắc sắc không không Đầy trời sắc, thế còn không đâu rồi
Có thể nói là sau này nhờ mạng internet rất nhiều người từ Nam chí Bắc đều biết thơ BS. Một đời thơ có bao người chỉ mong có một vài câu thơ được đi vào trí nhớ người đời còn anh thì thơ được người ta thuộc là vô số kể. Nhưng anh luôn hài hước và không bao giờ tự kiêu hay màu mè:
Những cái nghĩ mãi mới ra
Đều là những cái người ta nghĩ rồi
Những cái nghĩ mãi trên đời
Khi ta nghĩ lại khác người nghĩ ta
*
Trong nhiều trang viết của tôi cũng thường trích thơ BS mà tôi nhắc lại:
Từ tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa, khi gia đình nhân vật Gấm bị sa cơ và người thân hất hủi:
-Vì yêu tha thiết con người,
Cho nên mới lánh về nơi không người.
Quạnh hiu ngay giữa đất trời,
Còn hơn hiu quạnh giữa người thân thương.
-Rồi sẽ biết ít nhiều đều là đủ.
Trẻ hay già vô nghĩa trước mai sau
Vua ôm ấp bao cung tần mỹ nữ
Có khác gì người cùng khổ yêu nhau.
Còn từ bài Đò ngang tôi đã lấy ý để là tựa tập truyện ngắn tản văn: Milano Saigon đang về hay sang:
Một chuyến đò ngang
Cùng chung một chuyến đò ngang
Kẻ thì sang bến người đang trở về
Lái đò lái mãi thành mê
Sang về chẳng biết mình về hay sang
Và Thiên tài cùng với thằng điên,
Cách nhau chỉ một đường biên mơ hồ
Hồng nhan bạc mệnh đa truân
Sao ai cũng muốn mỹ nhân là mình
Ngu si được hưởng thái bình
Chẳng ai lại muốn để mình ngu si.
Về định mệnh trong tiểu thuyết Trò chuyện với thiên thần:
Chạy ngược trên chiếc thuyền xuôi,
Thì ta vẫn cứ phải trôi theo thuyền
-Tìm nơi không khóc bao giờ
Họa chăng chết xuống hồn mơ lên trời
Tìm người chỉ biết có cười
Họa chăng chỉ thấy ở người đang điên
-Đời người như tốt qua sông
Tiến ngang, tiến dọc chứ không được lùi.
Nhưng sự đồng cảm lớn nhất giữa tôi và BS chính là cái chết.
Cuối cùng tất cả chúng ta
Đều lên nóc tủ ngắm gà khỏa thân.
Thứ nhất chết ở chiến trường
Thứ nhì chết ở trên giường mỹ nhân
LÀM TÌNH PHẢI LÀM TỪ TỪ
QUY TIÊN CƯỠI HẠC PHẢI VÙ THẬT MAU
Hay CỐ BIẾT NGÀY CHẾT CỦA MÌNH
XEM NHƯ ĐÃ BỊ TỬ HÌNH KHAI ĐAO.
Thú thật khi đọc hai câu này tôi đã giật mình và liên liên tưởng ngay đến truyện ngắn “Equivalenza” (tương đương) của nhà văn Ý Dino Buzzati.
***
Thưa bạn đọc, đây không phải bài viết nhận định /phê bình – Tôi viết để thể hiện tình cảm quý mến với nhà thơ Nguyễn Bảo Sinh và cũng để giới thiệu những câu thơ “độc đáo” của anh mà tôi đã đọc, đã thuộc, đã cảm, đã vui, đã ngẫm nghĩ hay bật cười sang sảng trong hơn 20 năm trời.
