Viết về Lê Mai Lĩnh là một điều rất dễ mà cũng rất khó. Dễ vì con người ông có những dáng dấp, đường nét, tác phong, vv… rất dễ lôi cuốn sự chú ý người đối thoại, lắng nghe và… cười với ông. Ông có những cách bông đùa rất duyên dáng, rất hài làm cho mọi người vui lây cái vui của ông, nhưng bên cạnh đó, có một ít chua xót, mai mỉa, bất cần, đến độ, năm ngoái lúc họp mặt tại nhà nhà thơ Phan Xuân Sinh, lần chào mừng thi sĩ Tô Thùy Yên, tôi đã gọi đùa ông Lê Mai Liều. Liều lĩnh chính là cá tính đặc sắc nơi ông, ít người có, ít người dám có. Ở trong tù mà dám gửi thư hạch tội Lê Duẩn thì không liều còn là gì.
Nhìn ông, bề ngoài dù có khi ông thắt cà vạt, đọc diễn văn như trong lần ông lên diễn đàn giới thiệu thi phẩm “Thao Thức” của thi sĩ Trần Trung Đạo, tôi vẫn thấy ông “không giống ai”. Tóc tai mất trật tự, cái áo vét không cũ nhưng lại là màu đất, tưởng như 10 năm chưa giặt, nhưng tác phong và lời lẽ thì rất chân tình, chân thành, sôi nổi. Hinh như Ông chẳng có gì dấu diếm hay cần dấu diếm ai. Nhìn ông, tôi tưởng như ông mới trở về sau một chuyến viễn du, đi tìn Jack London ở biển Bắc hay từ những đảo nhỏ ở miền Nam Thái Bình Dương, và hình như ông cũng đang chuẩn bị cho một chuyến hải hành đã cận ngày. Những câu thơ “Khách chinh phu” của Thế Lữ lại váng vất trong đầu tôi “…Mũ lạt bốn mùa sương nắng gội, Phong trần quen biết mặt âu lo” hay “Rũ áo phong sương trên gác trọ” thậm chí cả gói thuốc lá CAPTAN (Chiếc Áo Phong Sương Tình Anh Nặng) trong giới người lính Cộng hòa bước khắp bốn vùng chiến thuật. Có điều lạ, không bao giờ tôi cho ông là Dũng của “Đôi Bạn” mà có thể Dũng một thời là thần tượng của ông khi ông học lớp Đệ Nhị, như tôi, như bao nhiêu anh học trò thời Đệ Nhất cộng hòa đó.
Ông có cái gì như phiêu bạt hơn, phong trần hơn, năng động hơn, nóng bỏng hơn, thậm chí cả Liều Lĩnh hơn. Ông suy nghĩ và dám làm những điều người khác không dám nghĩ, chứ đừng nói dám làm. Có hai quan điểm đối chọi nhau về tác phong con người làm văn nghệ: Những người đạo mạo luôn ăn mặc chải chuốt, tác phong chững chạc nghiêm túc, nói năng lời lẽ cân nhắc cẩn thận, thích thắt “cà vạt” đọc “đít cua” và những người ăn mặc lôi thôi lếch thếch như Hàn Mặc Tử, như Từ Chung mang đôi dép Nhật đi giữa Sài Gòn. Ông thuộc dạng thứ hai. Cũng may chưa ai thấy ông mang dép Nhật đi giữa đường phố Nữu Ước!!! Cũng dám có ngày như thế lắm, bởi ông là người chưa (hay không) biết sợ. Ông sống cho ông, thoải mái với những ý thích, có khi ngông cuồng.
