Nguyễn Kỳ Dzương: MỐI TÌNH MÙA SẦU RIÊNG

Bên Rổ Rau Muống – Tranh: THANH CHÂU

Năm 1969, tôi thi rớt năm cuối cùng trường Luật ở Sài Gòn nên bị động viên liền sau đó. Sau trận “tổng công kích” năm 1968 của quân cộng sản Bắc Việt trên hầu hết các mặt trận trong các thành phố lớn của Miền Nam, nhu cầu bành trướng quân đội và trang bị vũ khí tối tân cho quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã trở nên thiết yếu và cấp bách. Tôi còn nhớ năm đó, quân cộng sản Bắc Việt đã được trang bị súng liên thanh AK 47 của khối cộng sản viện trợ cho Miền Bắc nhưng quân nhân của đại đa số các đơn vị chiến đấu của Miền Nam vẫn chỉ được trang bị súng Garant hoặc Carbine M1, không thể so bì với AK 47 của cộng sản. (Ấy vậy mà cán binh cộng sản bị đánh cho tan tác, không lối thoát!)

Khi tôi vào quân trường thì vẫn tập bắn với súng Garant nhưng dần dần thì sinh viên sĩ quan chúng tôi đã được làm quen với súng trường M16 của Mỹ viện trợ.

Khởi đi từ năm 1968, nhu cầu đào tạo sĩ quan cho quân lực VNCH hầu như quá dồn dập và khả năng tiếp nhận, đào tạo sĩ quan của Trường Bộ Binh Thủ Đức không thể đáp ứng với nhịp điệu dồn dập đó nên các thanh niên thay vì trình diện ngay tại trường BB Thủ Đức, thì phải trình diện tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Trước đây, Trung Tâm này chỉ dành để đào tạo hạ sĩ quan và tân binh cho quân đội. Từ thời đó, thanh niên thuộc tài nguyên sĩ quan, khi bị gọi nhập ngũ, đều phải trải qua 8 tuần đầu huấn luyện quân sự căn bản tại Quang Trung. Thời gian chờ đợi trường BB Thủ Đức có chỗ trống để có thể tiếp nhận chúng tôi từ Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung chuyển lên, có thể từ vài ngày cho đến vài tuần lễ. Trong thời gian chờ đợi, tôi và các bạn thuộc Khóa 3/69 được về nhà “phè phưỡn” hai tuần. Thời gian đó chúng tôi thuộc loại quan không ra quan mà lính cũng không phải là lính! Có mặc quân phục của VNCH nhưng không có phù hiệu đơn vị và chưa mang lon lá gì hết!

Sau hai tuần chờ đợi để được chính thức huấn luyện trở thành sĩ quan, chúng tôi cuối cùng đã được lệnh gọi trình diện trường BB Thủ Đức.

Phải thú thực là khi vào trường quân sự, được huấn luyện để trở thành sĩ quan, hầu như ai cũng hoang mang vì không biết định mệnh sẽ đưa đẩy mình về đâu sau khi ra trường. Mặc dù vậy nhưng chương trình huấn luyện dồn dập trong quân trường cũng không cho chúng tôi có thì giờ ưu tư nhiều nữa.

Đối với tôi, thời gian 7 tháng huấn luyện ở trường BB Thủ Đức lại là một kinh nghiệm khó quên.

Ngay sau lưng trường BB Thủ Đức là một khu đồi (và rừng non) có cái tên rất thơ mộng: Tăng Nhơn Phú.

Chắc chắn các sinh viên sĩ quan của trường BB Thủ Đức đều đã trải qua nhiều kinh nghiệm với khu đồi này. Trong suốt khóa học, chúng tôi đã nhiều lần vào khu rừng ở Tăng Nhơn Phú để thực tập các bài học hành quân khác nhau. Chúng tôi đều lấy làm lạ khi được lệnh hành quân tiến chiếm một tọa độ nào đó trong rừng, đáng lẽ chúng tôi phải phác họa bản đồ, chấm tọa độ, rồi từ đó nhắm hướng mà “kéo quân đi” – thế mà khi nghỉ chân, gặp các cô bán chè, bán xôi, hoặc có khi là hột vịt lộn, các cô hỏi chúng tôi hôm nay đi tọa độ nào, các cô đều biết vanh vách những tọa độ đó nằm ở hướng nào! Thì ra, các cô này là con, em của các huấn luyện viên quân sự cư ngụ trong khu rừng nhỏ này tiết lộ cho biết trước cả rồi. Quanh đi quẩn lại thì trong khu rừng nhỏ và quen thuộc này, được cha hay anh chỉ cho một lần là các cô nhớ hết. Từ đó, mỗi lần được lệnh hành quân vào khu rừng Tăng Nhơn Phú, chúng tôi đều háo hức gặp lại các cô nhỏ này để “đấu láo” cho đỡ mệt và chắc chắn đi đến nơi, về đến chốn!

