Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: BỨC TRANH CHỢ TẾT Ở LÀNG HAUTS DE SEINE

Mỗi lần Tết đến, dòm những bức tranh dân gian giấy điệp treo trong nhà. Lão nhớ ngày nào trước năm 54, lão và cô em theo ông cụ bà cụ đi sắm Tết ở phố Hàng Trống. Trong khi cô em dán mắt với cái tò he xanh xanh, đỏ đỏ, lão bạ vào bức tranh gà lợn. Bây giờ đến tuổi này, lão quơ cào được bức Tranh gà cũng lại đỏ đỏ, xanh xanh…Tây quá thể. Không những thế bức “Tranh gà” đây làm lão rối trí tợn như thể dưới đây.

       ***

       Không có mây sao có mưa, nhè vào một ngày lão vác xác đi Tây thăm cô em gái ngày nào với cái tò he “tò te, tò te” để thành chuyện…có sao kể vậy.

       Chú em rể đón lão ở phi trường Charles De Gaulle với chiếc xe Citroen 2CV lụm cụm như con cóc cụ. Từ phi trường về nhà, chú lái theo tỉnh lộ 92 thẳng tới làng Hauts de Seine. Làng có nhà thờ cổ lỗ sĩ với con gà cồ đứng trên tháp chuông, cái cầu đá bắc qua con sông nhỏ, hai bên ghềnh đắp đá tảng chả lớn hơn con rạch ở quê nhà là bao. Nói cho ngay làng mạc ở bên Tây chán chết, chả như làng quê ở bên nhà với ao chuôm ruộng vườn này nọ.

       Chú em dẫn xuống basement chỉ lão chỗ ngủ nghê. Bước xuống cầu thang va vào mắt lão Bức tranh Chợ Tết (xem tr 2 & 5)chả khác mấy bức tranh lão đang có ở nhà. Chỉ khác cái khung gỗ nâu sần sùi lên nước mốc meo, trong khi tranh nhà lão chỉ treo với hai ống trúc nhỏ. Lão ngẫm nguội đúng là dở người, chú đâm đầu chơi đồ cổ…như lão. Lão bụng bảo dạ chú ta đổ đốn mua bức tranh để làm cảnh vì cái khung lắm ạ. Quẹt vào mặt lão có con ruồi vướng mắc trong cái màng nhện ở mặt khung. Lão định giơ tay quẹt một cái cho đỡ ngứa mắt, chú giữ tay lão lại, mà rằng cả bức tranh sống động ở…cái màng nhện. Nghe quái. Chưa hết, lão còn bắt gặp một lỗ thủng to bằng móng tay út ở góc bức tranh. Cái lỗ, lão thấy dường như được đốt bằng đầu thuốc lá nên có mầu vàng đen nên dòm cũng hay hay vì bức tranh có dáng cổ lỗ.

        Đang búi bấn cái lỗ, chú em rủ ra vườn và xách theo chai Bordeaux. Lão lại kỳ cổ rằng vạn lý quan san đến chốn này, khi không vặn cổ chai vang cho khốn khổ cái thân già. Ra đến vườn vừa ngồi xuống, chú miệng đá lưỡi: “Chẳng dấu gì bác…” với ý đồ bắt qua chuyến về thăm quê nhà năm ngoái. Khi mới đến, ngỡ chú em rể…cùng một lứa bên trời “lận đận” với lão, hoá ra chú ấy khọm mươi niên hơn lão, hở miệng ra là giở cái giọng Bắc kỳ hương lý với “bác, bác, em, em”. Lão vạy vọ chả hiểu ở Sài Gòn bộ hết người hay sao mà cô em gái lão lại rước thằng chồng vừa “cụ”, vừa khọm như…chiếc xe Citroen 2CV.   

        Ấy thế mà nhằm vào tuổi lão lại hay bám víu những rêu phong ẩm mốc của miếu đình. Chú róc đời về gặp…ông từ giữ đền làng Thổ Khối của dòng họ. Nhờ vậy, chú em rị mọ ra cơ ngơi bản quán của chú em cạnh làng Đông Hồ. Được thể lão dều người ra với chú em Bắc kỳ hương lý chuyện Tranh Tết của ai đấy viết về nghề làm tranh làng Đông Hồ…

“…Viên quan hai Léc nói sõi tiếng Việt, thích tìm hiểu phong tục xứ Tonkin. Về làm sếp bốt Ngã Tư Hồ, hôm sau vào làng bước trên con đường lát gạch. Tên thông ngôn rành phong tục ở đây, giải thích: “Con đường có lịch sử của nó, con gái đi lấy chồng, theo tục lệ, phải lát cho làng một đoạn đường gạch. Những lớp gạch cũ, mới cứ nối nhau kéo dài dưới rặng tre xanh thế này”..