Chẳng hạn khi ông mở quán nhậu, mà ông lại nhậu nhiều hơn…khách hàng thì chẳng mấy chốc hết vốn, dẹp tiệm. Điều đó, đối với ông có vẻ như không… quan trọng. Không có vốn mở quán nhậu, ông vá xe đạp bên đường, vừa ít vốn lại có cơ hội gặp gỡ bạn bè qua lại
Ông sinh ở miền Trung, có lẽ cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều không khí vua quan của Huế nhưng ông không giống với một số thanh niên sinh viên Huế, dám được gọi là thứ “trí thức làm dáng”. Trong chiến tranh trốn quân dịch bằng cách này hay cách khác, sợ chết nhưng ngụy danh là lương tâm dân tộc. Thời hậu chiến thì theo đuổi “hòa giải hòa hợp” vừa để chứng tỏ rằng “là thì là” ta đây “tiến bộ” hơn đám chống Cộng cực đoan, và biết đâu, một chút bổng lộc, chức tước, ngôi vị mà một ngày kia, có thể Cộng sản, vì áp lực của Mỹ mà ban phát cho, Lê Mai Lĩnh (LML) không thuộc nhóm đó. Ông thuộc những người, nói như Phan Nhật Nam sống “hừng hực như lửa” đánh giặc như uống rượu, lái xe Rép như Lô, Nguyễn Lô, hay ‘Lô lọ rượu’ ông Lệnh Hồ Xung của binh chủng, người cao chưa quá chai bia lớn nhưng “chưa ai qua mặt nổi Lô”. Trong khi Lô, “Hùng Móm”, đánh giặc bằng súng, bóp cò xung phong cầm M 72 bắn chơi thì LML vừa đánh giặc bằng súng vừa đánh bằng bút. Thơ của ông là nhiệt tình như Lửa, là tiếng thét uất hận, đớn đau như Sóng Gào, Thác Đổ.
Đời, ông cho là “cuộc chơi”. Ông cho cuộc đời này là trò chơi. Cái khinh bạc của ông là ở đó:
….
Tôi vào quân trường Thủ Đức học vài món ăn chơi
Cầm súng, ném lựu đạn, xốc lưỡi lê về phía trước, biết nhắm vào ai
Tôi biết bò dưới hỏa lực và biết chủ động cho đường đạn bay tới
Tôi biết di chuyển theo đội hình và thế nào là hiệp đồng tác chiến
Chừng đó đủ cho tôi chơi trò chơi chiến tranh.
Ba người anh “dữ dằn” của tôi chơi ở Bình Long, An Lộc, Khe Sanh, Hạ Lào, Cổ Thành Quảng Trị.
Tôi biết mình nhỏ con, trói gà không chặt, lấy đâu thần công lực
Chơi bạo, chơi xa
Tôi về Tiểu Khu Phan Thiết quẩn quanh rong chơi
Nơi mật khu Lê Hồng Phong, Tam giác sắt
Cầm chắc khẩu súng trong tay
Nảy cò, làm thơ và uống rượu
…
Bút của ông là bút thép, bút có đạn tiểu liên đại liên, đại bác. LML dùng ngay điều Hồ Chí Minh dạy cán bộ Cộng sản để đập lại Hồ: Ngay ở trong thơ nên có thép, Nhà thơ cũng cần biết xung phong. LML làm thơ xung phong, cầm bút thép bắn vào đầu giặc, bắn đại bác ngay vào Lăng Ba Đình, bắn vào đầu Lê Duẩn.
Bốn mươi năm trước, Phùng Quán một kiện tướng trong phong trào Nhân văn Giai phẩm Văn nghệ chống Đảng đã nói như LML:
Tôi muốn đúc thơ thành đạn
Bắn vào tim những kẻ làm càn
Những con người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc
(Chống tham ô lãng phí – Phùng Quán – Trăm Hoa Đua Nở Trên đất Bắc trang 119)
Cách đây gần 40 năm tôi đã đọc “Nỗi buồn nhược tiểu” của Sương Biên Thùy (SBT) bút hiệu hồi đó của LML.
Và tôi thấy thích. Lúc đó, tôi không biết tác giả là một người cùng quê, rất quen là đằng khác. “Nỗi buồn nhược tiểu” trở thành nỗi ám ảnh tôi trong suốt quãng đời còn lại, khi tôi còn trong quân ngũ, trong trại tù cải tạo, cho tới bây giờ.
Cái gì đã đưa đẩy chúng ta, dân tộc ta vào cuộc chiến tranh này, cuộc chiến tranh được ngụy danh bằng “Bảo vệ tự do” hay “Giải phóng Dân tộc”. Không có cái gọi là tự do cho Dân tộc chúng ta cũng như Dân tộc khốn khổ này chưa bao giờ được “giải phóng”. Đó chỉ là những mỹ từ che đậy quyền lợi của các siêu cường.
