Phần Ba: “Rắc rối chuyện đời”
Cho tới hôm nay, chúng tôi đã “yên tâm học tập” được gần hai năm. Tôi cũng không ngờ được là tập thể tù cải tạo, vốn là những sĩ quan của “chế độ cũ”, họ có nhiều tài năng đến vậy. Các anh vô cùng tháo vát. Tôi không thể tưởng tượng nổi là các bạn tôi giỏi đến như vậy. Không có máy móc gì mà cái gì họ cũng tự “chế” ra được để dùng! Cho đến hôm nay, những nhu cầu căn bản, lỉnh kỉnh, của cuộc sống như thau, chậu, gầu múc nước, cho đến đồ đựng để đi lãnh cơm, canh, v…v…đều được các bàn tay khéo léo dùng tôn đập cho phẳng, rồi gò thành những sản phẩm này. Thậm chí, nhiều anh còn sản xuất được cả những cái va li tôn, trông đẹp không kém gì va li Samsonite của (đế quốc) Mỹ, khiến cho nhiều anh cán bộ thèm rỏ dãi! Có những cán bộ không sợ vi phạm luật của trại, điều đình mua lại những va li tôn này để đi phép!
Riết rồi chúng tôi nghiệm ra rằng, ở trong này, mình có đau khổ mấy cũng không khiến chúng động lòng. Chi bằng, bây giờ mình đổi chiến thuật, sống lạc quan vui vẻ đi xem thằng nào tức? Từ đó, tất cả chúng tôi đều ngấm ngầm đồng ý, cứ sống vui tươi, không coi thằng nào ra gì!
Cũng nhờ trời, (chứ không phải nhờ cách mạng) họ cho thăm nuôi, các anh được các chị tiếp tế nên trông ai cũng ra dáng lắm. Ăn mặc tươm tất hơn, bề gì cũng đã từng là các sĩ quan của một quân lực hùng mạnh nhất Đông Nam Á mà! Chỉ tội mấy anh gốc gác ở xa, gia đình ở mãi các tỉnh miền Trung, không vào thăm được, chịu số phận “mồ côi” nhưng anh em cũng thông cảm và sẵn sàng nhường nhịn, chia sẻ. Nhờ vậy mà chúng tôi sống đề huề với nhau.
Có mấy anh bắt đầu đi “săn” gỗ để làm mặt đàn. Ai có miếng lót giường bằng ván ép, lớp trên còn nguyên vẹn, sẽ được “gạ” đổi lấy một món gì đó, thường là thuốc rê do gia đình gửi vào. Các bạn này giỏi đến nỗi, làm ra những cái thùng đàn “ghi ta” rồi hàng ngày, tìm mảnh chai vỡ, đem về dùng để gọt dũa gỗ, chế tạo cái cần đàn. Phục nhất một điều là cái cần đàn, làm thế nào mà các bạn ấy có thể cưa đúng chính xác vị trí của phím đàn, khi đánh lên là đúng âm giai của “nốt” ấy! Chúng tôi cũng bận rộn, đi tìm dây điện thoại của nhà binh ngày xưa, đem về, chế cái “máy” quấn dây đàn, quấn cho những dây số 4, dây Rê, số 5, dây Là, và số 6, dây Mì.