Một lần, tình cờ chúng tôi khám phá ra một khu vườn trồng cây sầu riêng. Vườn sầu riêng này không lớn lắm nhưng có lẽ lợi tức cũng đủ nuôi cả gia đình chủ vườn. Tôi theo anh em cùng đơn vị vào thăm vườn sầu riêng lần đầu. Hồi đó tôi chưa biết ăn sầu riêng và tôi là “bắc kỳ” duy nhất trong nhóm. Có lần bạn bè thách thức tôi nuốt trôi được một múi sầu riêng thì về khu gia bình trong trường sẽ “khao” tôi một chầu bia.

Có lẽ thấy tôi nước mắt nước mũi, dàn dụa khi cố nuốt trôi miếng sầu riêng, các bạn tôi thì tha hồ cười và chế diễu, chỉ có cô gái con bà chủ là có vẻ thương cảm, khuyến khích tôi. Sau cùng thì tôi cũng chu toàn được cuộc thách đố. Những lần sau đó thì tôi lại cảm thấy sầu riêng ăn rất ngon. Một phần thì đã quen với hương vị của sầu riêng, phần thì vì cô con gái bà chủ tỏ ra muốn chăm sóc tôi tận tình. Tôi được biết cô là con gái út trong gia đình, có tên là Huệ, cô Út Huệ, một cái tên đặc miền Nam.

Những lần hành quân sau, sau khi bố trí quân vào vị trí, tôi tìm cớ tạt vào vườn sầu riêng, để thưởng thức sầu riêng thì ít mà thực tình được thấy cô Út Huệ và trao đổi vài câu nói chuyện thì thực ra, nhiều hơn.

Càng ngày, tôi càng tìm nhiều lý do để ra Tăng Nhơn Phú. Từ khi lên “huynh trưởng” rồi “đại huynh trưởng”, tôi luôn tìm cách dẫn khóa đàn em đi thực tập hành quân. Bây giờ, chúng tôi, các huynh trưởng thuộc khóa trước, dẫn đàn em đi thực tập mà không cần lệnh hành quân cũng như sự hướng dẫn của cán bộ huấn luyện viên nữa.

Có một lần, tôi ra thăm nhà cô Huệ, lúc về, cô dúi cho tôi một bức thư viết tay. Nội dung lá thư cũng không có gì nhiều, chỉ nói về tâm sự của những ngày cô trông mong được gặp tôi. Cô hay đặt những câu hỏi bâng quơ. Một hôm cô viết “phải hôn anh” trong một câu hỏi. Tôi đọc mà thổn thức quá vì không ngờ chúng tôi chưa hề tỏ ra là yêu nhau mà cô Út đã nói phải hôn anh! Trong thư trả lời, tôi cũng đáp lại: Phải hôn em!

Khi tôi ra nhà cô, dúi lá thư hồi âm của tôi vào tay cô và hồi hộp trở về, chờ đợi.

Tuần sau, tôi lại mò ra vườn sầu riêng, có nhìn thấy cô thấp thoáng sau nhà nhưng không thấy cô lên đón tiếp tôi như mọi khi. Tuần sau nữa, tôi lại lò dò (dẫn đàn em) ra Tăng Nhơn Phú. Gặp cô, cô trách tôi tại sao tôi lại dám đòi hôn cô. Tôi bào chữa là tại cô nói phải hôn tôi trước đấy chứ? Cô nguýt cho tôi một cái, đuôi mắt cô kéo dài cả thước! Cô giải thích rằng, đối với người Nam, khi nói phải “hôn” anh thì có nghĩa là phải “không” anh thôi. Tôi ngượng chín cả người ví cứ tưởng bở! Tuy nhiên, từ hôm đó trở đi, cô có vẻ không được tự nhiên với tôi lắm. Đôi mắt “u uẩn” như thầm muốn nói điều gì đó.

