ThaiLy: KHÁCH LÀNG 

Bản Làng – Ảnh: NTN

Tôi đang nói về làng Thành Tín! Và chuyện cách đây cũng khá là lâu, tầm 60 năm hơn! Hơn nửa thế kỷ, cũng là hơn nửa đời người. Cái ngày ấy tôi chỉ là nhóc con 10-12 tuổi nhưng dạn dĩ, lanh chanh và nhất là khá…duyên dáng!

Vào thời điểm đó, tình hình chiến sự ở quê tôi không ổn lắm, nhưng về mặt xã hội thì an lành, những tệ nạn xã hội không tràn lan, kinh khủng như bây giờ, mọi người sống bằng tấm lòng chân thành, cư xử với nhau đầy sự tin cẩn. Chính vì vậy mà tôi mới là “khách của làng”, một làng của dân tộc Chăm đang sống trong vòng rào “Ấp chiến lược”!

Khi ấy, ba má tôi có hai căn nhà, được xây dựng ngay sau nhà Ông Bà Nội, nhưng nhà lại… ma dữ quá! Chẳng làm ăn gì được, cả nhà cùng sống chung với Ông Bà Nội nên hai căn ấy chỉ dành cho thuê. Người thuê nhà là một nhóm người dân tộc Chăm, mối quan hệ láng giềng rất tốt. Tôi thường sang chơi và rất thân, được nghe kể nhiều chuyện của làng họ mà cách xưng hô thường là “đàng mình”, tôi rất thích. Rồi, trong dịp cận hè, chú Thương, ngày ấy còn là học sinh đã vào xin phép gia đình cho tôi theo chú “về làng” chơi! Chẳng hiểu sao, ba tôi thường rất cẩn trọng lại dễ dàng bằng lòng cho tôi đi, có lẽ đó là một sự tin cậy tuyệt đối, một lòng tin đã được xây dựng bằng cách sống, bằng cái nhìn từ tận cái Tâm! 

Sáng tinh mơ, tôi đã lục đục đi với chú. Chú đèo tôi trên chiếc xe đạp, tiến qua cầu Đạo Long, ngày ấy là chiếc cầu duy nhất nối liền hai bờ Sông Dinh. Qua cầu, đi thêm đoạn nữa rồi rẽ trái, đi thẳng vào con đường đất; đường hẹp, gập ghềnh, trong lòng tôi thật hưng phấn, thật háo hức với suy nghĩ: Hôm nay, mình sẽ được khám phá cái vùng đất mà lâu nay, từ trên lan can nhà chỉ thấy là một đồi đất đỏ thật rộng, thật cao được điểm thêm mấy vạt màu xanh mà tôi đoán chừng đó là vườn cây.Trên vùng đất ấy, lại là nơi sinh sống của người Chăm. Họ làm gì, sinh sống như thế nào trên đồi đất đỏ ấy? Tất cả là sự thắc mắc lẫn tò mò trong tâm hồn thơ trẻ của tôi. Xe tiếp tục chạy, chầm chậm… chầm chậm… vì đường khó đi; thỉnh thoảng hai chú cháu chuyện trò, thực ra là chú trả lời những câu hỏi tò mò của tôi thôi. Ánh nắng bắt đầu đem cái nóng đến, chú và tôi cũng vừa đến đầu làng. Hình ảnh đầu tiên thu hút ánh nhìn của tôi là một dãy các khung gỗ, có những cây chông bằng cổ tay người lớn, đầu vót nhọn chong ra ngoài, kết nối với cả vòng rào, chú bảo đó là “hàng rào Ấp Chiến Lược”. Tôi chỉ biết vậy, không hỏi thêm.

Vào làng, không như mình nghĩ, đường làng sạch bóng, dù chỉ là đường đất. Nhà cửa cách nhau khá xa, hầu như nhà nào cũng có hàng rào bằng loại cây nhỏ chỉ bằng ngón chân cái hoặc lớn hơn cao vút, đan vào nhau thật biệt lập. Dọc đường làng, tiếng chào hỏi không ngớt, hầu như ở đây mọi người đều quen biết, thậm chí rất thân thiết với nhau, tôi cũng được hỏi han ân cần. 