Những người xuất thân từ các trường Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) kể cả những người tốt nghiệp Đại học CTCT, chưa có ai, như ông, mới 18 tuổi (ông sinh 1942 giấy khai sinh khai trụt 2 tuổi để đi học. Năm 1960, ông làm bài thơ sau đây:
Tuổi trẻ hậu chiến
Loài ác điểu cướp mất…
Chừ lớn lên
Không bản tính con người
…
Ngôn ngữ phát âm là tiếng kêu kim khí
Con chim họa mi không hót lời thanh xưa
Con chim đại bang không lời oang oác
…
Hỡi thợ thuyền, lao động, sinh viên
Những bàn tay xây nền mới
Hãy kết nên Vạn lý thành
Vẻ vang trở lại
Lịch sử đất nước này
Bất khuất dòng Lê Lợi
…
Trong viễn tượng đó, thơ chính trị của LML chính thật là thơ bởi vì đó là tiếng nói, tiếng cười, tiếng nức nở tự đáy tim ông. Ông đi nhiều, ông lang bạt nhiều, qua nhiều đơn vị quân đội, và cũng qua nhiều… trại tù, từ Nam ra Bắc, tận cùng Việt Bắc, làm đủ thứ việc trong tù, làm đủ thứ nghề để kiếm sống khi ra khỏi tù, từ những cái “hèn hạ” nhất như gánh phân, rửa nhà cầu, nặng nhọc nhất như đạp xích lô, lại là người có chiều sâu có suy nghĩ (ngay khi ông còn rất trẻ, với “Nỗi Buồn Nhược Tiểu”, thành ra nói như ông rất đúng: Ông làm thơ mọi lúc: khi nằm, khi ngồi, khi cuốc đất, gánh phân; mọi nơi: từ chỗ nằm, chỗ sân, bãi đất, những chỗ rất thối, chỗ đổ phân hầm cầu, thì thơ ông vẫn thơm vì thơ đó là tiếng nói phát ra từ con tim ông:
Trời trong xanh buổi sáng hôm nay
Soi xuống hố phân thấy mặt mình vẫn tươi sáng
Còn nét thơ ngây, còn dáng hình người.
Chưa có gì ra vẻ đười ươi
Hỡi các cục cứt còn xác bắp, cọng rau
Trôi lềnh bềnh giữa bầy giòi bọ
Trông các em thân quá làm sao
Giữa đời ta, chuỗi ngày lem lọ
(Trại tù Lào Cai 1979 – Vô Đề – Thơ LML- trang 104)
Chính cái cứt, dái, háng, giòi bọ ấy hiện diện gần gũi với con người hằng ngày mới đáng mỉa mai chua xót. Mỉa mai chua xót chính là lúc LML soi mặt mình trong hố cứt. Ở tù, mà lại là tù Cộng sản, thì chính là ở tận đáy xã hội, tận đáy cuộc đời. Người ta không ai có thể xuống sâu hơn thế nữa, và lại làm người gánh cứt trong cái trại tù đó, thì phải nói “chỗ” của LML chính là chỗ tận cùng của cái tận cùng. Vậy mà LML vẫn cười đùa vui chơi, mai mỉa trước cuộc sống. Ông thấy ông “chưa có gì ra vẻ đười ươi.” ông vẫn thấy cứt và giòi bọ “trông các em thân quá làm sao”. Đó chính là cái cá tính lạc quan của ông. Ông lạc quan bởi vì ông có suy tính và tin tưởng ở cuộc đời, tin vào lẽ phải, tin vào “Đại nghĩa thắng hung tàn”, vì “Đôi lần thấy Nguyễn Trải trong mơ…Cầm trong tay một Cáo Bình Ngô” vì ông nghĩ mình chung nỗi đau Ức Trai, nghĩ mình phải làm gì cùng Nguyễn Trãi” (Nguyễn Trãi I trang 40 thơ LML)
Ông tin tưởng một ngày mai ông sẽ thoát ra khỏi cảnh ngục tù ấy, một ngày mà bọn bỏ tù ông phải thúc thủ, một ngày mà “Đường ta đi sạch bóng quân thù, Đường ta về nhân dân hạnh phúc” (Nguyễn Trãi II trang 45 đã dẫn như trên).
