Hoàng Hưng: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA THƠ (2) – MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ THƠ HIỆN ĐẠI

Hội Họa và Thi Ca – Tranh: Sheila Arora (Nguồn: skarora.com)

1/Nên xem xét khái niệm “thơ hiện đại” trong tính lịch sử cụ thể: Trước nhất là phải căn cứ vào sự phát triển thơ trong từng nước, từng nền văn hoá. Thí dụ: ở Pháp, thơ “tượng trưng” (symbolisme)  (Baudelaire, Rimbaud) được coi là “tiên khu” (precurseur) của thơ hiện đại với việc khai phá cái siêu nhiên (surnature) thông qua những “biểu tượng” bằng con đường giao hoà mọi giác quan, đặc biệt đề cao tính khơi gợi của nhạc thơ;  thơ “hiện đại” đúng nghĩa bắt đầu từ Mallarme, Lautreamont rồi Apollinaire; “chủ nghĩa hiện đại” (modernisme) bắt đầu từ Dada, Siêu thực. Ở Mỹ người ta lại coi  Walt Whitman là “người tiên khu” của thơ hiện đại với tinh thần dân chủ, thể thơ tự do; “chủ nghĩa hiện đại” ra đời với thơ “duy hình tượng” (imagism) của Ezra Pound, W.C.Williams mà đặc điểm là: phá tiết tấu đều đặn, hình ảnh sắc nét, cô đúc, ngôn ngữ đời thường. Ở ta, do những đặc thù của sự phát triển văn hoá Việt nói chung và của thơ Việt nói riêng, khó có một sự xác định rạch ròi khái niệm “thơ hiện đại Việt Nam”. Tôi muốn nói là có cả một quá trình “hiện đại hoá” kéo dài từ những năm 1930 đến nay, bắt đầu từ việc thoát ra khỏi ảnh hưởng thơ cổ điển Trung Hoa, tiếp đến những nỗ lực thoát ra khỏi chủ nghĩa lãng mạn, cho đến những ảnh hưởng đầu tiên của tinh thần “hậu hiện đại” Âu Mỹ. Nhưng ngay cả tạm phân ra ba đợt sóng như thế, vẫn phải ghi nhận sự trộn lẫn, chồng chéo giữa các đợt.

2/ Dù sao cũng phải dựa theo những đặc điểm tương đối chung của khái niệm “hiện đại” trong thơ thế giới để nghĩ về thơ hiện đại Việt Nam. Rõ nhất là tinh thần chống lại “cái tôi lãng mạn” trữ tình tràn trề, đa cảm, lý tưởng hoá, chùng lỏng về tiết tấu (truyền thống này rất dai dẳng, theo nhà thơ Henri Deluy thì ngay cả ở Pháp hiện nay vẫn còn phổ biến). Một mặt thở hơi thở nóng hổi của đời sống, khai thác ngôn ngữ đời thường. Mặt khác khai phá “cái tôi” ở chiều cao (trí tuệ, khác với duy lý) và bề sâu (tiềm thức, vô thức). Khám phá miền “ảo” bên kia thực tại, tới cả miền tâm linh. Khai thác các khả năng “tạo nghĩa” của từ ngữ như mục đích tự thân của thơ. Tinh thần thể nghiệm cao, vượt khỏi mọi ràng buộc của các hình thức thơ có sẵn. Hình thức thơ tự do, thơ văn xuôi là chủ đạo.