Vũ Nam Hải, người đón chúng tôi buổi tối đầu tiên khi chúng tôi trình diện, đã tốt nghiệp trường quân nhạc ở Mỹ về, giờ đây, mở một khóa dạy nhạc. Chúng tôi xin những hộp diêm quẹt, cắt thành cái ngòi bút có 5 chia để vẽ dòng nhạc trên các trang tập của chúng tôi. Mực và vỏ bao diêm bây giờ trở thành vô cùng quý giá! Những anh em muốn ghi tên học lớp nhạc này chỉ là lũ trẻ chúng tôi, các anh lớn hơn ở tổ bên cạnh, vốn là những giáo sư biệt phái. Các anh ấy không còn đầu óc đâu mà học mớ lý thuyết vô bổ (?!) này vào làm gì. Hải chọn những học trò đầu tiên gồm có: (Nguyễn Văn) Hải, Huy, Tĩnh, Uyển, và tôi. Chúng tôi được “thầy” Hải hướng dẫn từ căn bản nhạc lý, đến soạn hợp âm, rồi đến sáng tác. Dĩ nhiên những khái niệm về âm nhạc này chỉ học bằng trí tưởng tượng. Mọi người đều cố ghi vào cuốn vở những điều mình cảm nghiệm được chứ thực lòng, khi nói đến nốt nọ, nốt kia, có cái gì để mà đánh cái nốt đó cho mình nghe nó cao thấp thế nào! Tôi và Uyển được Hải kèm riêng kỹ thuật điều khiển một dàn hợp xướng. Sau này, khi chúng tôi xúm nhau lại, khuyến khích các bạn khác tham gia vào “ca đoàn, chúng tôi tập hát với nhau, dùng những bài hát quen thuộc của thời trước để theo giọng đó mà hát. Tôi có hai tai tốt, có thể nghe được bè hát nào hát giọng gì, từ Tenor, Bass, đến Soprano, Mezzo-Soprano, v…v…Dần dần, tôi được Hải coi là học trò xuất sắc nhất, đã truyền thụ cho tôi nhiều kiến thức khác. Tôi đã biết phân tích thế nào là “contre-temps”, thế nào là “Syncope” v…v…Tất cả những vốn liếng về âm nhạc, cho tới nay, tôi vẫn còn nhớ và vẫn có thể áp dụng được. (Cám ơn Trời đã cho tôi cái trí nhớ tốt. Vì thế mà khi viết lại tập hồi ký này, mọi chuyện đều như những thước phim, cứ từ từ được quay chậm và tôi thì hối hả viết cho kịp.)
Chúng tôi vớ được cái “can” xăng 20 lít trang bị cho quân xa ngày trước, lựa một khúc cây dài, đóng chặt vào can xăng, căng một sợi dây điện thoại giữa cần “đàn” và chiếc thùng rỗng, giữ nguyên vỏ cao su đen để giữ tiếng trầm của sợi dây. Chúng tôi đã có một chiếc “đại hồ cầm”, nghe tiếng oách ra phết. Chúng tôi cũng bắt đầu xin trại cho tổ chức những buổi văn nghệ bỏ túi. Các bản nhạc phải được đưa lên trước cho trại kiểm duyệt. Bản nào cũng của Văn Cao hoặc nhạc của Liên Xô, chứ nếu nói của Phạm Duy thì bị gạt sang một bên ngay tức khắc! Tôi đã được sự ủy quyền của Vũ Nam Hải, đứng ra điểu khiển cho “ca đoàn” trình diễn bài Mẹ Trùng Dương, hát với bốn “bè” (giọng) cẩn thận, được “khán giả” vỗ tay hưởng ứng nhiệt liệt.
Trong gian nhà bên cạnh chúng tôi, có hai anh em ruột, cùng đi học tập với nhau. Thành và Thận. Thành là anh, rất khiêm nhượng, vui vẻ và biết điều. Ông em, Thận, có lẽ đã được sinh ra ở gần kho đạn Thành Tuy Hạ, cho nên rất thích “nổ”. Ông cho biết là đã từng sang Mỹ, làm việc cho cơ quan NASA! Thành không học nhạc, mà mở một lớp dạy nhiếp ảnh.
Bác sĩ Thùy, một bác sĩ quân y trẻ, không được trại dùng vào việc gì, cũng ngồi gãi rốn như chúng tôi, lại nghĩ ra là muốn mở một lớp dạy đỡ đẻ, phòng khi mai mốt được về, quý ông và gia đình không được ở thành phố, không có bệnh viện, thì có thể tự lo lấy cho vợ!
Anh chàng người Hoa, tên A Lùng, cũng có ít chữ nghĩa, chỉ dẫn thêm cho chúng tôi môn “chiết tự” và một số tiếng Hoa căn bản trong đối thoại.