Qua một khúc quanh, chú đi thẳng vào cửa rào mở sẵn, một khuôn sân rộng, vuông vức và sạch bóng dù vẫn là nền đất, tôi xuống xe, cùng chú đi vào; thật lạ, tôi như một vị khách thật sự chứ không phải là đứa bé con, mọi người hỏi han, mời nước, dẫn cho đi rửa mặt, nghỉ ngơi, tôi tò mò nghiêng ngó sân trước, sân sau, nền sân bằng đất nện, nén chặt, sạch, sạch bóng… Sau đó, bữa cơm được dọn ra, tôi tò mò chờ xem và cũng hồi hộp nữa, bởi vì chẳng hiểu họ ăn uống ra sao, ăn những gì, liệu mình có ăn được hay không, lỡ không ăn được chẳng lẽ… nhịn đói; với lại thêm điều trăn trở nữa là: ăn bằng đũa hay vốc tay? Trời ơi, cái tật lớn của tôi là “ăn không ngại dính miệng mà chỉ sợ…dơ tay”! Phen này “trúng đậm” rồi đây! Cuối cùng, bữa cơm cũng được dọn lên, nhà bếp khá xa, nên thức ăn được mang lên từ từ, không có mâm, cơm, thức ăn… từng món được mang lên đặt ngay dưới đất! Tôi đang ngồi trên chiếc “phản gỗ”, không thấy chén, đũa. Chết rồi, vậy là toi rồi, tôi thật sự lo lắng. Rồi, một người khệ nệ bưng lên một “mâm cơm”, với đầy đủ các món như “dưới đất” nhưng lại có chén, đũa… đặt ngay trên chiếc phản, chỗ tôi đang ngồi. Chủ nhà xuất hiện, mời cơm, trên phản chỉ ông chủ nhà, chú Thương và vị khách bé tẹo là tôi được ăn trên mâm này, cả nhà cũng trên dưới năm người còn lại ăn dưới đất và dĩ nhiên không dùng đũa chén… Tôi thở phào nhẹ nhõm! Thiệt tình, tuy chỉ là đứa trẻ, tôi đã được cư xử như một khách quý, điều ấy đã làm tôi thật vui, lại tự nhủ và rút ra bài học: Đã đi đến quê bạn mà lòng thì chưa thật sự gắn bó nên mới có cái cảnh “không thâm nhập được phong tục tập quán của dân tộc họ là mình chưa thật có tấm chân tình”! Câu nói Ông thường dạy tôi “nhập gia tuỳ tục” ngay lúc này trở nên giá trị làm sao!

Cái phản gỗ ấy cũng là nơi ngủ trưa của tôi. Sau giấc ngủ ngon, tôi lại đi dạo quanh nhà lần nữa, công nhận sân rộng nhưng thật sạch, sạch bóng! Tôi tò mò xuống hẳn nhà bếp, cô Thân đang khuấy đều tay trong một cái “trả đất” (*), tiếng nổ lách tách thật vui tai lại còn có cả mùi thơm, hỏi, thì được biết cô đang rang muối, hoá ra người dân tộc ăn uống rất kỹ, muối biển mua về, họ rửa qua bụi đất, rồi tự rang, tự giã lấy để ăn, họ không ăn muối hầm, muối bọt như người Kinh vẫn dùng. Tôi thật thích thú. Khi trời bớt nắng, chú Thương rủ tôi cùng đi lên rẫy chơi. Lên rẫy là lên vùng đất đỏ mà ở nhà tôi chỉ được thấy từ xa khi đứng trên lan can của căn gác ở nhà. Chiều nay, ngay bây giờ, chỉ xíu nữa thôi tôi sẽ đặt chân lên đó. Không thể tả được sự hả hê, vui sướng của tôi lúc này.

Đường lên rẫy hơi dốc, cát toàn màu đỏ, khi thì chở xe đạp, có lúc dắt bộ…Hoá ra, những chòm màu xanh tôi thấy khi ở nhà là những rẫy dưa, dưa đầy, lần đầu tiên tôi thấy những trái dưa tròn có, dài có nằm lẫn trong đất, trong lá, vô cùng thích thú. Tôi quay vòng trong đám rẫy, quay vòng trả lời câu hỏi của những chủ rẫy, họ hỏi han ân cần lại vô cùng hiếu khách khi mang tặng những quả dưa tươi cứng bóng mượt, có người còn nhanh tay, đập cái “bốp” tại chỗ, để lộ ngay ruột dưa chín đỏ, dưa bể tự do, ăn một cách hoang dã…cứ thế đưa lên miệng mà cạp. Tôi chăm chú nhìn họ ăn đầy thích thú và cả tò mò. Hình như đọc được điều ấy ở ánh nhìn không che đậy của tôi, cuối cùng tôi cũng được mời ăn như vậy. Sự vô tư, thân mật, chân tình đã làm tôi thật sự vui, vui vô cùng. Cảm giác ấy, giờ đây sau hơn 60 năm nhắc lại tôi vẫn còn cảm thấy cái cảm giác mát rượi, ngọt lịm đang lan toả…