       Lão bòn mót với chú em tên thông ngôn đây chả biết gì sất. Bởi lệ “nộp cheo” chả hẳn là lát gạch cho làng. Lão khoe chữ với chú ấy “Cheo hay cheo làng” từ tiền qua hiện vật tùy theo quy định của mỗi làng, có làng bắt nộp mâm đồng, chén bát để dùng cho hội làng. Có làng bắt làm giếng nước, làm cổng làng. Tuy nhiên làng giàu có đường lát gạch Bát Tràng (xem tr 6) xuyên qua làng, làng nghèo đường đất mưa đi lõm bõm. Vì vậy ở Bắc Ninh có lệ con gái đi lấy chồng phải nộp cheo cho làng cả trăm viên gạch vồ.

       Nghe thủng rồi, từ con đường làng, ra cái điều cũng dầy chữ như…lão. Chú em vắt qua chuyện sau khi Trịnh Tùng giết được Mạc Hậu Hợp ở Cao Bằng. Họ Mạc chạy tứ tán khắp nơi, để khỏi bị trừ khử phải đổi họ bằng cách “khử túc bất khử thủ” là lấy họ khác ghi thêm “bộ thảo’’. Riêng họ Nguyễn ở làng Thổ Khối lấy chữ đệm “Đăng” của Mạc Đăng Dung. Lão ớ ra chú em họ…Nguyễn Đăng mà lão chả hay. (xem tr 5)

      Vì vậy lão đành lẫn đẫn chống cây gậy chống trời trở lại cái bót Ngã Tư Hồ…

“…Tên thông ngôn đưa Léc ngoặt vào chiếc cổng tre, nhìn thấy một ông già ngồi ngoài hiên với bộ dao khắc và tấm gỗ vàng ươm. Ông cụ với những ngón tay xương xẩu tinh tế, sử dụng bộ “ve” khắc thuộc lòng trên mặt gỗ. Léc nhìn vào trong nhà thấy bà lão chấm chổi lông phết vào tờ giấy gì đó óng ánh trắng vàng. Ở góc nhà, hai đứa trẻ thò lò mũi, một đứa quệt mầu lên khuôn gỗ; một đứa đặt giấy. Những người bên cạnh chấm bút vào các chậu mầu và tô lên rất nhanh. Chỉ một loáng Bức tranh Chợ Tết được in và đem ra sân phơi. Léc đưa bức tranh lên ngắm nghía. Hắn quệt ngón tay vào bức tranh thấy mầu vàng, mầu trắng lấm tấm họ chấm lên bức tranh, như họ trộn nó với nhựa thông, phết lên tranh thì phải. Rồi Léc bỏ xuống.

Vừa lúc có tên lính đi theo bước vào sân, Léc nháy mắt …”

       Đến đây chú em nói dón: Tranh dân gian đất Bắc với giấy dùng để in tranh là giấy dó mịn, làm bằng vỏ cây dó. Giấy được phết nhựa thông, bồi bột điệp óng ánh nghiền từ vỏ hến, vỏ sò để làm nền. Giấy nhũ được quét bằng hồ pha bột vàng hoặc bạc gọi là giấy điệp. Màu lấy từ cây vườn nội cỏ, màu đen từ than lá tre khô, màu xanh lam từ lá chàm, màu nâu từ qủa bứa, màu vàng bằng hoa hòe hay quả giành giành,màu đỏ từ vỏcây vang. Lão nhòm ly Bordeaux đỏ như cây vang ắt hẳn nhân gian gọi là…rượu vang chăng? Chưa kịp rọ mồm hỏi, chú em nói vấy thêm ván tranh từ gỗ thị, gỗ mít cả trăm năm không mọt. Đến xeo giấy, quậy hồ đặc quá thì vênh như bánh đa quá lửa. Tới phơi tranh, gặp gặp tiết hanh nồm, tranh bị bị vó. Tết đến, chợ tranh mở ra khách khắp nơi về mua tranh, để “vờn” tranh, “ăn” tranh, tức xemmua tranh. Cả làng rậm rịch giã điệp, khói đốt than ẩn hiện là đà trên ngọn cây.