Một lần ngồi nói chuyện với nhau ngoài vườn sau, bà mẹ cô Út đi ngang qua, bà nhìn tôi và nói: Mai mốt mà thằng Dzương lấy con út nhà tao, tao cho một bó bạc to bằng cái bắp vế! Cô Huệ nghe mẹ nói như vậy, kêu ầm lên là sao má nói gì kỳ vậy, con không chịu đâu! Bà mẹ tỉnh bơ: Tao nghĩ sao thì tao nói vậy thôi, tùy tụi bay.

Một hôm khác, chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau (thân mật hơn), tôi khen mùi dầu mà cô xức có mùi thơm kỳ lạ, cô chạy vào nhà lấy ra một lọ dầu nhỏ, đưa cho tôi và nói: Đây là lọ dầu dừa, con gái miền Nam thích dùng dầu này lắm, vùa thơm mà vừa mượt tóc. Anh cầm về giới thiệu với vợ anh. Tôi giẫy nẩy, đang học dở dang thì bị đi động viên, vào đây huấn luyện, đâu đã vợ con gì! Sau này nghiệm lại, tôi mới nghĩ ra là cô nàng muốn dò hỏi xem tôi đã có gia đình chưa!

Càng ngày, hình như mối dây thân mật giữa chúng tôi càng được thắt chặt hơn. Một buổi chiều ngồi ngắm hoàng hôn sắp đổ xuồng đồi Tăng Nhơn Phú, tôi buột miệng nói hoàng hôn ở trên đồi này đẹp thật. Cô Huệ nói: Em thì chả thấy đẹp gì cả. Tôi hỏi sao vậy? Cô hỏi lại: Anh đã có dự tính gì sau khi ra trường chưa? Tôi thành thật trả lời: Tôi đâu đã tính được gì vì sau khi ra trường tôi không biết sẽ về đơn vị nào. Một chuẩn úy mới ra trường, được điều động về bộ binh, nắm một trung đội, sáng sớm đi dò mìn, gỡ mìn của Việt cộng đặt trên các tuyến đường xe đò đi về lục tỉnh, có khi lon chưa khô mà đã leo lên bàn thờ ngồi. Cô lấy tay bịt miệng tôi, thổn thức nói: Em không muốn nghe anh nói như vậy. Em sợ lắm. Cô biết rằng tôi nói thật vì sống trong cái môi trường tiếp xúc với các sinh viên sĩ quan, khóa này sang khóa khác, năm này sang năm khác, cô vẫn biết đây là sự thật xảy ra cho các chàng trai thời chiến nhưng cô lại không muốn nghe nói từ chính miệng tôi.

Thời gian cứ vậy mà trôi đi, chúng tôi chuẩn bị ra trường. Một hôm gặp nhau chiều thứ sáu, cô nói: Tuần này, anh đừng đi phép về nhà nữa được không? Tôi muốn biết cô định làm gì. Cô nói: Em muốn đi với anh ra chợ Biên Hòa ăn cơm tấm. Tôi nhận lời ngay vì không về nhà một kỳ nghỉ phép cũng đâu có sao.

Thú thực, tuy tôi ở Sài Gòn đã lâu, nhưng chưa một lần đến thăm thành phố Biên Hòa. Chợ Biên Hòa thì lại càng không biết gì. Chúa Nhật hôm đó, tôi mang ra nhà cô Huệ một bộ đồ “xi vin”, leo lên xe “lam”, theo cô ra chợ Biên Hòa. Cô tất tả đi trước dẫn đường, trông dáng rất quen thuộc. Tôi thả bộ theo sau. Đến sạp bán cơm tấm, cô giới thiệu tôi với bà dì, chủ của sạp cơm tấm. Bà dì ân cần lấy đĩa thức  ăn cho tôi. Mặc dù không được giới thiệu chính thức nhưng qua ánh mắt của bà, bà có vẻ biết tôi là ai. Nhìn cái đầu tóc ngắn không thể ngắn hơn được của tôi, bà ngầm hiểu rằng cô cháu gái của bà muốn giới thiệu anh chàng sinh viên sĩ quan này là bạn trai của cô. Sau chầu cơm tấm, cô lại dẫn tôi sang gian hàng bán nước rau má, toàn món của người miền Nam!

