08/12/2015
Hoài Nam: NHỮNG CA KHÚC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT(43)-MY WAY (Dòng Đời – Đường Đời), Claude François & Jacques Revaux, Paul Anka

clip_image001

Tiếp tục giới thiệu những ca khúc điển hình trong nền nhạc phổ thông được đặt lời Việt, kỳ này chúng tôi viết về bản My Way, được Nam Lộc đặt lời Việt với tựa Dòng Đời, và hai tác giả Nguyễn Đăng Hưng & Lê Ngọc Dũng với tựa Đường Đời.

My Way có xuất xứ khá giống bản Seasons in the Sun đã được giới thiệu trong kỳ trước: cả hai đều là ca khúc nguyên tác tiếng Pháp được các công dân Mỹ và Gia-nã-đại đặt lời Anh và thu đĩa; có khác chăng chỉ là trong khi Seasons in the Sun được nhạc sĩ Mỹ đặt lời, ca sĩ Gia-nã-đại thu đĩa thì My Way được nhạc sĩ Gia-nã-đại đặt lời, ca sĩ Mỹ thu đĩa.

[Theo thứ tự thời gian phát hành đĩa nhạc, lẽ ra chúng tôi phải viết về MY WAY (1969) trước SEASONS IN THE SUN (1974). Thành thật cáo lỗi cùng quý độc giả về sơ xuất này]

My Way nguyên là bản Comme d’habitude của hai tác giả Pháp Claude FrançoisJacques Revaux, được Paul Anka đặt lời Anh, và Frank Sinatra thu đĩa cuối năm 1968. Mặc dù chỉ lên tới hạng 6 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, My Way đã trở thành ca khúc “cầu chứng” của chàng ca sĩ Mỹ có biệt hiệu “Ol’ Blue Eyes”, và cho tới nay vẫn đứng hạng nhì trong danh sách những ca khúc của mọi thời đại được nhiều ca sĩ thu đĩa nhất, chỉ sau bản Yesterday của ban The Beatles.

Trước hết, xin có đôi dòng về tác giả nguyên tác tiếng Pháp: Claude François Jaques Revaux.

Jacques Revaux

clip_image003

France Gall và Claude François 

Jacques Revaux, sinh năm 1940, là một nhà viết ca khúc người Pháp. Ngoài bản Comme d’habitude viết chung với Claude François, ông còn là tác giả nhiều ca khúc ăn khách của nam ca sĩ Pháp Michel Sardou. Jacques Revaux cũng là người đồng sáng lập hãng đĩa Tremma Records, ngày nay là một chi nhánh của hãng đĩa Universal Music France.

Về phần Claude François (1939-1978) mà chúng tôi đã nhắc tới trong bài viết về ca khúc Donna Donna được anh đặt lời Pháp, là một trong những tên tuổi được ái mộ nhất tại Pháp và các quốc gia nói tiếng Pháp trong hai thập niên 1960, 1970, chỉ đứng sau Johnny Halliday.

Claude François ra chào đời tại Ai-cập, là con trai độc nhất trong một gia đình trung lưu gồm hai chị em. Cha cậu là một người gốc Pháp, làm quản đốc trong Công ty kênh đào Suez của Anh-Pháp, mẹ cậu, một người gốc Ý yêu nhạc cổ điển nên đã cho cậu học dương cầm và vĩ cầm từ nhỏ, tuy nhiên cậu chỉ say mê đánh trống!

Năm 1956, xảy ra vụ khủng hoảng kinh đào Suez (Ai-cập quốc hữu hóa kinh đào này), ông bố đưa gia đình chạy về Monaco, rồi lâm bệnh không thể làm việc. Là người con trai duy nhất trong gia đình, tuy mới 17 tuổi, Claude François phải tìm việc làm: ban ngày làm thư ký ngân hàng, ban đêm chơi trống trong ban nhạc tại các khách sạn ở vùng nghỉ mát French Riviera (Côte d’Azur) bên bờ Địa trung hải.

Thỉnh thoảng, Claude François cũng hát cho vui, không ngờ cái giọng mũi của chàng lại được nhiều người cho là độc đáo, và được mời hát thường trực tại một khách sạn ở thị trấn nghỉ mát Juan-les-Pin. Với số người ái mộ ngày đông, ít lâu sau, Claude François đã được mời trình diễn tại các hộp đêm sang trọng trong vùng, và qua năm 1957 quyết định bỏ hẳn nghề thư ký ngân hàng để chọn nghiệp cầm ca, bất chấp sự phản đối kịch liệt của ông bố.

Năm 1959, trong thời gian trình diễn tại Monte Carlo (tiểu vương quốc Monaco), kinh đô cờ bạc của Âu châu, Claude François gặp gỡ Janet Woollacott, một vũ công gốc Anh xinh đẹp, và qua năm 1960, hai người kết hôn.

Cũng tại Monte Carlo, Claude François được nhiều người khuyên lên Paris thử thời vận, và chàng nghe theo. Lúc đó, năm 1960, thể loại “rock and roll” của Mỹ bắt đầu làm mưa gió tại Âu châu, Claude François vừa hát cho một ban nhạc nọ để kiếm sống vừa dành dụm tiền bạc để tự thu đĩa một số ca khúc “thời trang” của Mỹ do chàng đặt lời Pháp. Đĩa thứ nhất, The Twist, thất bại thê thảm, nhưng đĩa thứ hai, Made to Love (Girls Girls Girls), thu cuối năm 1962, thành công ngoài sức tưởng tượng.

