Tranh (Nguồn: VNEXPRESS)
Tôi sinh ra ở Hà Nội, cùng gia đình di cư vào Nam năm 1954 và sống ngay trong thành phố Sài Gòn. Gần cuối năm 1955, khi gia đình tôi đã sinh sống ở Sài Gòn được một năm, thủ tướng Ngô Đình Diệm cho tổ chức cuộc trưng cầu dân ý để truất phế (Đức Quốc Trưởng) Bảo Đại. Từ đó, đồng bạc có mệnh giá một đồng, ở giữa có hình Bảo Đại dần dần bị loại bỏ bằng cách cho xé làm hai, tiêu mỗi một nửa như là “năm cắc”. Tôi đang học tiểu học, quen với cách tiêu năm cắc này, cứ tan trường ra, trên đường về là thế nào cũng ghé vào xe nước đá của “chú Ba” để mua năm cắc nước đá nhận. Buổi trưa oi bức của Sài Gòn, vừa đi vừa thưởng thức món “xi rô” ngọt lịm, mát rượi thì không còn gì thú vị bằng!
(Trước năm 1954, ở ngoài Hà Hội, đá lạnh thì vô cùng quý hiếm, không có món nước đá nhận, và không có cái chuyện đầy một ly nước đá bào, đổ “xi rô” lên trên, ngon như thế mà bán có 5 “hào”. Thỉnh thoảng, mùa hè ở Hà Nội, giò Lào thổi sang nóng như đang ở trong lò lửa, mẹ tôi “rộng rãi” pha một liễn nước chanh, bỏ vài cục đá vào là cả nhà xuýt xoa!)
Một hôm, như thường lệ, tôi gọi năm cắc nước đá nhận, móc trong túi ra một nửa đồng Bảo Đại trả cho chú Ba. Chú trợn mắt nhìn tôi: Đồng này bị cấm xài rồi, có tiền khác không? Tôi toát mồ hôi vì đó là đồng bạc duy nhất tôi có trong túi. Chú Ba thấy vậy, cũng thương hại vì biết là tôi còn nhỏ, không nghe lệnh mới của chính phủ, đã cấm không cho xài tiền Bảo Đại nữa. Chú nói: Thôi được rồi, mai mang tiền khác ra trả. Zìa đi. Mắc dịch!
Tôi nghiệm rằng khi người Nam phát âm “mắc” thì người Bắc sẽ phát âm là “mắt”. Người Nam nói “dịch” thì người Bắc chúng tôi sẽ hiểu là “vịt”. Trên đường về nhà, tôi thắc mắc không biết tại sao mắt mình thế này mà chú Ba lại gọi là “mắt vịt”?
Tôi về khoe lại với cô hàng xóm người Nam là hôm nay có người “khen” mắt tôi là mắt vịt! Cô hàng xóm hỏi rõ câu chuyện xong thì lăn ra cười, cô ấy nói: ông ơi sao ông ngu quá dzậy? “Mắc dịch” này không tốt.
Tôi vẫn cứ thắc mắc là sao người Nam khó hiểu vậy? Có lúc “mắt vịt” thì tốt, có khi “mắt vịt” thì lại không tốt?
(Hóa ra tôi đã có khiếu ngữ học từ nhỏ, biết phân tích cách phát âm khác nhau của người Bắc và người Nam! Thảo nào, lớn lên chuyên dạy sinh ngữ.)
Cứ thế mà tôi lớn lên. Tôi sống trong chế độ tự do và được giáo dục bởi một nền văn minh nhân bản.
Tự dưng hôm nay, ngẫm lại, sau hơn 45 năm phải lìa xa thành phố tôi sống cả thời niên thiếu, tôi nhớ Sài Gòn quá đỗi. Chắc chắn rằng đây không phải là cảm giác của riêng tôi mà của rất nhiều người trong lứa tuổi – ở VN họ gọi là U80.
Ngay từ khi mới vào sống và làm quen với thành phố Sài Gòn với bao nhiêu sự hiểu lầm (vô hại) vì khác biệt về ngôn ngữ, tôi đã cảm nhận được nhiều điều hay ho, tân tiến và văn minh của Sài Gòn. Hôm bà ngoại tôi ra đón mẹ con chúng tôi mới xuống tàu ở Bến Bạch Đằng về Đa Kao (bằng xe “xích lô máy”), anh em chúng tôi cứ phải nhắm nghiền mắt vì thấy “bác tài” cứ lao vùn vụt!