3/ Với những tiêu chí trên, có thể thấy tinh thần hiện đại trong thơ Việt Nam sau 1945 ở ngay một “tuyên ngôn tượng trưng” của nhóm Dạ Đài (1946) tuy nó nhanh chóng tắt nghẹn một cách tự nguyện khi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, một hào hứng với thơ tự do không vần của  Nguyễn Đình Thi tuy sau đó cũng “nguội” vì  yêu cầu đáp ứng tính quần chúng. Trần Mai Ninh là trường hợp gần như duy nhất để lại hai bài thơ tự do không vần gân guốc, mạnh mẽ như cánh tay cầm súng. Sau năm 1954, những lý sự chính trị đầy hùng biện của nhà phù thủy ngôn từ Chế Lan Viên, bên cạnh cố gắng của một vài nhà thơ – chiến binh như Thanh Thảo đưa tính trữ tình xuống gần mặt đất máu lửa… cũng là những nỗ lực theo hướng hiện đại. Song, ý thức hiện đại hoá triệt để về thi pháp trong thơ VN đương đại rõ nhất ở Trần Dần. Người tự gọi mình là “Tư Mã Gẫy”, chính là một kẻ chủ xướng của “Tuyên ngôn tượng trưng” năm 1946, 10 năm sau lại mở đầu một tiến trình thể nghiệm kéo dài đến hết đời, đi từ câu thơ bậc thang kiểu Maiakovski đầy cảm hứng trữ tình công dân đến những bài thơ không lời, đi qua các bài thơ mini chở nặng suy tư thiền – triết. Ông đã phát hiện cho thơ VN mặt khuất lâu nay của vầng trăng thơ khi đề xướng “làm thơ là làm tiếng Việt”, xứng đáng được coi như thủ lĩnh của “dòng chữ” rất lẻ loi bên cạnh giàn đồng ca áp đảo lấy “nghĩa” làm căn cốt. Lê Đạt, “phu chữ” như ông tự xưng, khổ công làm việc với “con chữ”, những con chữ phát nghĩa, phát kiến ra một cấu trúc lập thể cho câu thơ VN. Đặng Đình Hưng nung nấu nỗi “cô đơn toàn phần” thành những cơn mê sảng chữ đầy ám ảnh. Hoàng Cầm thành công  trong việc kết tinh nền văn hóa Kinh Bắc trong một thi pháp tân-tượng trưng quyến rũ bằng âm nhạc và những biểu tượng tỏ tỏ mờ mờ, một việc làm tương tự như Lorca của nền văn hoá Andalusia với tập Romancero gitano.Văn Cao cũng đóng góp một lối thơ kiệm lời rắn rỏi chất chứa suy tư và có thể được coi là người khẳng định thể thơ tự do không vần ở VN. Dương Tường góp mặt một lối thơ khai thác tối đa năng lực gợi cảm của “Con âm”, rao truyền một “thi pháp âm bồi”.

4/ Trong thế hệ thơ xuất hiện sau 1975, Nguyễn Quang Thiều là một hiện tượng với lối sử dụng thủ pháp “hiện thực huyền ảo” trong việc xây dựng hình ảnh thơ. Vi Thùy Linh phơi bày bộc phát khát vọng yêu đương nhục cảm mãnh liệt, về thi pháp vẫn mang tính lãng mạn nhưng đã có nhiều yếu tố hiện đại. Gần đây, sự xuất hiện của một số nhà thơ như Nguyễn Quốc Chánh, Bùi Chát… mang đậm dấu ấn văn hoá “pop”, không ngại dùng “rác bẩn” làm vật liệu và tinh thần “diễu nhại” làm chất kết dính để xây dựng một thứ “phản thơ”, thể hiện rõ tinh thần “hậu hiện đại” – tương tự một lối cực đoan trong thơ hậu hiện đại Mỹ.

5/ Rõ ràng những nỗ lực cách tân theo hướng hiện đại hoá ở Việt Nam chủ yếu chịu ảnh hưởng phương Tây. Đó là điều tất yếu, nó nằm trong hướng phát triển chung của xã hội chứ chẳng riêng gì thơ. Tuy hiện nay ta vẫn còn rất hạn chế trong khai thác những ảnh hưởng này, song đồng thời lại có một câu hỏi cất lên rất chính đáng: Gần đây, ở phương Tây đang nổi lên một xu hướng khai thác triết – mỹ học phương Đông, đặc biệt  là các tư tưởng Lão Trang và Thiền tông. Việt Nam là một nước “phương Đông”, tại sao trong văn thơ đương đại của ta tinh thần Thiền – Lão quá mờ nhạt?

Ở Trung Quốc thời “mở cửa”, sau giai đọan “thơ mông lung” ảnh hưởng phương Tây, lại có phong trào thể nghiệm thơ “thiền hiện đại”. Vậy các nhà thơ Việt Nam làm gì để có được một nền thơ hiện đại thật sự phương Đông-Việt Nam? Đó là câu hỏi cho tất cả chúng ta.

Hoàng Hưng

(Trích BẢN THẢO: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA THƠ)

Bài 1

Bài Mới Nhất
Search