Chiều đã xuồng hẳn mà dường như cô chưa muốn về. Sau cùng thì chúng tôi cũng phải leo lên xe lam, trở về Tăng Nhơn Phú. Tôi không bén nhậy chuyện tình cảm như các nàng con gái nên tôi không biểu lộ cảm tưởng gì. Cô Huệ thì có vẻ suy nghĩ dữ lắm. Cô lộ vẻ buồn ra mặt.

Về đến cửa nhà cô, cô đưa tôi vào nhà để thay quần áo, mặc lại bộ quân phục trở về trường vì trời đã tối. Cô nắm chặt tay tôi và dúi vào tay tôi một chiếc khăn tay. Hình như cô đã chuẩn bị cho việc này từ trước. Cô chạy vào nhà và khóc nức nở. Tôi lúng túng không biết nên làm gì. Sau cùng, tôi quyết định ra về. Lòng tôi cũng buồn rười rượi. Giở chiếc khăn ra thì mới thấy đây là chiếc khăn tay có thêu hai chữ H và D lồng vào nhau. Trong khăn tay cũng có một ít tiền lẻ cho tôi dằn túi.

Đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất chúng tôi cầm tay nhau.

Đó là những ngày sau cùng chúng tôi còn ở trong trường BB Thủ Đức. Một tuần sau chúng tôi làm lễ mãn khóa. Trong những ngày này, chúng tôi vô cùng bận rộn, thực tập các thủ tục cho lễ mãn khóa. Thú thật, lúc này, chúng tôi đều háo hức chuẩn bị cho ngày tốt nghiệp. Tôi phải thú tội rằng trong tuần lễ cuối cùng này, hình ảnh cô Huệ hoàn toàn không nằm trong tâm tưởng của tôi.

Sau khi tôi về đơn vị được một thời gian ngắn thì có tin trung đội thuộc đại đội của tôi khi trước cũng đi thực tập bài học Vượt Sông ở một con sông nhỏ sau trường BB Thủ Đức, bị trúng mìn phục kích của việt cộng, ông thiếu úy Trọng, cán bộ mới tốt nghiệp trường Fort Benning về và một vài anh em sinh viên sĩ quan khác bỏ mình tại chỗ. Một vài anh em khác bị thương, được đưa về bệnh xá điều trị.

Không lâu sau, tôi được điều động đi học khóa huấn luyện sĩ quan căn bản Quân Cảnh ngoài Vũng Tàu. Vùng Tăng Nhơn Phú bị coi là vùng “xôi đậu”, không an toàn, ai không có việc gì cần về đó thì không nên về. Tổng cộng dễ đã cả năm, tôi không có ý định trở về Tăng Nhơn Phú.

Hôm nay, tôi ngồi viết lại tâm tình này như một lời tạ tội. Câu chuyện tình vô vọng này đã xảy ra cách nay đúng 55 năm. Thỉnh thoảng tôi vẫn thoáng nhớ đến người xưa. Mọi chuyện đã an bài. Tôi hằng cầu xin để cô Huệ luôn bằng an và hạnh phúc. Em xứng đáng được hạnh phúc. Xin tạ lỗi cùng em.

Tâm sự của người bên kia ảo ảnh:

Tôi không nhớ rõ là gia đình chúng tôi đã về lập nghiệp ở xã Tăng Nhơn Phú này bao lâu rồi. Từ từ rồi những cây sầu riêng trong vườn cũng lớn hơn nhiều, mỗi năm đã có thể kêu người đến bán “mão”. Họ ngắm nghía, ước lượng xong rồi trả giá. Đến mùa trái chín đều, họ cho người, cho xe đến hái và chở đi. Cứ đến mùa này là nhà tôi rộn rã, tưng bừng, tiếng cười, tiếng nói. Dĩ nhiên mẹ tôi là người sung sướng nhất vì bà sẽ nhận được một gói bạc mặt, “to bằng cái bắp vế”.