       Chú vun chyện với tranh mộc bản chẳng thể bỏ qua làng tranh Kim Hoàng ở Hà Đông, tranh Hàng Trống ở Hà Nội cũng từ bản khắc gỗ như tranh Đông Hồ, nhưng in trên giấy bản.

Tranh Hàng Trống khổ lớn làm cho đền, chùa như bức Ngũ hổ hiện lưu giữ ở chùa làng Kim Liên (Hồ Tây). Những bức tranh đặc thù là Đức thánh Trần, Bà chúa mẫu, Đồng tử, Tiên dung hầu hết những bản khắc gỗ cổ nguyên bản nay đã thất truyền. Tranh Hàng Trống nay lan ra đến Hàng Mã nhờ trống tế trống hội, cờ phưỡn võng lọng, quần áo chầu của ông đồng bà bóng, mão với hia.

      Cùng cô lý, cô liêu, chú em dắt díu lão về làng tranh Đông Hồ…

      Qua cầu Chương Dương trên sông Hồng, dọc theo Quốc lộ 1 lên Bắc Ninh, khỏang mấy cây số gặp một ngã tư (Ngã Tư Hồ). Men theo sông Đuống, nhìn qua con đê sẽ thấy chùa Bút Tháp. Khi nào qua cầu Hồ, đến nền đất cũ bên ven sông có tấm bia đá trên nền chùa cổ có hàng chữ “Đông Hồ tự bi”, khắc thời nhà Mạc (1527-1592), (xem tr 6).

Thế là lão vật vờ với chú em tranh Tết, tranh gà ở Ngã Tư Hồ …

“….Tình cờ Léc cầm bản mới in của ông già lên xem. Hắn thấy một con gà trống mầu sắc lạ lùng, tấm thân đường bệ, cái mào và chân hiên ngang; con gà như sắp gáy. Con gà Tonkin nào có khác con gà Gaulois.

 – Ông bán cho ta bản khắc bức tranh này, ta sẽ trả giá ông muốn.  
 – Thưa quan đồn, cái này không bán.

Bất chợt Léc nhìn thấy bản khắc gỗ khác in Tranh gà bị bỏ đi vì đã cũ, nó dùng để cài then cửa chuồng gà. Léc đưa mắt cho tên thông ngôn. Tên lấy bỏ vào túi dết đi thẳng ra cổng…”.

       Nhớ lại vừa vào làng Hauts de Seine có con gà Gaulois đứng trên tháp chuông nhà thờ. Buồn tình lão đốt điếu Gaulois và nhả khói. Qua khói thuốc mờ nhân ảnh lão nhìn ra cổng nhà chú ấy, hẳn là làm hai, ba ly vang nên ngất ngư: Lão thấy chú em rể lụi đụi bước ra…từ cánh cổng gỗ của quá khứ, chú ấy đang trôi sông lạc chợ vào một ngày giáp Tết về thăm quê nhà. Lão bèn ngật ngừ rong ruổi theo chú em trong một ngày có gió heo may. Mặt trời lên nửa con sào, khói sương còn vẩn vơ trên mái rạ, ngọn cỏ, đất bãi. Dòng sông Đuống cứ lặng lẽ nổi trôi, chẩy mãi và nhìn khuất cuối con đê là đền Gióng.      

      Đường xưa lối cũ, thêm một lần, chú em đẩy đưa lão về với Lý, Trần, Lê, Nguyễn: Những bản in tranh Đông Hồ ngày nay, cho ta hình dung đến công việc in sách cách đây 9 thế kỷ vào đời Lý. Khởi đầu từ các sứ thần sang Trung Hoa xin kinh và cho người học nghề khắc bản gỗ. Năm 1018, Lý Thái Tổ sai hai quan là Nguyễn Đạo Thành và Phạm Hạc sang nhà Tống để thỉnh kinh Tam Tạng, thiền sư Tín Học cho khởi công khắc bản gỗ để in. Sau đó đến kinh Kim Cương, Pháp Hoa, Dược Sư, Viên Giác. Theo sách Thiền Uyển tập, tổ của nghề in mộc bản nước ta là Lương Nhữ Hộc, trú quán ở Liễu Chàng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

       Đến tao đọan này, lão ngay mặt như cán tàn vì chuyện Ts’ai Lun (Thái Luân) họan quan đời Hán, sách Bách Việt hiền chí – Lĩnh Nam di thư, do sử gia Âu Đại Nhận đời Minh viết:: Ts’ai Lun gốc Quý Dương thuộc đất Bách Việt, năm 105 CN tìm ra giấy in được gọi là “Giấy tước hầu Thái”. Nhà nho Trần Lam Giang ta luận giải rằng Thái Luân là…người Việt, người đầu tiên…phát minh ra giấy nghe um thủm sao ấy.