Bạn Vang thì “mở” một dịch vụ sửa, vá quần áo cho anh em.
Bác Hạnh thì đã nói gia đình mang lên bộ dao kéo, hớt tóc cho bạn tù.
Cán bộ trại cũng ngạc nhiên thấy chúng tôi sinh hoạt vui vẻ, tưng bừng. Khi được hỏi thì chúng tôi đều trả lời giống nhau: “Bây giờ chúng tôi tuyệt đối tin vào cách mạng, chỉ biết yên tâm học tập, khi nào tốt thì nhà nước cho về thôi mà”! Chúng tôi trở thành những con vẹt hồi nào không hay.
Cũng nhờ cách mạng cho thăm nuôi, chúng tôi cũng bắt đầu có chè, cháo, thuốc lào, thuốc rê, kẹo lạc, trà và cà phê v…v… Vẫn chưa chừa được cái nếp sống của tụi tiểu tư sản!
Người tù bất khuất
Trong trại, từ từ rồi chúng tôi trở thành thân thiết với nhau, biết rõ cá tính của nhau, có thể chọc ghẹo lẫn nhau mà không sợ mích lòng. Gần hai năm ở với nhau trong hoàn cảnh khốn cùng, chúng tôi biết chỉ nên an ủi nhau, chờ cho đến lúc phép lạ xảy ra, chúng tôi được trả Tự Do. Tôi muốn viết lại một đoản văn sau đây như một nén hương dâng tặng linh hồn của một người bạn tù bất khuất. Tôi bảo đảm những điều tôi viết ra đây – cũng như những những điều tôi viết về hai số phận bất hạnh của Lộc và Bé ở phần trước – là có thật “một chăm phần chăm” bởi vì viết về những người bạn đã chết tức tưởi trong tù cs thì tác giả không dám bịa đặt.
Tôi đang nói về anh bạn Dương Hùng Cường, Dê Húc Càn (DHC). Tôi và DHC ở tù chung với nhau trong gần 2 năm đầu ở trại Long Khánh. DHC có cái biệt tài là thuộc chuyện kiếm hiệp của Kim Dung làu như cháo. Anh chàng này cứ từ từ, chậm rãi, kể cho chúng tôi nghe các bộ truyện, từ Võ Lâm Ngũ Bá, Thiên Long Bát Bộ, tới Thần Điêu Đại Hiệp, Anh Hùng Xạ Điêu, tới Cô Gái Đồ Long v..v..
(Dương Hùng Cường là một nhà văn miền Nam Việt Nam, nổi tiếng, dù viết không nhiều. Cho đến ngày qua đời, anh chỉ cho xuất bản trước sau ba tác phẩm. Đó là các cuốn “Buồn Vui Phi Trường,” “Lính Thành Phố” – ký sự, và “Vĩnh Biệt Phượng” – tiểu thuyết. Mặt khác, Dương Hùng Cường cũng nổi tiếng với bút hiệu Dê Húc Càn, trên tuần báo trào phúng Con Ong của nhà báo Minh Vồ.)
Theo lệnh của trại, đúng 9 giờ tối là chúng tôi phải lên “chuồng” đi ngủ để hôm sau có sức mà “nao” động, “nập” công dâng bác! Buổi tối sập xuống là (vài người) chúng tôi (bí mật) tụ tập ở đầu nhà, đốt ngọn đèn dầu lạc nhỏ, quây quần bên nhau. Ai có trà thì đem trà, ai có thuốc lào thì đem thuốc lào đến đóng góp. Anh Dương Hùng Cường đủng đỉnh “rít” một hơi thuốc lào, “chiêu” một ngụm nước trà nóng, trong khi chúng tôi sốt ruột chờ anh kể tiếp đoạn của tối hôm qua, khi mà Tiểu Long Nữ và Dương Quá trút bỏ hoàn toàn y phục, áp mình vào nhau, để luyện môn Ngọc Nữ Tâm Kinh v..v.. Bất ngờ, anh em được báo động là có cán bộ đến thì chúng tôi lập tức thổi phụt tắt ngọn đèn, chui vào mùng nằm nín thở mà tiếc hùi hụi. Có nhiều buổi tối, có lẽ bụng chàng còn đang trống rỗng, lại được rít một “bi” thuốc lào lại “xịn” của một người bạn mới được thăm nuôi, chàng rít xong là té bật ngửa, mồ hôi toát ra đầy trên trán, hai tay bắt chuồn chuồn! Từ đó cho đến hết buổi “chiếu phim” chàng không thèm “bắn” thêm một bi nào nữa. Dần dần, chúng tôi đã quen với “màn trình diễn” này cho nên đã hết sợ!