Trong khi nguyên tác Made to Love (Girls Girls Girls) do Everly Brothers thu đĩa chỉ lên tới hạng 14 trong Billboard Hot 100 ở Hoa Kỳ thì phiên bản lời Pháp của Claude François với tựa Belles Belles Belles đã lên No.1 tại Pháp, bán được trên 2 triệu đĩa, và một sớm một chiều biến chàng thành một thần tượng trẻ.

Chỉ có điều đáng tiếc là cô vợ Janet Woollacott hơi thiếu kiên nhẫn: hai tuần trước khi Belles Belles Belles được phát hành, nàng đã bỏ chồng để đi theo Gilbert Bécaud, đệ nhất danh ca của Pháp đương thời.

[Gilbert Bécaud (1927-2001), xuất thân là một nhạc sĩ dương cầm được nữ danh ca Édith Piaf khám phá, sau trở thành danh ca kiêm diễn viên kiêm nhà soạn nhạc và nhà viết ca khúc nổi tiếng. Một trong những ca khúc nổi tiếng quốc tế của Gilbert Bécaud là “Et Maintenant”, được đặt lời Anh với tựa “What Now My Love”]

Niềm cay đắng bị vợ bỏ sau đó đã được Claude François gửi gấm qua ca khúc Je Sais (Anh biết) năm 1964.

Cũng trong năm 1964, Claude François bắt đầu cặp với France Gall, cô bé 17 tuổi mà qua năm 1965 sẽ đoạt giải Eurovision (giải Ca khúc Âu châu) với bản Poupée de cire Poupée de son (lời Việt: Búp bê không tình yêu).

Tuy nhiên, mối tình được xem là lý tưởng trong làng ca nhạc Pháp ấy lại không suôn sẻ, có lẽ do hai người không hợp tính nhau. Năm 1967, Claude François vừa hoàn tất thủ tục ly dị cô vợ Janet Woollacott xong thì người tình France Gall cũng bỏ ra đi. Claude François sáng tác ca khúc Comme d’habitude (As usual – Như thường lệ) thay cho lời giải thích về nguyên nhân tan vỡ của cuộc tình: sống bên nhau nhưng không còn những khao khát, say mê, quan tâm, tận tụy, mong chờ… Mỗi ngày, cuộc sống nhàm chán ấy diễn ra, …như thường lệ!

 

clip_image005

 

Phụ lục (1): Comme d’habitude, Claude François

Năm 1968, trong thời gian nghỉ hè ở miền Nam nước Pháp, Paul Anka nghe được bản Comme d’habitude qua làn sóng điện, thấy “âm điệu hay hay” (lời Paul Anka) liền bay lên Paris gặp các tác giả để thương lượng tác quyền.

Vì Paul Anka chỉ muốn sử dụng phần nhạc, các tác giả đã lấy tượng trưng 1 đô-la Mỹ kèm theo điều kiện: trong tương lai, một khi Paul Anka sử dụng phần nhạc này vào bất cứ việc gì mang tính cách thương mại, các tác giả sẽ được chia tiền lời.

Qua tay Paul Anka, mấy tháng sau, Comme d’habitude trở thành My Way.

Tới đây, xin viết về Paul Anka. Tính cho tới nay, Paul Anka vẫn được xem là nghệ sĩ lớn nhất gốc Gia-nã-đại (ông nhập tịch Mỹ năm 1990), thành công trong cả lĩnh vực ca nhạc lẫn điện ảnh, truyền hình.

Sinh năm 1941 tại Gia-nã-đại, cha mẹ là di dân gốc Lebanese và Syrian, tới năm 16 tuổi, Paul Anka đã nổi tiếng khắp thế giới với bản Diana do chàng sáng tác và thu đĩa, đứng No.1 tại Gia-nã-đại, Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc-đại-lợi… mà chúng tôi đã giới thiệu trước đây. Tiếp theo là các bản Lonely Boy, Put Your Head on My Shoulder, Having My Baby…

Năm 1962, Paul Anka bắt đầu sự nghiệp diễn xuất với một vai trong cuốn phim vĩ đại The Longest Day, kể về cuộc đổ bộ của Đồng Minh lên vùng Normandy, Pháp quốc, trong Đệ nhị Thế chiến; đồng thời viết và hát ca khúc có cùng tựa trong cuốn phim này.

Video:

The Longest Day by Paul Anka

Về những ca khúc Paul Anka viết cho các nghệ sĩ bạn thu đĩa, trước My Way She’s a Lady, ca khúc đã đem lại đĩa vàng cho nam ca sĩ Anh Tom Jones. Bước sang thập niên 1980, Paul Anka đã viết chung với Michael Jackson ít nhất hai ca khúc: This Is It Love Never Felt Soo Good.

Sức thu hút của những ca khúc do Paul Anka sáng tác không chỉ ở giai điệu mà còn qua lời hát: đơn giản, dễ hiểu, tác động mạnh nơi đối tượng thưởng thức. Xin lấy bản Papa do Paul Anka viết và thu đĩa năm 1974 làm thí dụ điển hình.