Thực ra ý định viết đã có từ vài năm nay nhưng tôi cứ lần lữa mãi. Chỉ đến gần đây khi tình cờ đọc trên FB của anh:
Phiêu du tuổi 90
Một chân đứng mép trần gian
Một chân bước xuống suối vàng lãng du
Âm dương hai cõi thiên thu phiêu bồng
Thì tôi mới giật nẩy mình, năm nay anh đã đến tuổi 90, nếu bây giờ không viết thì đợi đến bao giờ nữa? Tất nhiên là tôi biết gia đình anh có gene sống thọ, có bà mẹ minh mẫn và mất ở tuổi 105!
Thừa hưởng tài năng của cha, là một người cực kỳ yêu thơ và là người vẽ truyền thần đầu tiên ở Hà thành. Sáng sáng cụ thường ra Bờ Hồ đi bộ vài vòng cho giãn xương giãn cốt rồi sau đó mới tập hợp các cụ ông cụ bà tới nghe cụ đọc thơ và trả tiền nghe thơ. Cụ gọi đó là tiền… nhuận tai.
Với những người khen hay, đúng ý cụ, bao giờ cũng được hưởng nhuận tai nhiều gấp đôi gấp ba người khác, chỉ biết nghe mà không biết bình luận hoặc nói linh tinh (kiểu những người đọc thơ đăng trên Facebook, không viết được chữ nào mà chỉ thả các bông hoa hay icone nhảy múa với chữ “Toẹt Vời” to đùng… thật không hợp thi ca chút nào!)
Nguyễn Bảo Sinh là một “quái kiệt” hiếm có của thi đàn Việt Nam, người đưa chất triết lý Thiền học và cái nhìn dân gian sắc sảo vào thể thơ lục bát truyền thống.
Có thể nói thơ ông là sự hòa trộn giữa tư tưởng Thiền tông Phật giáo với lối nói ví von, hóm hỉnh của đời sống bình dân. Ai nghe thơ ông cũng hiểu vì ông nói về những quy luật nhân sinh phức tạp bằng ngôn ngữ giản dị, bất ngờ:
-Đời là bể khổ mênh mông
Sao ai cũng muốn sống trong bể đời
Quy tiên là được lên trời
Sao ai cũng muốn sống đời trần gian
– Không mong đến, chẳng cầu đi/ Không phân khôn dại, còn chi để buồn .
Tâm như nước chảy trên nguồn, Soi hình tạo hoá mà không lưu hình .
-Nếu trăng cũng chết như đời
Thì ta đâu thấy kiếp người phù du
Vì trăng sống mãi ngàn thu
Cho nên càng thấy phù du kiếp người
Nguyễn Bảo Sinh nổi tiếng với những câu thơ lục bát ngắn gọn, và biến thể thơ vốn mang tính trữ tình, ngẫm ngợi thành một công cụ sắc bén để châm biếm, luận đời và giải phẫu tâm lý con người.
Có người nói thơ Nguyễn Bảo Sinh vừa thực vừa ….hư. (hư này có luôn cả nghĩa hư hỏng nhưng…. đầy nhân bản)
-Ái tình nếu uống đủ liều
Loài người sẽ thoát khỏi điều tà dâm
Ai ai cũng sống khoả thân
Mặc quần sẽ lại khiêu dâm mọi người”
– Phi công trẻ lái bà già…không ngờ bà cụ lại là phi công..
–Bởi em tụt quần quá nhanh, nếu mà tụt chậm đã thành…phu nhân…
-Sống mà phải xã giao nhiều, Mệt hơn phò phạch phải chiều lắm anh.
-Ngày xưa kéo pháo qua đồi/ Nay không kéo nổi qua đùi chị em.
-Sướng nhất chết ở chiến trường/Sướng nhì chết ở trên giường mỹ nhân.
Nguyễn Bảo Sinh bước vào đời như một tiên ông đứng trên cao với nụ cười hóm hỉnh để cười nhạo lũ người dưới trần gian. Nói thẳng băng, mỉa mai, châm chích không e ngại hay sợ hãi.. cứ đủng đỉnh dùng thơ để giải thoát khỏi những ràng buộc tâm lý và dùng thơ để tự giải phóng mình để có được sự tự do tuyệt đối trong tâm hồn.