       Nhẽ này lão không vạy vọ với chú em nên đành căng tai nghe…

       Đồng thời sách vở để lại ghi: Thế kỷ thứ III, làng Yên Hòa có một thứ giấy gọi là “Mật hương chỉ”. Năm 1295, Trần Anh Tông sai Trần Khắc Dụng và Phạm Thảo sang nhà Nguyên xin kinh Đại Tạng. Thiền sư Pháp Loa, trụ trì chùa Qùynh Lâm bắt tay vào việc khắc bản in. Mỗi trang sách là một bản gỗ, phải khắc lên chữ trái để khi in ra giấy bản là chữ phải. Vì có những bộ kinh lớn, bản gỗ lên tới 600.000 tấm, thời gian hòan tất trên 20 năm. Với hàng trăm người khắc, hàng trăm người in, cho khỏang 1.400 chùa chiền ở thôn xóm, đại tự, quốc tự.

      Chú ta ngược dòng với thiền sư Pháp Loa, lão cũng ngược về với thằng Tây, thằng Tàu…

“…Tây nó bắt giam ông đã một tuần nay. Nhiều lúc ông mệt thiếp đi, hình vẽ trong Bức tranh Chợ Tết cứ chập chờn trước mặt. Làm sao mà ông không nhớ cho được khi ông gắn bó với nó. Kỷ niệm hồi nhỏ của ông những lần bị các cụ đánh sưng tay vì vô ý chệch một đường “ve”.. Các cụ dạy, trước khi bắt tay vào tranh, bao giờ ông cũng mặc áo dài, sửa lễ cầu ông tổ nghề tranh mộc bản (ông tổ Lương Nhữ Hộc). Có thế khắc mới đẹp. Ông nhớ lại chuyện cụ tổ mấy đời làng này từng bị giặc Tầu bắt đi khắc tranh cho chúng, các cụ cắn lưỡi tự tử chết chứ không chịu. Bây giờ đến lượt ông đây, ông không thể làm thẹn mặt tổ tiên…”.

       Khi không chú em lại rủ rê lão thả rong về phường Yên Thái làm giấy, phường Nghĩa Đô dệt lĩnh và phường Thụy Khê cất rượu.. Ba phường Yên Thái, Nghĩa Đô, Thụy Khê gọi gồm là Kẻ Bưởi. Tuy nhiên nhắc đến “Kẻ Bưởi” hàm nghĩa phường làm giấy dính liền với chiều dầy của dòng lịch sử kéo dài cả mấy trăm năm. Mỗi mảnh đất hình như có dòng sinh mệnh riêng nó. Làng Yên Thái bây giờ, giấy bồi, giấy hội đang đi vào buổi hòang hôn. Chuyển qua làm nồi, làm đồng, vì vậy gần đây có câu “lệnh cồng chiêng Bưởi” là thế đấy, thưa bác.

       Trưa ngả sang chiều, chú em đảo về những phiên chợ tranh quê chú…     

       Mầu vàng rộm lên như cánh đồng lúa chín, mầu xanh ẩn sau lũy tre làng, mầu đỏ gấc như yếm thắm của áo tứ thân, mầu xám nhiễu như áo lam giang, trong lót nền hồ thủy, mầu đen như váy lĩnh giữa mùa quan họ. Qua những bức tranh có từng đường nét, từng góc cạnh cùng những bố cục, sáng tạo theo cảm tính này nọ. Thảng như bức Lợn đàn, từng mảng mầu này phủ lên mảng kia sắc độ tự nhiên, tươi rói trên nền hồ điệp vàng óng.

        Ấy là chưa kể những bức Đánh vật, Kéo co bộc lộ vẻ tươi vui trong ngày Tết. Cùng nét tranh khắc sâu, nét in khi phẳng lặng, lúc hớn hở như Bịt mắt bắt dê, Chú bé ôm con vịt phú qúy. Thanh thản như cậu bé vắt vẻo ngồi trên lưng trâu thổi sáo. Hay ngờ nghệch như con lợn ỷ, mặt chành bành to bè.