Tôi cũng đã quen với những tiếng cười nói rộn ràng, không phải từ những lái thương, mà từ các anh chàng sinh viên sĩ quan của trường Bộ Binh Thủ Đức thực tập hành quân, đi ngang và tìm dịp ghé vào vườn chúng tôi.

Chúng tôi ở đây đã lâu nên biết rành rõ thời khóa biểu, lịch trình “hành quân” của những khóa học nối tiếp nhau, năm này qua năm khác. Mỗi năm, dễ đến phải vài trăm người mới vào và cũng phải vài trăm người tốt nghiệp, rời trường.

Trong những lần ghé thăm vườn của các chàng thanh niên tinh nghịch vô tư ấy, có một hôm, tự  nhiên linh cảm của tôi cho tôi biết rằng, trong những anh chàng này, có một anh sinh viên đã chiếm một chỗ đứng đặc biệt trong tim tôi.

Anh tên là Dzương, có vẻ ít nói nhất, hơi bị lạc lõng vì anh là người duy nhất trong đám bạn là người Bắc, nói giọng Bắc và không biết ăn sầu riêng. Tội nghiệp, có một lần bị bạn bè thách thức, trong nước mắt nước mũi dàn dụa, anh cố nuốt trôi miếng sầu riêng để không thua cuộc với bọn bạn tinh quái.

Cũng lạ, từ đó trở đi, anh lại biết thưởng thức sầu riêng và lần nào ghé thăm, cũng phải có được một vài múi. Được cái là đây là món đặc sản của Tăng Nhơn Phú, và lại là cây nhà lá vườn, dễ có và dễ “chiều”.

Câu chuyện từ từ thành sự thực, Dzương hay tìm cách đến vườn sầu riêng nhà tôi nhiều hơn, khi bắt đầu mang “con cá” trên cổ áo trận, từ “con cá một đuôi” đến “con cá hai đuôi”, anh lại càng có nhiều cớ, dẫn dắt khóa đàn em đi thực tập ở trên đồi Tăng Nhơn Phú. Anh cũng có nhiều cơ hội để ghé thăm tôi hơn.

Có lẽ đây cũng là lúc mối tình của chúng tôi ươm đậm đà mùi sầu riêng hơn. (Ủa, mình có nói yêu nhau bao giờ đâu mà mơ mộng vậy cà?)

Thỉnh thoảng, chúng tôi trao đổi vội vàng một lá thư viết tay vì những nhung nhớ không thể nói ra. Thư trao đi rồi bắt đầu trông đợi thư hồi âm. Dù cũng chỉ là những đối đáp bâng quơ nhưng có lẽ người viết cũng như người nhận, đều thổn thức như nhau. (Mình đang mơ mộng và tưởng tượng quá đây chăng?)

Có một lần, trong bức thư viết tay của mình, tôi nhớ tôi có hỏi “phải hôn anh?” Đối với học trò người miền Nam, chữ “hôn” ở đây chỉ là chữ “không”, phải không anh? Thế mà cu cậu tưởng bở, trong thư trả lời mình, “dám” nói “phải hôn em”. Ông này quá lắm rồi. Không khù khờ như mình tưởng. Mình hạch tội rồi nguýt cho một cái, nghiêng “thùng” đổ nước. Cũng tội nghiệp, chỉ vì một chút khác biệt của ngôn ngữ. Anh chàng trông khổ sở vị bị “mắng vốn” không đâu.

Một lần khác, chàng khen tôi có mái tóc mượt mà, thơm thoang thoảng nhưng không biết đó là mùi gì. À thì đây là cơ hội để “điều tra” xem chảng có gia đình chưa. Tôi nói đó là mùi thơm của dầu dừa. Con gái người Nam, người nào cũng thích dùng dầu dừa này. Vừa có mùi thơm trinh nguyên, vừa giúp mái tóc óng ả. Tôi tặng chai dầu dừa và nói: Anh đem về tặng cho vợ! Anh chàng dãy nẩy, anh mới học xong là bị động viên liền, đã làm gì có vợ?

Mẹ tôi cũng có vẻ ưng bụng với chàng sinh viên sĩ quan này nên đã có lần bà nói: Thằng Dzương mà mai mốt lấy con Út nhà này, tao cho một “cục tiền to bằng cái bắp vế”! Tôi mắc cở chín người, hét ầm lên: Má, sao má nói kỳ zậy? Con không chịu đâu.