Thỉnh thoảng, chúng tôi bị tập họp lại và bị mấy thằng vệ binh oắt con chửi rủa là “chúng tôi biết các anh vẫn hay vi phạm nội quy của trại, vẫn hay tụ tập kể nhau nghe những chuyện của “nữ thi sĩ Kim Dung”!!! Má ơi, nghe “ăng ten” báo cáo thế nào mà chúng nó dám “chuyển giống” cho ông Kim Dung, tội nghiệp ông ấy ghê!
Trong trại, thỉnh thoảng chúng tôi lại bị lùa vào”hội trường” để được mấy con vẹt, cán bộ chính trị của nhà nước “lên lớp” dạy một bài học về “kách mệnh”.
Một trong những bài học ấy là “Nước ta có truyền thống đoàn kết, bất khuất, chống ngoại xâm.” Con vẹt được cử đến “giảng bài” thì thao thao bất tuyệt và tỏ ra rất hãnh diện về những truyền thống tốt đẹp này. Buổi tối, khi về trại, chúng tôi phải ngồi “thảo luận”, rút tỉa về bài học và sau cùng, phải cố bịa ra một tờ “thu hoạch” và nạp cho trại.
Sau vài ngày, một hôm, chúng tôi được lệnh miễn lao động, tập họp lên hội trường. Khi lên đến nơi thì chúng tôi đã thấy vô số vệ binh đỏ trang bị AK47, mặt mũi đằng đằng sát khí, gác chung quanh hội trường. Trong hội trường đã có một cái bàn dài, trải khăn xanh. Chúng tôi linh cảm rằng hôm nay sẽ có biến và nín thở chờ đợi.
Khi tất cả chúng tôi đã “an vị” trên các chiếc ghế đẩu tự đóng và tự tha đi, có 5 cán bộ đeo “sắc cốt” và súng lục theo nhau vào ngồi trên bàn chủ tọa. Các vị này trông đều lạ, có lẽ từ đâu cử đến.
Các ông lấy trong sắc ra một tờ giấy viết tay và hỏi lớn:
– Ai là anh Dương Hùng Cường? Lên đây!
Dương Hùng Cường biết lúc này là những giây phút cuối đời của mình nên không tỏ vẻ sợ hãi, từ từ bước lên cạnh bàn của các cán bộ. Một cán bộ đưa anh tờ giấy và hỏi:
– Có phải đây là tờ thu hoạch của anh không? DHC liếc mắt và công nhận. “Đúng là của tôi”!
Cán bộ đập bàn và hỏi:
– Hôm trước, anh có học tập chính trị không? DHC đáp, “có.”
– Thế tại sao nhà nước dạy rằng “dân tộc ta có truyền thống đoàn kết” mà trong bản thu hoạch, anh lại dám nói là “dân tộc ta có truyền thống chia rẽ”?
DHC bình tĩnh hỏi lại:
– Thế các cán bộ có học sử Việt không? Cán bộ tức tối đập bàn:
– Là người Việt, ai mà không học sử Việt!
– Thế thì thưa cán bộ, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, đẻ ra một trăm trứng, nở ra một trăm con. Năm mươi con theo mẹ lên núi, năm mươi con theo cha xuống biển. Như thế thì mầm mống chia rẽ đã có từ thời đó.