Nhớ ngày trước, năm 82 tuổi ông đã viết sinh nhật tự trào:
Ta tuy tuổi mới tám hai
Mà coi như đã sống vài trăm năm
Còn hơn ối kẻ trăm năm
Sống thật chỉ được tính bằng phút giây.
Cười chút thôi, chứ BS không tự phụ
Mình ngu nhiều kẻ ngu hơn, Cho nên được gọi là khôn hơn người.
Nhưng ông cũng biết là sống trong cõi nhân sinh nhốn nháo, thế nào rồi mình cũng sẽ bị lây nhiễm:
Tôi đi cuối đất cùng trời,Tìm mua thuốc ngộ chữa người đang mê
Tôi đi thủy tận sơn khê, Chữa cho người ngộ ta mê thật rồi
Là người rất hiểu nhân tình thế thái:
Càng hiểu được nhiều người, Càng khó tìm được một người hiểu ta.
Đến khi tuyệt đỉnh vinh hoa, Ngoảnh đầu nhìn lại – Toàn là hư vô..
Hay
Tuyệt đỉnh vinh quang tận cùng cay đắng,
Khi quay nhìn không một bóng thân thương.
Suốt một đời thơ, Bs đã để lại một gia tài thi ca đồ sộ và bài viết này khá dài nhưng tôi biết mình không thể nào trích dẫn cho đầy đủ được. Thôi thì cố gắng làm hết sức, đến đâu hay đến đó.
Trong thơ Nguyễn Bảo Sinh có đủ vị cay đắng ngọt bùi. Ông nói về sự vô thường, cái chết, và lòng tham của con người bằng thái độ thản nhiên, nhẹ nhàng. Đọc những câu thơ của ông, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận và đa sắc màu về con người và cuộc sống. Thơ ông viết là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là tự vấn, nhìn lại chính mình.
Tuy cười cười nói nói nhưng trong sâu thẳm, Nguyễn Bảo Sinh là một người nhạy cảm và cô đơn, hai thứ thường đi kèm với những người chọn sự trung thành với chính bản thân. Đó là trận chiến quan trọng nhất của cuộc đời.
Nhưng có lẽ có một câu hỏi cần được đặt ra là: Vậy di sản mà sau này ông để lại là gì? Theo tôi hiểu thì đó không phải là của cải, tài sản hay quyền lực mà là hành trình của một cuộc đời cố gắng níu giữ lương tâm như con người thật của mình. Tất nhiên trong con người thực đó có cả điều tốt lẫn điều không hay, vì cuộc đời ai mà không có những vết thương, những hy vọng, những sai lầm, và tôi tin là sự minh triết thường không đến từ những thành tựu mà xuất phát từ những vết thương, thứ nhiên liệu đã giúp ta học được cách sống mà không để trái tim mình hóa đá để có thể chấp nhận và cảm thông nỗi đau của người khác tốt hơn.
Để chấm dứt, mời các bạn nhìn nụ cười hóm hỉnh của BS khi khuyên những người “đang cúi lạy chiếc lư hương đồng”:
Đi chùa nên tránh lúc đông
Sợ nhiều người quá Phật không thấy mình
Rồi nghe ông cười ha hả, như tiên ông ngồi trên mây cúi xuống trần gian để nói chuyện vuông tròn, vũ trụ:
Ngày xưa trái đất hình vuông
Cho nên đi đứng trên đường thẳng hơn.
Bây giờ trái đất hình tròn
Cho nên bao kẻ lom khom định bò.
Viết đến đây tôi như đang nghe tiếng cười sang sảng của nhà thơ đang nhìn xuống lũ người mang mặt nạ, lom khom bò cho hết cuộc tồn sinh của mình.
TVD
Sidney 8-2026