Papa

Everyday my papa would work
To try to make ends meet
To see that we would eat
Keep those shoes upon my feet
Every night my papa would take me
And tuck me in my bed
Kiss me on my head
After all my prayers were said
And there were years
Of sadness and of tears
Through it all
Together we were strong
We were strong
Times were rough
But Papa he was tough
Mama stood beside him all along
Growing up with them was easy
The time had flew on by
The years began to fly
They aged and so did I
And I could tell
That mama she wasn’t well
Papa knew and deep down so did she
So did she
When she died
Papa broke down and he cried
And all he could say was, “God, why her? Take me!”
Everyday he sat there sleeping in a rocking chair
He never went upstais
Because she wasn’t there
Then one day my Papa said,
“Son, I’m proud of how you’ve grown”
He said, “Go out and make it on your own.
Don’t worry. I’m O.K. alone.”
He said, “There are things that you must do”
He said, “There’s places you must see”
And his eyes were sad as he
As he said goodbye to me
Every time I kess my children
Papa’s words ring true
He said, “Children live through you.
Let them grow! They’ll leave you, too”
I remember every word Papa used to say
I kiss my kids and pray
That they’ll think of me
Oh how I pray
They will think of me
That way
Someday

clip_image007

Phụ lục (2): Papa, Anka Paul

Video:

Lê Toàn – Cha Tôi (Papa)

Ít lâu sau cuộc thương lượng tác quyền Comme d’habitude, Paul Anka có dịp ăn tối với Frank Sinatra, hiện diện còn có vài “Bố già”. Trong bữa ăn, Frank Sinatra, khi ấy mới hơn 52 tuổi, nói: “Tôi sắp giải nghệ đây. Tôi mệt mỏi lắm rồi”.

Câu nói của Frank Sinatra đã ám ảnh Paul Anka; và đêm hôm ấy anh quyết định đặt lời Anh cho bản Comme d’habitude với chủ đề “the end is near” để Frank Sinatra thu đĩa. Kết quả là ca khúc My Way, nội dung là lời một người đàn ông luống tuổi cảm khái hồi tưởng lại đời mình, không một chút ân hận nuối tiếc về việc mình đã sống như thế nào, bởi ông đã sống một cuộc đời thật trọn vẹn, và tất cả những gì ông đã làm, đều làm theo ý mình, theo cung cách riêng của mình.

Sau này, trước thành công của My Way do Frank Sinatra thu đĩa, ông bầu và chủ hãng đĩa của Paul Anka đã không tiếc lời chê chàng… ngu: một ca khúc hay như thế mà không chịu thu đĩa lại giao cho người khác. Paul Anka trả lời:

“Ca khúc này tôi viết về Frank (Sinatra) và chỉ để Frank thu đĩa chứ không nhắm bất cứ một ca sĩ nào khác!”

Muốn biết tại sao Paul Anka lại viết My Way riêng cho Frank Sinatra, xin có đôi hàng về con người, đường đời và sự nghiệp của chàng ca sĩ có biệt hiệu “Ol’ Blue Eyes”.

Frank Sinatra tên thật là Francis Albert Sinatra, ra chào đời ngày 12/12/1915 tại Hoboken, New Jersey, cha mẹ là di dân gốc Ý theo Công giáo. Năm 15 tuổi, Frank Sinatra bỏ học, lúc đầu đi bỏ báo, về sau làm thợ tán đinh (riveting). Vừa đi làm, Frank Sinatra vừa tập tành ca hát. Năm 20 tuổi, Frank gia nhập ban tứ ca The Hoboken Four.

Sau khi đoạt giải nhất của Major Bowes Amateur Hour, phát sóng trên hai hệ thống NBC và CBS, The Hoboken Four được ký một hợp đồng 6 tháng trình diễn trên sân khấu và đài phát thanh toàn quốc. Một năm sau, Frank Sinatra rời ban The Hoboken Four để hát cho nhiều ban nhạc nổi tiếng khác nhau, được lọt vào Top 10 của Billboard tổng cộng 23 lần.

Năm 1943, Frank Sinatra quyết định tách ra hát solo, ký hợp đồng với hãng Columbia Records, và từ đó tên tuổi của ông lên vùn vụt, qua những ca khúc bất hủ như White Christmas, You’ll Never Walk Alone, More, I Can’t Stop Loving You, The Girl from Ipanema, Strangers in the Night, v.v…

Frank Sinatra thu phục được cả thính giả yêu nhạc jazz lẫn thính giả thích nhạc pop. Ông được các nhà phê bình tặng biệt hiệu “The Voice” vì hội đủ cả bốn yếu tố: giọng hát đặc biệt, kỹ thuật hát, nghệ thuật hát, và cảm xúc thực sự khi trình diễn.

Lấy bản Strangers in the Night làm thí dụ điển hình. Phần nhạc của ca khúc này nguyên là một nhạc khúc có tựa đề là “Beddy Bye”, trích trong phần nhạc đệm của cuốn phim hài kịch A Man Could Get Killed, do nhạc sĩ gốc Đức Bert Laempfert soạn. Nhận xét một cách tổng quát, phần nhạc đệm của cuốn phim này cũng không có gì nổi bật, nhưng sau khi nhạc khúc “Beddy Bye” được hai nhà viết ca khúc của Mỹ là Charles Singleton, Eddie Snyder đặt lời hát với tựa Strangers in the Night, Ernie Freeman soạn hòa âm phối khí, và được Frank Sinatra thu đĩa, đã trở thành một khuôn mẫu điển hình nhất của nền nhạc nhẹ (easy listening).

Strangers in the Night đứng No.1 trên cả bảng xếp hạng Easy Listening lẫn Billboard Hot 100 (tính mọi thể loại), đồng thời cũng lên No.1 tại Anh quốc. Album Strangers in the Night (trong đó có ca khúc này) đã trở thành album bán chạy nhất trong sự nghiệp đơn ca của Frank Sinatra.