Khi còn ở Hà Nội, mặc dù chưa lớn lắm, nhưng tôi đã biết đến những sản phẩm đưa từ bên Pháp sang như xe đạp Peugeot, rượu “tây” Cointreau, bánh “Lu” ăn với rượu Champagne, v.. v.. Ở trong Sài Gòn thì có những thứ lạ mà ngoài Hà Nội chưa bao giờ có như xe xích lô máy, phố xá rộng thênh thang, những rạp chiếu bóng to lớn, mát lạnh, và nhiều khu buôn bán sầm uất. Ngày ấy, theo cảm nhận của tôi, hình như người Hà Nội sống chừng mực, có phần “e lệ”, không ồn ào, không vội vã. Đặc điểm của Hà Nội thời bấy giờ là có bốn mùa rõ rệt. Vào mùa thu và mùa đông, các bà, các cô tha hồ diện áo nhung “lông bò liếm” hoặc áo dài nhung xanh đậm khoác bên ngoài một áo lạnh cũng may bằng nhung màu đen tuyền. Quý ông và quý anh thì “chơi” những bộ “vét” nỉ xanh đậm, đội mũ “phớt” bằng nỉ đen, và không thể thiếu đôi giày “deux-couleur” đen và trắng!
Tôi còn nhớ một điều đặc biệt khác là những cái xe đạp của các cô người Hà Nội thuở ấy phải có hai tấm lưới bằng cao su (có bọc chỉ màu rất đẹp và rất công phu) căng hình chiếc nan quạt, từ trục bánh xe sau lên vè xe để tà áo dài của các cô không bị cuốn vào nan bánh xe hoặc tệ hơn là bị cuốn vào “xích”. Trên chỗ giao nhau của hai dây “phanh” trước xe, thế nào cũng phải buộc với nhau bằng một con búp bê len.
Người “Sè Gòong” thì lại ăn mặc xuề xòa hơn có lẽ vì trời nóng bức. Trong xóm của tôi ở Đa Kao, rất nhiều quý ông, ban ngày chỉ quấn trên mình vỏn vẹn có mộ cái “xà rông”, khoe cái bụng “la dze (bia)” thỗn thện, cái mà người Bắc chúng tôi chưa bao giờ nhìn thấy!
Cứ như thế mà tôi lớn lên lúc nào không hay. Ngoài những buổi học chính, tôi còn học thêm Anh Văn và Pháp Văn. Việc luyện thêm sinh ngữ này hình như cũng là một phần của định mệnh, kiến thức và khả năng sinh ngữ đã giúp tôi rất nhiều trong cuộc sống sau này.
Nhân đây, tôi cũng muốn nói thêm về cái cơ duyên, một phần định mệnh, đã khiến tôi thích học sinh ngữ: Trong khi tôi đang học tiếng Việt ở một trường tiểu học tại Đa Kao thì cậu tôi lúc ấy đã học trường Chu Văn An Sài Gòn, cậu thích đi học thêm môn Anh Văn. Cậu xin vào học trường Anh Văn Khải Minh. Gọi là “trường” nhưng thật ra, đó chỉ là một cái miếu nhỏ ở đường Trần Quang Khải, bà Khải Minh thuê một căn phòng nhỏ trong miếu, chỉ có một ngọn đèn mù mờ treo trên trần. Ban đêm, tại đây, các bác đánh xe thổ mộ (xe ngựa) chuyên chở các bà, các chị đi buôn bán rau cỏ ở các chợ, về đây tạm trú qua đêm. Các chú ngựa tha hồ mà phóng uế tại chỗ. Sáng sớm, trước khi đánh xe đi chợ, các bác đã dọn dẹp, nhưng ngày này qua ngày khác, sân miếu đã trở nên khai kinh khủng. Ban ngày, bên ngoài bức tường của miếu thì có một số thợ hớt tóc, thợ sửa bút, sửa khóa v..v.. nhờ nơi này sinh sống. Thỉnh thoảng, tôi cũng có đến đây cắt tóc.