Các cán bộ te mũi, không trả lời được, cuốn gói hậm hực ra về. Không có ai bị xử bắn ngày hôm đó.
Sau khi chuyển trại, chúng tôi không còn biết tin gì về nhau. Sau này, tôi nghe nói anh Dương Hùng Cường đã được thả nhưng lại bị bắt trở lại và đã bị cộng sản đánh chết trong tù, ở trại Phan Đăng Lưu, khi ấy anh mới 58 tuổi!*
Xin anh biết cho rằng chúng tôi vẫn nhớ đến anh và hôm nay, xin cầu chúc anh được an nghỉ bình yên trong cõi vĩnh phúc.
Phải thưa thật với quý độc giả là bạn Dương Hùng Cường này khi còn sống với tôi ở Long Khánh, không biết sao, anh ấy là một ám ảnh lớn đối với cán bộ trại. Khi đọc tên điểm danh mỗi buổi chiều, ông thủ trưởng xướng:
– Dương Hùng Cường? DHC đáp: “có”. Ông thủ trưởng xướng tiếp:
– Dương Hùng Kỳ?!!! Tôi biết là ông ấy muốn đọc tên tôi nhưng ông ấy lộn, tôi vẫn đáp: “có”. Mọi việc êm xuôi, trôi chảy.
(Còn Tiếp)
Chú Thích:
*(Trích Việt Báo) Anh Dương Hùng Cường đi “tù cải tạo” từ 1975 đến 1979. Năm 1984 anh bị bắt giam lần thứ nhì cùng những cây bút khác gồm Khuất Duy Trác, Doãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thủy, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Ngọc Tự, Lý Thụy Ý… và bị buộc tội là một trong “Những Tên Biệt Kích Cầm Bút”.
Chú thích riêng của tác giả: Trong số những tên “biệt kích cầm bút”, ngoài anh Dương Hùng Cường, có (nhà thơ) Trần Ngọc Tự là hai người bạn trân quý của tôi. (Trần Ngọc Tự, trong ảnh, là người bưng mâm quả đám cưới của vợ chồng chúng tôi năm 1972. Tác giả, chú rể, người đeo bông trắng cùng bạn Ngô Kim Hùng, phù rể đi sau). Trần Ngọc Tự đã khuyến khích tôi thỉnh thoảng viết lách một chút như là một trong những thú vui cuối đời. Tôi đã nghe theo).
Để chia sẻ thêm về hai người bạn chí thân này, nhà thơ Trần Ngọc Tự và Dương Hùng Cường, đã từng bị “kết tội là “những tên xung kích cầm bút”, tôi xin trích bài viết của nhà văn Du Tử Lê trên báo Người Việt Tháng Ba 2018:
Đầu thập niên 1970, định mệnh đã mỉm cười với nhà văn Dương Hùng Cường. Dù nụ cười ấy nhanh chóng tắt ngúm; ném trả cuộc đời tác giả “Vĩnh Biệt Phượng” vào những bất hạnh, lao tù mới!
Đó là thời gian cho thấy dường như hoạn lộ của ông bắt đầu sáng sủa hơn. Ông được thăng cấp thượng sĩ, rồi chuẩn úy, thiếu úy và chuẩn bị theo học một khóa chuyên môn, để điều chỉnh cấp bậc và sẽ lên trung úy…
Người thân cận nhất với tác giả “Buồn Vui Phi Trường” ở giai đoạn này là nhà văn Trần Ngọc Tự, thư ký tòa soạn cuối cùng của nguyệt san Lý Tưởng, tiếng nói chính thức của binh chủng Không Quân VNCH, tính đến Tháng Tư, 1975. Sau Nguyễn Thụy Long, có lẽ Trần Ngọc Tự là người thứ hai, nói về đời thường của Dương Hùng Cường, thời gian mặc áo lính chi tiết nhất.