Trong giải âm nhạc Grammy năm 1967, Strangers in the Night đã

mang lại cho Frank Sinatra hai giải thưởng Nam ca sĩ trong năm và Đĩa nhạc trong năm, đồng thời cũng đem giải Grammy về hòa âm phối khí cho nhạc trưởng Ernie Freeman.

Chính qua bản Strangers in the Night, Frank Sinatra đã được nhà phê bình âm nhạc đương đại uy tín bậc nhất (biệt hiệu “Dean of American Rock Critics”) Robert Christgau xưng tụng là “ca sĩ số một của thế kỷ 20”.

Phụ lục (3): Strangers in the Night, Frank Sinatra

Về diễn xuất, khởi nghiệp từ năm 1944, Frank Sinatra đã xuất hiện trong gần 50 cuốn phim điện ảnh và vô số show truyền hình, trong đó đáng kể nhất phải là vai anh binh nhì Angelo Maggio du côn nhưng chí tình với bạn trong phim From Here to Eternity (1953), ngày ấy chiếu ở Sài Gòn dưới tựa tiếng Pháp Tant qu’il y aura des hommes, tựa tiếng Việt là Thói Đời; vai trò này đã đem lại cho Frank Sinatra giải Oscar diễn xuất trong vai phụ.

Trong sự nghiệp của mình, ngoài 13 giải âm nhạc Grammy, Frank Sinatra đã được trao tặng tổng cộng giải 4 Oscar (diễn xuất, soạn nhạc, và hát), 2 giải truyền hình Emmy, 3 giải Trái Cầu Vàng, và nhiều giải thưởng quan trọng khác.

Về phương diện quốc gia, năm 1983, Frank Sinatra được trao tặng giải Kennedy Center Honors dành cho những nghệ sĩ trọn đời cống hiến cho nền văn hóa Mỹ; năm 1985, giải Presidential Medal of Freedom do Tổng thống Reagan trao tặng; và năm 1997, giải Congressional Gold Medal của Quốc hội Hoa Kỳ.

Frank Sinatra còn được xem là nghệ sĩ có thế lực nhất ở Hoa Kỳ do những giao kết của mình. Ông là lãnh tụ của nhóm “Rat Pack”, còn gọi là “đảng Frankie”, quy tụ nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như Dean Martin, Sammy Davis Jnr., Peter Lawford (em rể TT Kennedy), Angie Dickinson… Nhóm này thường liên kết trong việc trình diễn và đóng phim; trong số đó có cuốn phim nổi tiếng Ocean’s 11 (tựa tiếng Việt: 11 Tên trộm ở Las Vegas) năm 1960, sau này được George Clooney và Brad Pitt thực hiện lại cũng rất ăn khách.

Nhiều người tin rằng trong cuộc tranh cử Tổng thống năm 1960, ảnh hưởng của “đảng Frankie” đã góp một phần không nhỏ vào chiến thắng của ông John F. Kennedy trước đối thủ Richard Nixon của đảng Cộng Hòa!

Thế nhưng tới năm 1970, mặc dù vẫn giữ đảng tịch Dân Chủ, Frank Sinatra bắt đầu thay đổi lập trường chính trị qua việc ủng hộ ông Ronald Reagan của đảng Cộng Hòa tái tranh cử chức Thống đốc California. Tháng 7 năm 1972, sau một đời ủng hộ các ứng cử viên tổng thống Dân Chủ, Frank Sinatra đã bỏ rơi Thượng nghị sĩ George McGovern vì lập trường thiên tả của ông ta, để quay sang ủng hộ ưng cử viên Richard Nixon của đảng Cộng Hòa.

Ông nói với cô con gái út Tina, người đang hết lòng vận cho TNS McGovern: “Càng thêm tuổi đời, người ta càng trở nên bảo thủ”.

Từ đó, Frank Sinatra trở thành người của Cộng Hòa.

REAGANTổng thống Ronald Reagan, Frank Sinatra và Nancy Reagan

 

* * *

Nhưng Frank Sinatra không chỉ giao kết với các chính khách, với các nhà lãnh đạo, mà còn quan hệ cả với các “Bố già Mafia” (xin nhắc lại: Frank Sinatra là người gốc Ý).

Nhiều người tin rằng nhân vật John “Johnny” Fontane trong bộ truyện “The Godfather” (Bố già) của văn sĩ Mario Puzo chính là Frank Sinatra ở ngoài đời.

[Trong bộ truyện “The Godfather”, Johnny Fontane là một nam ca sĩ kiêm diễn viên, con đỡ đầu của Bố già Vito Corleone. Vì thế, ngoài việc giúp vốn cho Johnny Fontane mở một hãng phim riêng, gia đình Mafia này còn nhiều lần sử dụng áp lực, thậm chí bạo lực, để Johnny được trao tặng các giải thưởng, trong đó có giải thưởng điện ảnh Oscar. Khi bộ truyện này được đạo diễn kiêm nhà sản xuất phim Mỹ gốc Ý Francis Ford Coppola dựng thành phim vào năm 1972, vì những “nguyên nhân tế nhị” , Johnny Fontane đã trở thành một nhân vật thứ yếu, và không còn nhiều điểm giống Frank Sinatra như trong bộ truyện nữa]

Về phần văn sĩ Mario Puzo, trước những tin đồn nhân vật Johnny Fontane chính là Frank Sinatra, ông chưa bao giờ lên tiếng xác nhận, nhưng cũng chưa bao giờ… phủ nhận!

Riêng FBI cho biết họ có lưu trữ những tài liệu về quan hệ giữa Frank Sinatra và các bố già Mafia, nhưng không tiết lộ gì thêm.