Ảnh (Tác Giả thời học sinh ở Sài Gòn)
Cậu tôi hay rủ tôi đi theo học Anh Văn tại đây vào buổi tối cho đỡ sợ. Các học sinh có đóng tiền cho “trường” thì được xắp ngồi phía trên, gần thầy, gần bảng. (Các “học sinh” này là các anh chị đã đi làm, một vài ông sư, vài người công chức muốn trau dồi thêm sinh ngữ và một số ít học trò trẻ như cậu tôi). Tôi là một đứa trẻ con, ngồi tuốt ở bên dưới, không ai để ý. Có lần, thầy hỏi một câu về văn phạm, cả lớp không ai trả lời được. Tôi như một phản xạ tự nhiên, ở cuối lớp, giơ tay trả lời đúng phóc! Ông thầy (và cả lớp) ngạc nhiên, ở đâu ra cái thằng nhỏ này, mà nó lại giỏi như vậy! Thầy kêu tôi lên bảng, viết một câu mẫu, dùng điểm văn phạm mà thầy đã dạy. Thầy ưng ý quá mức. Hỏi về nguyên nhân tôi có mặt trong lớp và từ đó thầy cho tôi ngồi hàng trên, cùng các anh chị khác mà không phải đóng tiền học. Sau này, khi tôi đi học để trở thành thầy giáo, mới biết rằng trẻ con vẫn có cái khả năng tiềm tàng trong óc nó, mọi điều một đứa trẻ nghe được, đều tự động in vào óc nó mà không cần phải vận dụng để nhớ như người lớn, nhất là khi cần học sinh ngữ.
Sau này, khi lớn lên, sau trường Khải Minh, tôi vẫn tiếp tục học sinh ngữ. Riêng môn Anh Văn, tôi đã có cái may mắn được truyền dạy từ các bậc thầy nổi tiếng của Sài Gòn thời bấy giờ: Lê Bá Kông, Lê Bá Khanh, Đỗ Đình Tuân, Nguyễn Ngọc Linh, v..v..
Sau cuộc cách mạng của giới quân nhân Việt Nam Cộng Hòa năm, 1963, các quán bar; vũ trường; “Bal”, “Boom”, được phép họat động tự do, chúng tôi thời đó còn là học sinh trung học, cũng tha hồ đua đòi, nhẩy nhót tưng bừng.
Tôi cũng muốn nhắc lại kỷ niệm của những buổi chiều tà tà, vừa thong thả dạo chơi, vừa cầm trên tay ngắm nghía những cuốn sách cũ, của các lứa đàn anh, đàn chị, đã dùng qua, nay không cần giữ nữa, đem ra bán lại cho các sạp buôn bán sách cũ dọc đường (Bonard) Lê Lợi. Mua được cuốn nào đang có ý tìm lại còn lành lặn mà giá lại rẻ hơn sách mới rất nhiều thì cô cậu nào cũng hý hửng ra mặt.
Thời bắt đầu biết mơ mộng (có lẽ mặt còn búng ra sữa), tôi đã biết “làm le” với các nàng “kiều” đỏng đảnh bằng cách mời các nàng đi uống trà đen, pha sữa ở các nhà hàng như Pôle Nord ở góc thương xá Tax, hoặc tập tễnh đi uống bia với các anh lớn ở Brodard, Givral, Thanh Thế, ăn sáng bánh mì thịt nguội ở Thanh Bạch v..v.. Tuyệt đối chưa bao giớ dám vào Continental vì tôi biết rằng nơi đó dành cho các “bậc trưởng thượng”, các nhà văn, nhà thơ lớn, có “máu mặt”. Lúc này, tôi cũng cần phải kể thêm kỷ niệm lúc làm ra vẻ “ta đây”, mò về tận Ngã Ba Ông Tạ để có thể khoe với bạn rằng mình đã từng uống cà phê ở quán cà phê Thăng Long! Ông chủ quán Thăng Long này trông đẹp mã quá mức. Ông mặc quần soọc trắng, đi chiếc xe mô tô bóng loáng, bên hông có kẹp một cái vợt tennis! Chắc chắn, đây là niềm mơ ước của nhiều thanh niên thời đó, có cả tôi trong số này!
Sau này, khi đang học Luật, tôi có đi làm thêm cho Mỹ ở cơ quan USAID, số 85-87 Lê Văn Duyệt, trước cửa Tổng Liên Đoàn Lao Công VN, có tý tiền dằn túi thì bắt đầu mon men sang bên đường Catinat, Tự Do, khám phá các trung tâm thương mại và các hiệu bán đồ cổ bên đó. Tôi còn nhớ rõ là lần đầu tiên được xem một đoạn video nhạc trên màn ảnh TV màu trong tiệm cà phê Saigon Departo trên đường Tự Do. Tên của bản nhạc thì tôi nhớ mãi đến bây giờ: bài “Strangers in the Night” do ca sĩ Frank Sinatra hát (1966).