Thời gian cứ thế mà trôi đi, gần đến ngày mãn khóa, chàng sẽ tốt nghiệp và sẽ xa rời Tăng Nhơn Phú. Cứ nghĩ đến đây là lòng tôi quặn đau. Nước mắt cứ thế mà tuôn rơi.

Một hôm, tôi bạo dạn hỏi Dzương về dự tính của anh sau khi ra trường. Anh cũng thành thật, chậm rãi giải thích cho tôi rằng một người sĩ quan mới ra trường, với cấp bậc chuẩn úy, chưa biết số phận sẽ đưa đẩy về đâu. Ra tiền tuyến có khi “ngồi” chưa nóng chỗ thì đã leo lên bàn thờ rồi thì bây giờ đâu đã tính gì được?

Tôi cũng cảm nghiệm được điều này, nhưng vẫn muốn nghe chàng nói. Tôi chỉ biết thẫn thờ ngồi cạnh chàng cho đến hết buổi chiều. Chàng luôn nói: Buổi chiều trên đồi Tăng Nhơn Phú đẹp chi lạ. Chiều nay tôi không thấy đẹp như mọi khi.

Còn hai tuần nữa là chàng ra trường. Tôi muốn có dịp ở cạnh chàng lâu hơn và nhân thể, giới thiệu chàng với một người bà con bên mẹ tôi có sạp bán cơm tấm ở ngoài chợ Biên Hòa.

Chúa nhật đó, chàng không đi phép về Sài Gòn, ra nhà tôi thay bộ quần áo “xi vin” và đi cùng tôi ra chợ Biên Hòa. Tôi đã có dịp bán chính thức giới thiệu “người trai thời chiến” với bà dì tôi. Tôi được sống trọn vẹn một ngày với anh.

Về đến nhà, lòng tôi cứ nặng trĩu vì biết rằng thời giờ ở bên nhau sắp hết, không có cách nào kéo dài hơn được. Trong khi chờ chàng thay lại bộ đồ trận, tôi sửa soạn sẵn chiếc khăn tay tôi thêu tặng chàng, có hai chữ D và H quấn vào nhau. Khi chia tay, có lẽ cả hai đều linh cảm đây là lần cuối cùng gần bên nhau. Cả hai chúng tôi đều bịn rịn, không rời. Tôi trao vội vào tay chàng chiếc khăn tay, có gói sẵn vài trăm đồng cho chàng dằn túi rồi chạy vội vào nhà, không cầm được nước mắt cứ lã chã tuôn rơi.

Bộ quần áo xi vin chàng để lại đã được giặt ủi tử tế và được treo trong tủ áo của tôi.

Thế rồi một tuần, hai tuần, ba tuần, rồi một tháng, hai tháng, ba tháng… chàng vẫn biệt tăm, chưa một lần về thăm lại Tăng Nhơn Phú. Sau này, một tai nạn đã xảy ra cho đại đội cũ của chàng ngay sau cổng trường Thủ Đức khiến cho mấy sinh viên và một sĩ quan cán bộ bỏ mình tại chỗ.

Năm đó, tôi không thi đậu tú tài hai nên giấc mộng về học trường Văn Khoa để có cớ và có thì giờ đi tìm lại chàng cũng tiêu tan. Nghe chàng nói là gia đình chàng sinh sống ở khu trường Đắc Lộ, Ngã Tư Bảy Hiền.

Mãi cho đến cả năm sau, tôi mới nguôi ngoai, buổi tối không còn đẫm nước mắt trong giấc ngủ chập chờn.

Anh ơi, em nghĩ về anh như một mối tình vô vọng. Anh có thể là kẻ bạc tình đến thế sao?

Dù sao, em vẫn không dám trách anh vì người trai thời loạn, mấy ai ra đi mà có thể hẹn trở về? Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi? Em chi biết cầu mong anh được bình an và còn nhớ đến em.

Em bắt chước nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, tặng anh bốn câu thơ:

Em cầu em với Dzương,

Mãi mãi bước chung đường,

Xin Phật Trời chứng giám,

Nguyện muôn kiếp còn thương.

Em, Trần Thị Huệ

Nguyễn Kỳ Dzương

Bài Mới Nhất
Search