Nhà văn Trần Ngọc Tự kể rằng, ngay khi mới được bổ nhiệm về khối Chiến Tranh Chính Trị, Bộ Tư Lệnh Không Quân ở Tân Sơn Nhất, ông đã gặp nhà văn Dương Hùng Cường nhiều lần. Nhưng phải một thời gian sau, khoảng cách xa lạ, ngập ngừng giữa hai người mới được xóa nhòa.
Đó là thời gian Trần Ngọc Tự biết Dương Hùng Cường chính là Dê Húc Càn, người phụ trách mục “Cà Kê Dê Ngỗng” của tuần báo trào phúng Con Ong mà ông từng theo dõi, thích thú. Ngoài bút hiệu Dê Húc Càn, ông Cường còn có một bút hiệu khác là Lão Dương. Và, người thượng sĩ thâm niên này, đã không che giấu thiện cảm của ông, dành cho chuẩn úy trẻ, mới ra trường Trần Ngọc Tự.
Vẫn theo nhà văn Tự thì sự ưu ái mà nhà văn Dương Hùng Cường đặc biệt dành cho ông, vì trước sau không thay đổi thói quen tôn trọng đàn anh đi trước, ông còn: “…Hay đi chung với mấy anh em trong nhóm các cây bút của tập san Lý Tưởng Không Quân như Khải Triều, Kiêm Thêm, Phan Lạc Giang Đông, Minh Triệu-Ngô Văn Đắc, Trần Kim Nho, Thanh Chương, Hoàng Bá Thủy… mà anh cũng có thân tình từ trước nên tự nhiên tôi được ăn theo chút gì đó chăng? Phần khác, có thể vì khi chuyện trò buổi sơ giao, tôi đã nhắc tới mấy chi tiết về nhân vật Pi lốt Thái Bình trong quyển ‘Buồn Vui Phi Trường’ của anh, từ đó dễ lấy được cảm tình của ông nhà văn nhà báo, có tiếng lừng khừng và kén chọn trong việc giao tiếp với những người cùng đơn vị…” (Nguồn: Nguyệt San Việt Nam)
Từ tình thân này, Trần Ngọc Tự được biết nhà văn Dương Hùng Cường gia nhập binh chủng Không Quân từ năm 1953, ở miền Bắc. Ông được qua Pháp học ngành hoa tiêu, nhưng cuối cùng lại chuyển ngành học về chuyên môn kiểm soát không lưu. Trước khi được thuyên chuyển về Bộ Tư Lệnh Không Quân ở Sài Gòn năm 1965, Dương Hùng Cường phục vụ trên “Lầu Gương” tức Đài Kiểm Soát Không Lưu ở phi trường Biên Hòa khá lâu, trước khi được đổi về Bộ Tư Lệnh Không Quân ở Sài Gòn.
Chính thời gian làm việc tại phi trường Biên Hòa, đã đem lại cho Dương Hùng Cường bút ký “Buồn Vui Phi Trường,” mà có người từng ngạc nhiên, không hiểu từ đâu mà Dương Hùng Cường biết rõ phi trường Biên Hòa, vì những người này cho rằng ông không hề làm việc tại phi trường Biên Hòa.
Vẫn theo ghi nhận của nhà văn Trần Ngọc Tự, thì Dương Hùng Cường là người căn bản có tính bất cần đời… Vì thế ông đã gặp khá nhiều rắc rối trong binh nghiệp cũng như ngoài dân sự.
Để dẫn chứng cho ghi nhận của mình, Trần Ngọc Tự cho biết, ông từng được chính Thiếu Tá Bùi Hoàng Khải, sếp lớn của ông là bạn học cùng khóa với Dương Hùng Cường ở Pháp. Người nằm giường trên, người giường dưới; đã có không ít lần suýt xảy ra chuyện đánh nhau… Nếu ông Khải không nhẫn nhịn trước tính ngang bướng của bạn.
Trần Ngọc Tự cũng thêm rằng, sự chậm trễ lên lon của ông Cường, một phần còn vì ông không chịu tham dự những khóa tu nghiệp, để điều chỉnh cấp bậc, theo yêu cầu.