Chắc nhiều bạn cũng còn nhớ những kỷ niệm về chuyện đi xem xi nê như tôi: Hôm nào dẫn được nàng nào có vẻ “chịu đèn” thì sẽ xem xi nê (phim gì cũng không cần biết) ở rạp Eden trong thương xá Eden vì ở trên lầu hai, có những bức tường sau lưng, lỡ có “mi” nhau một cái thì không có ai đàng sau để nhìn thấy! Hôm nào chỉ thuần túy “cúp cua” đi xi nê với bạn thì vào rạp Lê Lợi vì phía trước màn ảnh, có cái đồng hồ treo tường, nhìn đấy để mà biết giờ về.
Tôi vẫn tự cho là mình có khiếu và giỏi Anh, Pháp Văn nhưng cho tới lúc đó, vẫn còn một cái “bé cái lầm” tai hại: Tất cả các bộ phim ngoại quốc đưa vào trong nước, đều chuyển âm và lấy tựa của phim bằng tiếng Pháp, tôi ngây thơ “cụ”, vẫn cứ đinh ninh là mọi phim đều là của Pháp. Thậm chí những phim “rặt” Mỹ như Les Sept Mercenaires; Les Canons De Navarone; Ils n’ont Que Vingt Ans; Vacances à L’italienne v..v.., mà vẫn “nghĩ” là do Pháp đóng và sản xuất!!! Bây giờ, nghĩ lại về cuốn phim do Chris Mitchum đóng, rất hay, muốn tìm xem lại, mà không biết tựa đề của phim bên tiếng Mỹ là gì. Đó là cuốn phim “Meurtre au Soleil”, tên Việt là “Tình Thù Rực Nắng”. Chỉ có mỗi phim My Fair Lady do nữ tài tử Audrey Hepburn và tài tử Rex Harrison đóng (1964, được 8 giải thưởng âm nhạc) thì vẫn giữ nguyên phát âm cũa người Ăng Lê, rất khó nghe!
Người trong ảnh, mặc áo dài trắng, tóc kiểu “cánh cụp cánh xòe” bên cuốn ra, bên cúp vào, thời trang lúc bấy giờ, của ca sĩ Sylvie Vartan, là người đã từng gục trên vai tôi khóc hết nước mắt chỉ vì lý do hai gia đình theo hai tôn giáo khác nhau. Gia đình tôi theo đạo Phật thuần thành và bên nhà cô nàng lại theo Thiên Chúa Giáo. Tôi cũng từng chết đuối trong dòng nước mắt ấy.
Chính trong thời gian này, nhạc trẻ ngoại quốc du nhập vào Việt Nam khá nhiều. Tôi có một người bạn là một tay trống trong môt ban nhạc “bỏ túi” nhưng được cái là anh chàng này hay cho tôi theo phụ khiêng vác đàn, trống nên biết khá nhiều bản nhạc ngoại quốc. Đài Phát Thanh Sài Gòn và Đài Phát Thanh Quân Đội, vào buổi chiều, hay có những chương trình nhạc (ngoại quốc) yêu cầu. Tên tôi không chiều nào vắng mặt trên các làn sóng đó. Ngày nào tôi cũng gửi thư vào yêu cầu nhạc, hết bản nọ sang bản kia. Tôi còn nhớ có một “kỳ phùng địch thủ” với tôi trong chương trình này là một người (tôi đoán là con gái) có tên Ti Ti Công Lý. Hễ bài nào có tên tôi yêu cầu là sẽ có tên của người (cô nàng) này.
Tôi cứ trưởng thành hơn theo thời gian. Đậu tú tài một ở trường trung học Nguyễn Trãi. Lúc đó, trường Nguyễn Trãi chưa có lớp đệ nhất (1964) nên tôi được gửi sang học ké trường trung học Chu Văn An. Tốt nghiệp trung học năm 1965 và bắt đầu vô trường Luật từ đó. Vừa học Luật, vừa làm trong cơ quan USAID, có tý tiền và có hơi hướm “cậu” nên ăn chơi vi vút, từ đó không “thèm” đi coi xi nê ở các rạp nhỏ nữa mà “leo” lên các rạp lớn, nổi tiếng sang trọng của thời đó như Rex, Đại Nam để xem các phim trên các thước phim 70 mm, với các kỹ thuật tân kỳ hơn như TechniColor, Panorama v…v…Sau này, khi trưởng thành hơn và cũng có tý tiền còm nên tôi và một vài người bạn cũng bắt đầu mon men vào phòng trà của anh Jo Marcel và vũ trường Queen Bee…Vẫn chưa dám vào tận Chợ Lớn nghe nhạc tại Ritz.