Tung tăng trên những rẫy dưa gần nhất một hồi, tôi thấm mệt, ngồi bệt luôn xuống nền đất đỏ, điều mà không bao giờ tôi làm – “ngồi bệt xuống đất” mà không kê một vật gì đó! Có lẽ giữa cảnh thiên nhiên bao la, tình người ấm áp đã là cơ hội cho tâm tình con người thay đổi theo hướng tích cực nhất, nó có thể thay đổi cả những thói quen mà ta không hề hay biết…

Ánh chiều buông, trên vùng đất đỏ, giữa nương rẫy xanh ngát một màu, ánh hoàng hôn càng thêm huyền ảo. Mọi người chuẩn bị ra về, nhưng trước khi quày quả “đội” những giỏ dưa thật lớn xuống rẫy, về làng, mọi người không quên mang tặng tôi, cô bé trong vai khách, “khách của làng” những trái dưa thật tròn, thật ngon… Mỗi người một ít, một ít thôi, để rồi cuối cùng chú Thương và tôi chẳng thể nào mang hết được, phải đi xin một bao bố, tất cả phải mang về! Không mang, người làng sẽ giận!

Tối, tôi lại được ngắm đêm trăng chốn làng quê, ánh trăng bàng bạc, nghiêng nghiêng soi rọi đường làng, tản mạn trên những cành lá xôn xao… Đi rong ruổi dưới trăng, trong tâm trạng hồn nhiên trong sáng của một cô bé lên mười thật sự là một điều hoàn toàn mới lạ mà mãi đến sau này, những khi cuộc sống trở nên quá nặng nề, nhớ lại đoạn thời gian này tôi vô cùng tiếc nuối, luôn mong được sống lại một lần trong khung cảnh và tâm trạng ấy! Nhưng điều ấy là không thể, không thể như ai đó đã nói “chúng ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông“. Sông đời đã qua một khúc quanh khác rồi.

Đêm thật yên tĩnh, giấc ngủ đã đến sau hồi “kẻng” và chấm dứt cũng bằng hồi “kẻng” dài, đó là hiệu lệnh giới nghiêm. Chú Thương và tôi lại lục đục chuẩn bị đi về. Ăn sáng ở một quán nhỏ, nói ăn sáng cho có vẻ chứ thật sự nơi làng quê này chẳng có quán hàng ăn uống như ở phố. Quán bán linh tinh đủ thứ, chú chỉ gọi “trứng vịt luộc và bánh tráng”, vậy là xong. Đường về, tôi lại mang một tâm trạng khác, cái nhìn về người “dân tộc  Chăm” đã khác hẳn, một sự gần gũi, một thứ cảm tình thật lạ đã được hình thành, đó là “vốn liếng” ban đầu để sau này khi học ở cấp 2 tôi đã rất dễ dàng thân thiết với các bạn người dân tộc Chăm. Đường về còn nặng trĩu bởi cái bao dưa được chú Thương khệ nệ mang đặt vắt lên phía trước thanh ngang của xe đạp. 

Về đến nhà, bao dưa là tâm điểm chú ý của mọi người, “bao no” luôn, dưa vừa ngon vừa nhiều và tôi thì tha hồ “ba hoa” về lần “du lịch” làng Chăm này!

Về sau, lớn thêm tí nữa, qua những bài học Lịch Sử tôi được biết thêm:  Người Chăm đã có một  nền văn minh lâu đời, một vương triều thật phát triển, nhiều Tháp cổ vẫn còn tồn tại và được bảo dưỡng cho đến nay. 

                                   ThaiLy.

* Trả: là một vật dụng làm bằng đất sét, do người Chăm làm và bán, dùng để rang bắp, đậu, muối…

©T.Vấn 2023

Bài Mới Nhất
Search