Chúng muốn giết ông đấy chứ. Đâu có phải là chúng không muốn tắm máu. Chúng muốn bỏ tù chung thân ông đấy chứ, đâu muốn thả ông ra. Chúng muốn chỉ định ông cư trí vùng Việt Bắc đấy chứ, để một ngày kia ông thành khỉ, thành đười ươi, thành con “xa niên” như bọn Stalin đày người đi Siberia vậy. Chúng, bọn Cộng sản VN không làm được đó thôi, đâu có phải là vì chúng nhân đạo, khoan hồng. Ông biết như thế và ông lạc quan, khi ông biết “chưa có gì ra vẻ đười ươi”. Có nghĩa là chúng chưa làm gì được ông.
Nhiều khi cái bề ngoài đánh lừa ta. Nhìn bề ngoài LML, sự đùa bỡn của ông với bè bạn, đùa bỡn trong văn chương, ít ai ngờ nhiệt tình đối với quê hương, dân tộc, lòng ông là núi lửa, hy vọng trong lòng ông là nguồn vui vô tận như biển cả, là niềm lạc quan vững chắc vòi vọi như núi núi cao, sự chua xót và mai mỉa nơi ông như một ngày mưa dầm giữa hạ. Tất cả lẫn lộn với nhau, tưởng như ông có thể bị khùng (mà ông có lúc điên khùng thật) vì tất cả những tình cảm mâu thuẫn đó. Trong nhà tù Cộng sản, tù không có án. Từ Hoàng Liên Sơn, Lào Cai, Cao Bằng được chuyển về xuôi đã là may, mấy ai có thể thấy ngày về kề cận để mà vui, nhưng với ông, ông rất lạc quan, rất tin tưởng:
Đã hai năm con sống mồ côi
Đã hai năm cha mẹ xa nhà
Xa mẹ xa cha con có biết
Nơi đây cha vẫn giữ làm người.
(Lời bày tỏ cùng các con – thơ LML trang 17)
Trong cuộc sống cực nhọc của đời tù Cộng sản, không ít kẻ trở nên xấu nết, thậm chí đầu hàng địch để mong cầu một chút ân huệ, thành ra nhiều khi mất hẳn nhân tính, phẩm giá thì ông vẫn giữ làm người.
Đêm giao thừa năm 37 tuổi, ở trong trại tù ông thấy kẻ thù giam hãm được thân xác ông mà không gian được tâm hồn ông. Trong nhà tù thì lạnh mà ông vẫn thấy ấm lòng nhờ có niềm tin:
Ta thấy rồi Trời Tự Do rộng mở
Song sắt nào khóa nổi hồn ta?
Đón giao thừa trong nhà giam lạnh
Nhưng ấm lòng ta niềm tin quê nhà.
(Giao thừa năm 37 tuổi – thơ LML trang 51)
Trong bài “Vỗ về giấc ngủ” ông vẫn kiên định ý chí đó:
Thân ta chúng nhốt trong lồng sắt
Ta thả hồn bay khắp bốn phương
Chân dẫu trong cùm gong đau thắt
Tim Tự Do ta khắp nẻo đường
(Vỗ về giấc ngủ – thơ LML trang 59)
Vùng Việt Bắc tuy không lạnh như Bắc cực nhưng lại nổi tiếng lạnh vì rừng núi sương mù, vì đói rách. Càng đói, càng thấy lạnh. Đó là một nguyên tắc sinh lý. Qua một mùa đông, người tù lại vui vì biết mình còn hiện hữu sau một mùa rét buốt. Với LML, trong mùa đông lại phải đi cấy ruộng, nước lên tới đầu gối thắt lưng, nước tê buốt, như kim châm, vậy mà ông vẫn vui, vẫn sôi nổi vì niềm tin ông có. (Có lẽ lúc này Trung Cộng đã dạy cho Cộng sản Hà Nội một bài học), tù nhân được đưa từ Lào Cai về Vĩnh Phú, sự kiện này làm cho trại tù xôn xao vì nhiều tin vui. “Anh em trong tù” chúng nó đang choảng nhau thừa sống thiếu chết:
Chào tái ngộ mùa đông ta sống
Trong những ngày sôi nổi niềm tin
Dẫu khó khăn nào ta vẫn sống
Để đợi giờ báo hiệu bình minh
(Mùa đông đi cấy ruộng sình – thơ LML – trang 83)
Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa – ngành Chiến tranh chính trị, chọn Nguyễn Trãi (hiệu Ức Trai) làm Thánh tổ, lấy những câu chính trong “Bình Ngô Đại Cáo” làm châm ngôn hoạt động “Lấy Đại Nghĩa thắng Hung Tàn, lấy Chí Nhân thay Cường Bạo”. Thế rồi vào trong tù, với trăm ngàn cay đắng, với cuộc sống lao khổ, đói khát hằng ngày, cái bản năng sinh tồn bỗng lớn hơn ý chí, người ta có khi đã … quên mất Nguyễn Trãi, hơn người chỗ đó, LML vẫn:
Thao thức hoài cùng nỗi đau Nguyễn Trãi
Nhiều đêm không chớp mắt
….