Một kỷ niệm đẹp nữa của Sài Gòn là phong trào sưu tầm tem thư. Hồi đó tôi cũng bắt chước theo các bậc đàn anh, đàn chị, bày đặt sưu tầm tem thư. Cố tìm cho bằng được bộ tem Vua Bảo Đại và bà Nam Phương hoàng hậu, v…v… Tôi đã vô cùng thích thú với các con tem của Madagasca, sao đẹp thế không biết? Các con tem đều in khổ vuông, lớn, sáng bóng mà hình trên các con tem đều rất đẹp. Sau này mới phát giác ra là Madagascar nghèo không…kém quốc gia nào! Tôi cũng không lỡ một dịp phát hành tem mới của Việt Nam Cộng Hòa. Hôm ấy, thế nào tôi cũng có mặt sớm để mua được hai, ba con tem trong bộ sưu tập của nó (không có tiền để mua cả bộ), dán lên phong bì của dịp đó, đưa cho các bác nhân viên để xin con dấu bưu điện Sài Gòn ghi nhận ngày phát hành đầu tiên. Tôi tình cờ gặp được chị Huyền trong một dịp săn tem trong ngày phát hành đầu tiên. Chị luôn luôn mặc áo dài tươm tất và thoang thoảng mùi nước hoa, đã làm tôi ngơ ngẩn! Tôi cố mời chị về nhà tôi cốt để giới thiệu với các anh ở trọ học nhà tôi. Không nảy được mối tình nào!
Sau trận Mậu Thân, sinh viên của các trường đại học ở Sài Gòn đều phải tham gia chương trình Quân Sự Học Đường là khóa huấn luyện căn bản quân sự, bao gồm tập bước đều, các động tác cơ bản thao diễn thông thường, một ít kỷ luật quân đội, v..v.. Chúng tôi cũng được phát súng và cũng được cắt đặt đi tăng cường canh gác thành phố cùng các đơn vị quân đội, cảnh sát, v..v..
Sinh viên Quân Sự Học Đường được may một bộ đồng phục ka ki vàng, đội nón “calô” cũng bằng ka ki vàng, đi giày Bata trắng. Tự nhiên người dân Sài Gòn bất ngờ trông thấy một lũ “quỷ nhỏ” chạy vàng trời thành phố! Chúng tôi hồi đó bị nhiều người gán cho cái tội “kiêu binh”. Quả thực họ cũng không ngoa gì vì lúc này, các chú cảnh sát biết chúng tôi là tài nguyên quốc gia, sẽ bị động viên đi sĩ quan, họ không thèm xét giấy. Còn các quân nhân quân cảnh trong các toán tuần tra hỗn hợp này cũng không thèm hỏi giấy tờ chúng tôi vì chúng tôi chưa phải là lính! Tôi thậm chí còn lợi dụng danh nghĩa là sinh viên Quân Sự Học Đường, ra vào USAID Sài Gòn vẫn diện nguyên bộ đồng phục ka ki vàng vào sở. Đôi khi cũng lấy cớ phải đi tập quân sự, hay đi gác, và lấy giờ nghỉ, chính phủ Mỹ vẫn phải trả lương. Đúng là kiêu binh!
Một lần, kiêu binh chúng tôi được cắt đặt gác ban đêm tại Câu Lạc Bộ du thuyền của giới thượng lưu và của người ngoại quốc ở Bến Bạch Đằng. Chúng tôi đến sớm để nhận mật lệnh và lịch trình canh gác. Chúng tôi được ông quản lý mời vào câu lạc bộ giải khát. Chúng tôi mặc dù không uống bia rượu gì mà đứa nào cũng lâng lâng vì sung sướng quá, chưa bao giờ chúng tôi dám mơ tưởng có ngày vào câu lạc bộ này giải khát cả!
Tôi vừa nói về những kỷ niệm đẹp của thời niên thiếu của tôi trên đất Sài Thành. Sài Gòn vẫn mãi trong tôi.
Nguyễn Kỳ Dzương