[Năm 1998, trước yêu cầu của công luận chiếu theo đạo luật Freedom of Information Act, FBI đã phải công bố 2.403 trang tài liệu về Frank Sinatra mà họ lưu trữ. Qua những gì được công bố, người ta có thể kết luận Frank Sinatra đã có quan hệ cá nhân với một số “Bố già” Mafia, nhưng không liên đới trong các hoạt động của giới này. Ngược lại, theo nội dung một lá thư của ông Clyde Tolson, người từng giữ chức Phụ tá Giám đốc FBI, trong cuộc điều tra của nhà chức trách về sự thâm nhập của Mafia vào kỹ nghệ giải trí trong thập niên 1950, Frank Sinatra còn tình nguyện làm mật báo viên (informer) cho FBI]

Về tính tình, Frank Sinatra cũng được mô tả là một con người khác thường. Với thế hệ đàn em, trong khi ca tụng (và thu đĩa) ca khúc Something của The Beatles (do George Harrison sáng tác) là “một trong những tình khúc hay nhất xưa nay” thì khi gặp ban The Rolling Stones trong thang máy, ông đã quay mặt đi chỗ khác.

Với các phóng viên, ông thường dành cho họ nhiều ác cảm. Frank Sinatra cũng bị nhiều người hầu bàn xem là “hung thần”; có lần về thăm Ý, ông đã xé nát một tờ giấy bạc 5000 lire (tiền Ý) trước mặt họ!… Và còn nhiều hành động khác của Frank Sinatra khiến ông bị xem là một con người ngang tàng, phách lối.

Nhưng bên cạnh đó, không ai có thể phủ nhận việc Frank Sinatra sống rất có tình, ít nhất cũng là với bè bạn, với những người đàn bà đã đi qua đời mình.

Lấy thí dụ trường hợp nữ minh tinh Ava Gardner.

Ava Gardner (1922-1990), từng được xưng tụng là người đàn bà đẹp nhất thế giới, và hiện nay vẫn nằm trong danh sách 25 nữ minh tinh tài sắc nhất xưa nay, là đời vợ thứ hai của Frank Sinatra (ông là đời chồng thứ ba của bà).

Viết một cách chính xác, Frank Sinatra đã bỏ người vợ đầu tiên (Nancy Barbato) để đi theo Ava Gardner, một “mỹ nhân chết người” (femme fatale) thời bấy giờ. Ava Gardner cũng nổi tiếng là một phụ nữ “khác người”, cho nên cuộc hôn nhân (không con cái) kéo dài 6 năm (1951-1957) giữa hai thần tượng hàng đầu thời bấy giờ đã được mô tả vừa là thiên đường vừa là địa ngục, chưa kể việc bị Giáo hội Công giáo kịch liệt lên án.

Tới đầu thập niên 1970, Ava Gardner bị khủng hoảng tinh thần, bỏ sang Anh sống buông thả, cặp với một tay đấu bò người Tây-ban-nha, rồi sang Úc sống (theo báo Úc, có khi bà say rượu, ngủ cả với tài xế tắc-xi!). Năm 1974, Frank Sinatra (lúc đó đang chung sống với đời vợ thứ tư, Barbara Marx) đã sang Úc trình diễn cốt để gặp vợ cũ, thuyết phục bà trở về Mỹ. Chính trong chuyến đi này, Frank Sinatra đã gây thù chuốc oán với giới truyền thông Úc khi ông mô tả các nữ phóng viên cứ bám theo ông giống như “gái đĩ” (hookers)!

Những năm cuối thập niên 1980, khi Ava Gardner đau yếu và phá sản, chính Frank Sinatra đã “xin phép” bà vợ cũ chằn ăn cho mình được chi trả mọi phí tổn thuốc men, viện phí cho tới ngày bà qua đời.

clip_image010Frank SinatraAva Gardner.

* * *

Bằng đó chất liệu đã quá đủ để Paul Anka viết My Way, viết về Frank Sinatra, viết cho Frank Sinatra.

My Way

And now, the end is near;

And so I face the final curtain.
My friend, I’ll say it clear,
I’ll state my case, of which I’m certain.

I’ve lived a life that’s full.
I’ve traveled each and every highway;
And more, much more than this,
I did it my way.

Regrets, I’ve had a few;
But then again, too few to mention.
I did what I had to do
And saw it through without exemption.

I planned each charted course;
Each careful step along the byway,
And more, much more than this,
I did it my way.

Yes, there were times, I’m sure you knew
When I bit off more than I could chew.
But through it all, when there was doubt,
I ate it up and spit it out.
I faced it all and I stood tall;
And did it my way.

I’ve loved, I’ve laughed and cried.
I’ve had my fill; my share of losing.
And now, as tears subside,
I find it all so amusing.

To think I did all that;
And may I say – not in a shy way,
“Oh no, oh no not me,
I did it my way”.

For what is a man, what has he got?
If not himself, then he has naught.
To say the things he truly feels;
And not the words of one who kneels.
The record shows I took the blows –
And did it my way!

Sau này, tháng 5 năm 1998, khi hay tin Frank Sinatra qua đời, Tổng thống Bill Clinton đã bày tỏ lòng thương tiếc, ngưỡng mộ, và mượn câu hát cuối trong bản My Way để kết luận: He did it. He did it his way!