Hơn sáu tram năm từ Nguyễn Trãi rồi
Mà cơn quốc biến vẫn còn thôi
Con đỏ, dân đen, đau đời quằn quại
Căm giận bầm gan, tím cả môi
(Nguyễn Trãi I – LML – trang 40)
Dưới ách cai trị bạo tàn của giặc Minh, trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi tố cáo tội ác của chúng: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ,” Sáu trăm năm sau, mấy ai nghĩ đến Dân đen, Con đỏ (*), ngoại trừ một lần Hồ Hữu Tường đặt tên con là Xích Tử và LML:
Trắng đêm thức với cơn mộng tỉnh
Đôi lần thấy Nguyễn Trãi trong mơ
(Đd – như trên – trang 41)
Ông mơ thấy cái gì?
Ông mơ thấy Nguyễn Trãi vẫn chưa ngủ yên, dù Nguyễn Trãi đã đi vào giấc ngủ ngàn thu đã 600 năm:
Trên ngọn lửa hung tàn
Đồng bào Ức Trai là dân đen bị nướng
Dưới hầm tai vạ, đồng bào Ức Trai là con đỏ bị chôn sống
Huế – Mậu thân
Trúc rừng Nam Sơn không ghi hết tội
Nước biển Đông không rửa sạch tanh hôi
Dối trời, lừa dân đủ nghìn kế
Đau lòng Ức Trai vô kể
Mấy trăm năm rồi Nguyễn Trãi không ngủ yên
Đã nhiều năm rồi, ta cũng không ngủ yên
Đau xót tim gan từng cơn đòi đoạn
Mơ làm Nguyễn Trãi viết cáo bình Ngô
(Nguyễn Trãi II – LML – trang 55)
Câu ngày xưa Nguyễn Trãi mô tả hành động tội ác của giặc Minh “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” và kể tội chúng “Độc ác thay trúc rừng không ghi hết tội! Dơ bẩn thay! Nước biển không rửa sạch mùi (1). Sáu trăm năm sau Nguyễn Trãi, Cộng Sản Việt Nam cùng đày đọa dân ta như thế, tội ác của chúng cũng như thế, sự dơ bẩn của chúng cũng như thế. Vì vậy, 600 năm trước Nguyễn Trãi không ngủ yên, LML, vì thương đồng bào, thương dân, cũng không ngủ yên, nằm mơ Nguyễn Trải hiện về, muốn viết Bình “Cộng” Đại Cáo!
Tôi không nghĩ là LML chưa viết “Cáo Đại Ngô”. Bài thơ sau đây, không Cáo Bình Ngô số 2 là gì?
Mẹ đã biết
Sau hai ngày Công an dẫn Ban Thuế vụ vào nhà người anh tôi khiêng đi cái tủ thờ bằng gỗ Cẩm lai và bắt con heo nái cùng bầy con để trừ vào thuế Nông nghiệp
Lúc trên tường cái huân chương 40 năm tuổi đảng của cha tôi đỏ chót treo lủng lẳng
Im lặng đồng lõa
Mẹ tôi tức hộc máu mà chết.