Giữa lúc những người bạn của nhà văn Dương Hùng Cường đinh ninh, con đường binh nghiệp của ông bắt đầu sáng sủa hơn, khi ông chịu lên trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, theo học khóa sĩ quan căn bản chiến tranh chính trị để điều chỉnh cấp bậc thiếu úy rồi sẽ lên trung úy sau đấy, thì một hôm, đang làm việc, bỗng Dương Hùng Cường bị khối An Ninh Quân Đội Không Quân đưa giấy, gọi trình diện…
Trước sự kiện bất ngờ này, nhà văn Trần Ngọc Tự kể, nhờ Thiếu Tá Trần Tam Tiệp làm việc tại khối An Ninh, mới biết rằng, trước đó ít ngày, trong một cuộc nhậu ở nhà hàng Thanh Thế, đã xảy ra một vụ lớn tiếng, qua lại, giữa một bên là Dương Hùng Cường, nhà văn Nguyên Vũ, và một bên là mấy dân biểu thân chính… Kết quả nhóm dân biểu này đã có thư tố cáo hai nhà văn vừa kể, về tội mạt sát đại diện dân cử, gửi tới nhiều cơ quan thẩm quyền khác nhau. Trong số đó, có cả văn phòng phủ tổng thống. Và, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã bút phê trong phiếu trình là: “Sĩ quan chiến tranh chính trị tuyên bố láo lếu, thuyên chuyển khỏi Quân Khu.” (Nguồn: Nguyệt San Việt Nam)
Trần Ngọc Tự đọc được công văn này, khi một bản sao được chuyển cho khối Chiến Tranh Chính Trị Không Quân để thi hành. Thế rồi cả Dương Hùng Cường lẫn Nguyên Vũ bị thuyên chuyển về Sư Đoàn 3 Bộ Binh, ở Đà Nẵng.
Nhờ sự vận động tích cực của Thiếu Tá Trần Tam Tiệp (khóa 2 Nam Định, từng tu nghiệp ở Pháp), nên khoảng một năm sau, Dương Hùng Cường được về lại Không Quân. Nhưng ông không còn ở ngành chiến tranh chính trị nữa mà bị đổi về Cần Thơ, phụ trách ngành hành chánh, sau khi tham dự một khóa học chuyên môn về ngành này, do nhà văn Trần Ngọc Tự phụ trách.
Lần gặp gỡ cuối với nhà văn Dương Hùng Cường, được nhà văn Trần Ngọc Tự ghi lại nguyên văn như sau: “…Lần sau cùng tôi gặp anh (Dương Hùng Cường) trước ngày 30 Tháng Tư, 1975, là vào khoảng Tháng Mười Hai, 1974. Anh đi phép và ghé vào Tân Sơn Nhất thăm bạn hữu anh em. Xuống khu gia binh uống cà phê, anh nói với tôi rằng đang bắt đầu chuẩn bị việc in ấn quyển ‘Vĩnh Biệt Phượng’ là tác phẩm thứ hai sau ‘Buồn Vui Phi Trường.’ (1) Buổi sáng hôm ấy, tôi nhớ cũng có cả anh Nguyễn Đình Thiều, ở tờ Lý Tưởng phòng Tâm Lý Chiến cùng thời với anh Dương Hùng Cường dạo trước và đã thuyên chuyển đi căn cứ Không Quân Phan Rang mấy năm rồi. Thời gian đó, Thiếu Tá Sĩ Phú (2) là trưởng khối Chiến Tranh Chính Trị ở đơn vị này. Anh Nguyễn Đình Thiều từ Phan Rang về và ghé qua Sài Gòn trên đường ra trình diện trại cai nghiện ma túy của quân đội ngoài Phú Quốc. Tôi được tin anh từ trần tại đây vào cuối Tháng Giêng, 1975.” (Nguồn: Nguyệt San Việt Nam)
Sau đấy, cũng như tất cả những sĩ quan bị kẹt lại, nhà văn Dương Hùng Cường bị tù cải tạo lần thứ nhất… (Du Tử Lê)