Phụ lục (4): My Way, Frank Sinatra

 

clip_image012

Video:

Frank Sinatra – “My Way”

Frank Sinatra thu đĩa My Way vào tháng 12/1968 và phát hành đầu năm 1969 trong album có cùng tựa. Nếu chỉ xét về số đĩa hát bán ra cũng như thứ hạng trên các bảng xếp hạng, My Way không thể sánh với Strangers in the Night thu đĩa trước đó 2 năm. My Way chỉ đứng No.2 trên bảng xếp hạng Easy Listening và hạng 27 trong danh sách Billboard Hot 100. Tại Anh quốc, My Way tuy tạo kỷ lục nằm trong Top 40 suốt 75 tuần lễ liên tục, cũng chỉ lên tới hạng 5 là cao nhất.

Thế nhưng với người yêu nhạc khắp nơi trên thế giới, My Way đã được xem là ca khúc mang dấu ấn (signature song) của “Ol’ Blue Eyes”.

Sau này, trong số hàng trăm ca sĩ nổi tiếng thu đĩa My Way, chỉ có một người duy nhất qua mặt Frank Sinatra – nhưng cũng chỉ qua mặt sau khi chết, và nhờ cái chết. Đó là “ông vua nhạc rock” Elvis Presley.

Ngày còn sống, Elvis Presley chưa bao giờ thu đĩa My Way mà chỉ hát “live” trong các buổi trình diễn hoặc show truyền hình, và trước mỗi lần hát, Elvis luôn luôn nói đây là một ca khúc nổi tiếng của Frank Sinatra mà anh yêu thích.

Tháng 9 năm 1977, vài tuần lễ sau khi Elvis Presley chết đột ngột, người ta mới lấy phần âm thanh trong show “Elvis In Concert” chiếu trên CBS-TV trước đó hơn hai tháng, thu vào đĩa hát để phát hành.

Kết quả, My Way của Elvis Presley đã đứng hạng 22 trên bảng Billboard Hot 100 (của Frank Sinatra đứng hạng 27), No.2 trên bảng Billboard Country, và No.1 trên bảng Cash Box Country Singles.

Phụ lục (5): My Way, Elvis Presley

Video:

Elvis Presley ~ My Way (BEAUTIFUL VERSION)

Trở lại với Frank Sinatra, có thể nói, lúc đầu, My Way đã được ông xem như lời từ biệt khán thính giả; năm 1971, ông ngưng tất cả mọi hoạt động về ca nhạc.

Nhưng niềm đam mê ca hát nơi cậu bé bỏ học năm 15 tuổi ngày nào vẫn còn đó: 2 năm sau, “Ol’ Blue Eyes” đổi ý, tiếp tục trình diễn trở lại, thu thêm nhiều album, và đạt thêm nhiều thành công, trong đó đáng kể nhất là bản New York, New York, trích trong cuốn phim có cùng tựa, nằm trong album Triology: Past Present Future (1980).

Frank Sinatra tiếp tục lưu diễn khắp nước Mỹ và nhiều nơi trên thế giới cho tới năm 1996, năm ông bị nhập viện mấy lần vì lên cơn đau tim.

Năm 1998, sau một cơn đau tim nặng, Frank Sinatra qua đời ngày 14 tháng 5, hưởng thọ 82 tuổi. Đêm hôm đó, hệ thống đèn chiếu sáng trên tòa nhà Empire State Building ở New York City đã được đổi sang màu xanh blue, và đèn đường ở Las Vegas đã được giảm độ sáng để tưởng niệm ông.

Tang lễ của Frank Sinatra được cử hành theo nghi thức Công giáo trang trọng nhất tại Thánh đường Good Shepherd ở Beverly Hills, Los Angeles (ông đã “làm hòa với Chúa” – nguyên văn lời ông – vào những năm cuối đời) với hơn 400 nghệ sĩ và hàng nghìn người ái mộ tham dự.

Ông được an táng bên cạnh cha mẹ; trong những thứ mà thân nhân chôn theo ông có kẹo ngậm Life Savers vị “cherry”, chocolate hiệu “Tootsie Rolls”, một chai rượu bourbon Jack Daniel’s, một gói thuốc lá hiệu Camel, một cái hộp quẹt Zippo…

* * *

Sau khi Frank Sinatra qua đời, My Way càng trở nên nổi tiếng, càng có thêm nhiều giai thoại.

Tại Anh quốc, My Way đã trở thành ca khúc được sử dụng nhiều nhất trang các tang lễ.

Tại Đức, trong lần duyệt binh cuối cùng trước lễ bàn giao chức vụ Thủ tướng cho bà Angela Merkel, ông Gerhard Schroder đã sử dụng bản My Way.

My Way còn được đưa vào… chính trường, đó là “Học thuyết Sinatra” (Sinatra Doctrine) với ý nghĩa dí dỏm, vui đùa. Người đầu tiên sử dụng chữ “Sinatra Doctrine” là phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Liên Xô Gennadi Gerasimov, để đối lại “Học thuyết Brezhnev” (Brezhnev Doctrine).

Như những độc giả từng quan tâm theo dõi tình hình chính trị Liên Xô từ thập niên 1960 trở về sau còn nhớ, sau khi lật đổ Tổng Bí thư Đảng CS Liên Xô Nikita Khrushchev và thanh trừng các thành phần “xét lại” vào năm 1964, tân Tổng Bí thư Leonid Brezhnev đã cho xiết chặt sự kìm kẹp đối với các nước cộng sản Đông Âu, tức các quốc gia trong Khối Varsovie (Warsaw Pact); đường lối chính sách này được gọi là “Học thuyết Brezhnev” (Brezhnev Doctrine). Hậu quả, mùa xuân 1968, xe tăng Liên Xô đã tiến vào Prague nghiền nát cuộc nổi dậy của sinh viên Tiệp Khắc…

Nhưng mọi sự đã thay đổi sau khi ông Mikhail Gorbachev lên nắm giữ chức Tổng Bí thư.