LML cũng có cái thú ngồi sờ râu như thế, nhưng hơn một chút, ở ông ta, hình như có cái gì mai mỉa, buồn cười, thách đố kẻ thù. Thật vậy, ở trong tù người ta thường bồn chồn lo lắng, trông mong thăm nuôi, trông mong ngày về, trông mong cán bộ trại tù đừng làm khó dễ, hạch sách, thì ông bình thản ngồi… sờ râu! Thật là đáng ghét – Có lẽ bọn cán bộ nghĩ thế, nhưng làm gì được ông?! Ngồi trong song cửa phòng giam, ngoài kia là bờ tường cao trên có mảnh chai, dây kẻm gai, và tên công an tay lăm lăm súng đứng trên chòi cao, chực nhả đạn vào ai vượt rào…
Vậy mà ông chẳng quan tâm, coi thường tất cả ngồi nhìn núi Chứa Chan cười khan và … sờ râu:
Nơi anh ở bây giờ dưới chân núi Chứa Chan
Trong một trại tù rào tường kiên cố
Nhìn mũi súng, lưỡi lê ra điều thách đố
Anh chỉ muốn vuốt râu cười khan
(Trong tù sờ râu – Thơ LML – trang 98)
Ông ngồi … sở râu cười khan và suy nghĩ:
Dưới chân núi Chứa Chan anh sờ râu
Và anh thấy hết
Thấy những khổ đau của đồng bào ta
Thấy những uất hận trong từng tiếng nói
Và niềm hy vọng trong từng khóe mắt
Không thể khác
Trái sầu sắp rụng
Ông coi cuộc đời như trò chơi.
Ông vào quân trường Thủ Đức học “vài món ăn chơi”. Hành quân tìm địch thì ông coi như “quanh quẩn rong chơi nơi mật khu Lê Hồng Phong, Tam giác sắt”. Thậm chí khi ở tù, lao động khổ sai thì ông “Trên đồi trà, thử thả hồn chút chơi”. Cái lối “chơi” này rất tình nghĩa, rất đậm đà kỷ niệm yêu thương:
Trên đồi trà anh nhớ khi xưa
Em thích uống chè xanh có gừng
Thương biết mấy vợ trong nhà ngục
Đau lòng ta từ chốn rừng bưng
Và trong tình yêu, là một nhà thơ, dĩ nhiên, ông rất lãng mạn:
Trên đồi trà anh nhìn mây bay
Thử thả hồn mình cùng bay bay
Để tưởng rằng mộng còn như thực
Gặp được em giữa chốn lưu đày
Trên đồi trà anh nhìn chân mây
Để nghĩ mình không còn ở đây
Chốn đói lạnh, đời trăm khổ nhục
Tưởng như địa ngục ở chốn này.
(Trên đồi trà thả hồn chút chơi – trại tù Hoàng Liên Sơn tháng 5.77 – thơ LML trang 88)
Hôm chào mừng nhà thơ Tô Thùy Yên ở nhà thi sĩ Phan Xuân Sinh, cô Phan Duy ngâm cả bài thơ “Ta Về” của Tô Thùy Yên, tôi phục cái tài thuộc thơ của cô P.D. Tới phiên anh em góp vui, LML “trình diễn” bài thơ “Chuyến tàu cuối năm” của ông. Anh em hỏi đùa ông, ông cũng nói đùa rằng đây cũng là bài thơ “Ta Về”. “Ta Về” của TTY là “Ta Về I” bài của ông là “Ta Về II”. Tôi nói LML trình diễn bởi vì khi nói hay khi đọc thơ, không những ông trình bày bằng lời mà thôi mà cả bằng dáng điệu, bộ tịch, như một kịch sĩ chuyên nghiệp, rất hấp dẩn người nghe, người xem như tôi đã giới thiệu ở đầu bài này.
Bài “Ta Về I và II” mỗi bài có một nét đặc sắc riêng. Ta Về của TTY thì đậm nét trầm tư mặc tưởng (Meditation), sâu sắc mà lắng đọng, theo lối trừu tượng, ẩn dụ, ấn tượng, thường thấy trong thơ Miền Nam. “Ta Về II” của LML thì tả chân, hiện thực, sống động, gợi hình, ý và lời như đập mạnh, khắc sâu vào người đọc, người nghe, thành thử rất khó giải thích, phê bình vì nó rõ ràng quá.
…
Hoàng Long Hải