Ngày 25 tháng 10 năm 1989, ông Gennadi Gerasimov xuất hiện trên chương trình truyền Good Morning America để tham gia cuộc thảo luận về bài diễn văn quan trọng của Ngoại trưởng Liên Xô Eduard Shevardnadze đọc hai ngày trước đó, nhìn nhận và tôn trọng quyền tự quyết của tất cả mọi quốc gia trên thế giới.

Trong cuộc thảo luận này, ông Gennadi Gerasimov đã phát biểu:

“Ngày nay chúng ta đã có học thuyết Frank Sinatra. Ông ấy có ca khúc ‘Tôi đã làm theo đường lối của tôi’ (I Did It My Way). Như vậy, mọi quốc gia trên thế giới đều có quyền chọn một con đường riêng cho mình”.

Khi được hỏi: có phải điều này có nghĩa là Liên Xô chấp nhận việc các quốc gia Đông Âu từ bỏ chế độ cộng sản, vị phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Liên Xô đã trả lời:

“Đó là một điều chắc chắn…, thể chế chính trị của một quốc gia phải do chính người dân sống ở đó quyết định.”

* * *

Gần đây nhất, trong cuộc triển lãm xe hơi quốc tế Geneva Motor Show năm 2013, hãng xe Volkswagen của Đức đã sử dụng ca khúc My Way do Frank Sintra hát trong phần quảng cáo cho kiểu xe Volkswagen Golf GTI Mk7 nổi tiếng của họ cùng với hàng chữ Often copied, never equalled”; họ giải thích như sau: cũng giống như ca khúc My Way của Frank Sintra, kiểu xe này thường bị nhái lại, nhưng không bao giờ có thể tương đương!

Cuối cùng, viết về bản My Way chúng tôi không thể không nhắc tới một hiện tượng xã hội được gọi là “My Way killings” ở Phi-luật-tân, một quốc gia nói tiếng Anh, nơi mà ca khúc này rất được các nam công dân ưa chuộng, đặc biệt là trong các quán karaoke, nơi giới anh chị thường lên hát và… bắn lộn!

Theo tờ New York Times, cho tới nay người ta cũng chưa thống nhất ý kiến với nhau về nguyên nhân đưa tới hiện tượng xã hội này. Phải chăng vì ý nghĩa “ngang tàng” trong lời hát của My Way, tay anh chị lên hát bị xem là có ý “khiêu khích” đối thủ cho nên mới xảy ra bắn lộn? Hay chẳng qua chỉ vì trong các quán karaoke ở Phi-luật-tân thường xảy ra bắn lộn, và My Way là ca khúc được hát nhiều nhất ở nơi đó, cho nên một người đang hát, hoặc vừa hát xong thì xảy ra bắn lộn chỉ là một sự vô tình trùng hợp?

Nhưng riêng nguyên nhân bị bắn vì hát dở thì đã được chứng minh. Theo trang mạng Wikipedia, vào ngày 29 tháng 5 năm 2007, một thanh niên 29 tuổi đang hát My Way trong một quán karaoke ở San Mateo, tỉnh Rizal, thì bị nhân viên bảo vệ an ninh (security guard) của quán bắn chết tại chỗ. Sau khi bị bắt, nhân viên này khai với cảnh sát rằng anh thanh niên kia hát bản My Way quá dở, vừa trật “tông” vừa sai nhịp, nhân viên này đã mấy lần yêu cầu anh ta ngưng hát nhưng anh ta không chịu, bèn rút súng P.38 bắn chết.

Theo thông tấn xã Anh Reuters, trong những năm trước đó đã xảy ra nhiều vụ bắn chết người liên quan tới My Way, vì thế sau khi xảy thêm vụ năm 2007, đa số các quán karaoke ở thủ đô Manila đã loại bỏ My Way ra khỏi danh sách ca khúc; đồng thời các thanh niên “nhà lành” cũng không mấy người dám hát My Way ở nơi công cộng nữa.

[Trước năm 2007, qua đọc báo Úc chúng tôi cũng được biết một vụ bị bắn chết rất đáng buồn ở Phi-luật-tân chỉ vì hát My Way không “đạt”. Rất đáng buồn bởi nó không xảy ra trong quán karaoke mà trong một đám cưới tại gia. Thủ phạm là một tân khách mê bản My Way do Frank Sinatra hát]

* * *

Trở lại với My Way và Frank Sinatra, vào năm 1993, ông đĩa thu đĩa ca khúc này thêm một lần nữa, hát chung với nam danh ca tenor Ý Luciano Pavarotti trong album Duets, gồm 13 ca khúc do ông hát chung với các ca sĩ thuộc thế hệ đàn em, trở thành album có số bán cao nhất trong sự nghiệp của ông.

Phụ lục (6): My Way, Frank Sinatra & Luciani Pavarotti

Ngày 22 tháng 7 năm 1996, nhân dịp tới trình diễn tại Hoa Kỳ, The Three Tenors (Luciano Pavarotti, Placido Domingo, Jose Carreras) đã hát bản My Way tại vận động trường New York Giants ở East Rutherford, New Jersey. Ngồi hàng ghế đầu có Frank Sinatra, cựu Tổng thống George H. Bush và phu nhân Barbara.

Sau khi The Three Tenors hát xong, Frank Sinatra đã đứng dậy vỗ tay, miệng nói “Bravo!”

Đây là lần cuối cùng, Frank Sinatra xuất hiện trước ống kính truyền hình.

Video:

The 3 Tenors – My Way

Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, My Way của Frank Sinatra không nằm trong số những ca khúc ngoại quốc được ưa chuộng nhiều. Theo suy nghĩ của chúng tôi, nguyên nhân có thể vì lớp thính giả lớn tuổi thích nhạc tình cảm êm dịu đa số học tiếng Pháp nhiều hơn tiếng Anh, cho nên ít người hiểu hết lời hát; ngược lại, đám trẻ, trong đó có bản thân chúng tôi, hiểu được lời hát thì lại không cảm nhận được ý nghĩa trong đó, bởi đường đời mới đi phân nửa, chưa thấy “…the end is near”, chưa chuẩn bị “…face the final curtain”.

Ra hải ngoại, My Way được Nam Lộc đặt lời Việt với tựa Dòng Đời, và được Nguyên Khang thu đĩa. Nhận xét theo cảm quan cá nhân, chúng tôi cho rằng cả tác giả lời Việt lẫn ca sĩ trình bày đều rất đạt!

Dòng Đời (Nam Lộc)

Đời tôi và bao nổi trôi
Vùi trong thời gian dần khuất nơi chân trời
Bạn ơi buồn vui sầu bi
Tình đến rồi đi
Có những lần ướt mi
Rồi bao hào quang chói chan ở trên thế gian
Tôi cũng tường bước qua biết bao và có biết bao đời tôi đã bước qua
Giờ đây nhìn tháng ngày qua
Đời lững lờ trôi đôi lúc tôi sai lầm
Dù cho dù tôi chỉ mong được mang niềm vui đến với cùng thế nhân
Bạn ơi thời gian vút qua nếu có lầm lỗi chi xin mong được thứ tha
Biết bao và có biết bao điều xin hãy thứ tha
Nhìn lại thời gian bước chân dọc ngang
Cuộc đời cho tôi đắng cay lầm than
Nhiều khi cố nuốt nhiều lúc lặng im
Để nghe tiếng nói đến từ trái tim
Dù bao thách đố vẫn đứng hiên ngang
Đường tôi vẫn cứ đi
Tình yêu niềm vui sầu rơi
Tràn dâng đầy vơi khi thắng khi thua người
Và khi lệ không còn rơi
Đời như cuộc chơi cứ ngỡ đùa giỡn thôi
Giờ đây dù ai có khen có trách gì nữa đi
Cũng xin được khắc ghi
Với tôi chẳng hối tiếc chi đường tôi vẫn cứ đi
Dòng đời trôi qua biết bao đổi thay
Nhưng tôi vẫn mãi vẫn luôn là tôi
Vì tôi đã sống với chính con tim
Dù cho phút cuối có đến với tôi
Thì xin nhắm mắt theo áng mây trôi
Đời như chiếc lá rơi…
Đường tôi đã bước qua…

Phụ lục (7): Dòng Đời, Nguyên Khang

Ngoài ra, còn có phiên bản lời Việt của hai tác giả Nguyễn Đăng Hưng – Lê Ngọc Dũng với tựa đề Đường Đời. Mặc dù cũng có chữ “đời” nhưng nội dung không liên quan gì tới nguyên tác My Way, mà viết về một kiếp sống buồn; lời hát buồn và đẹp, cho nên rất thích hợp với các giọng nữ.

Đường Đời

(Nguyễn Đăng Hưng – Lê Ngọc Dũng)

Đời tôi buồn như dòng sông
Sầu như mùa Đông không biết đôi môi cười.
Người ơi dòng sông ngừng trôi
Chờ nghe mùa Đông hát tình khúc xưa.
Tình ơi đừng theo gió đưa khuất vào chốn xưa
Như chưa từng nhớ mong.
Nhớ ai nhìn khói thuốc bay và làm chiếc lá rơi
Đời tôi từng giây phút nổi trôi
Vùi trong thời gian mang những cơn u buồn.
Buồn ơi này ta chào mi
Đừng đem biệt ly cất từng bước đi.
Và khi buồn lên ướt mi
Thắm từng nét môi còn mơ gì đến tôi.
Đến khi nhớ thương ai
buồn tìm bên những phút giây.
Một ngày được mang cánh chim thời gian
Một đời tôi đi khắp nơi dọc ngang
Và tôi sẽ tới một cánh rừng hoang
Làm quen với lũ bướm vàng ngẩn ngơ.
Nằm mơ dưới nắng chiều lững lờ đưa
Vời tôi đến chốn xưa.
Đời qua, đời lững lờ qua
Tình cũng mờ xa như lá Thu rơi đầy.
Giờ đây hàng cây ngày xưa
Buồn nghe chiều mưa hát lời tiễn đưa.
Người ơi mù trong bóng đêm
Dưới trời lãng quên, chơi vơi một cánh dơi.
Và tôi, cùng với đắng cay rồi như khói thuốc bay.
Một ngày được như đám mây Thu
Một đời tôi xin lãng du từ đây.
Và tôi sẽ trốn vào mãi rừng cây
Chờ giây phút cuối đến cùng với tôi.
Rồi xin nhắm mắt buông hết đầy vơi
Buồn theo chiếc lá rơi.

Phụ lục (8): Đường Đời, Ngọc Lan

Phụ lục (9): Đường Đời, Khánh Hà

Hoài Nam

 

 

©T.Vấn 2015