Bỗng dưng chú em một tấc tận giời: “Các cụ ta xưa cũng hóm lắm đấy, bác nhỉ”. Như bức Hái dừa (do ông Nguyễn Đăng Chế người làng Đông Hồ vẽ cácg đây 102 năm): Chàng trai leo chót vót lên ngọn cây, dưới là cô gái quê mặc yếm, vén váy đứng đợi hứng dừa. Chú em bợm bãi: “Nhào, bác thử nghĩ mà xem nếu trái dừa rơi tõm xuống váy thì…thì sao nhẩy, bác nhỉ”. Được thể chú ấy bốc nhằng: Vì vậy các cụ ta xưa mới có câu con gái chơi

với con giai, ngày sau cái vú bằng hai quả dừa là vậy, thưa bác.

Đến trần ai khoai củ này, chú em lại nháo nhác đến bức Đánh ghen, hai bà một cô, dí dỏm một nỗi trong đó có một bà đánh hôi cầm kéo…Rồi chú ấy xớn xác hỏi lão: “Chứ theo bác nhỡ bà đánh hôi không lấy kéo sởn tóc mà cắt toẹt cái…váy thi sao đây, hở bác. Bác cứ ngẫm mà xem”. Hở với hang rõ nhiễu sự, quả tình lão cũng chịu chết nghĩ không ra những cái oái oăm của các cụ gửi gấm trong những bức tranh tình tự dân gian.

Ấy thế mà chưa hết chuyện…“cái vú bằng hai quả dừa”…

Chú em chỉ cho lão bức tranh Đánh đu phỏng theo thơ dân gian bà chúa thơ Nôm họ Hồ thì phải? Trái phải đâu chưa biết, hãy dòm bên phải bức tranh, cấu vào mắt lão có đàn anh từ đằng sau luồn hai tay vào cái yếm thiếu thước tấc…bóp vú đàn chị Quan họ Bắc Ninh.

        Lão đành bày vẽ chữ nghĩa với chú ấy: Lễ hội giao hòa giữa trời và đất, giữa cỏ cây và muôn loài, giữa người nam và nữ. Cá cụ vẫn thường nói ngày xưa trai gái đi xem lễ hội để…chim chuột nhau, sờ soạng nhau ấy thôi. Nghe thủng rồi, chú em lạc quẻ về năm ngóai.

       Lang thang ở con đê Cổ Ngư, qua một dải đất hẹp, rồi lạc về vùng Bưởi lúc nào không hay. Lững thững trên con đường lát gạch Bát Tràng rộng khoảng năm thước ta, để mỗi năm rước hội, có thể kéo ngựa gỗ đi được. Qua chuyện kể: Chú em đứng lại thẫn thơ ngắm nét hoa văn trên cổng làng, nghỉ chân dưới bóng cây đa già, đằng sau là căn nhà cổ xưa u tịch còn sót lại, như vấn vương u uẩn, nghe vang vọng của nhịp chày Yên Thái, lẫn trong hươg trời sắc nước của Tây Hồ. Lão hòa nhập vào chú em khọm của lão cảm nhận được cái hồn của trời đất và hồn người, trong lão như bừng dậy âm vọng rậm rịch, rộn rã của một ngày xeo giấy, khắc ván, in tranh, phơi tranh. Cùng những nỗi niềm tiếc nhớ về một làng nghề giấy đang đang chìm dần vào quá khứ với mịt mùng khói sóng ngàn sương, nhịp chày Yên Thái, mặt gươm Tây Hồ mà một thời làm giấy sắc vua, kinh kệ, giấy lụa để in.

       Bỗng dưng không đâu lão bắt gặp chú em lặng lờ đứng ngắm cái cổng làng ắt là hết chuyện nên lão cũng chấm hết truyện viết Tranh Tết của ai đấy cho xong chuyện: ”Năm sau, Léc nhận được thư của bạn là họa sĩ từ Pháp gửi: “Léc. Moa nhận được Bức tranh Chợ TếtBản khắc gỗ Con gà. Cả hai đều là tác phẩm vô giá”.

       Vừa lúc chú em móc điếu Gaulois và mồi lửa. Trong khi chờ đợi lão buôn chuyện mắc chứng gì Bức tranh Chợ Tết dưới chân cầu thang có cái lỗ cháy đen thui lủi. Chú em nhả đụn khói: “Nhào, một ngày lang thang bên sông Seine, bắt gặp bức tranh ấy ở quán sách cũ. Thế là em thửa về”. Chú em đùn khói tiếp: “Mang về rồi, nom thấy thằng Tay nào đó ký tên ở góc bức tranh. Bực mình, em dí một điếu thuốc vào tên nó”. Thằng Tay nào đó, lão đồ là tên họa sĩ bạn thằng Léc. Có đầu có đũa như chuyện Tranh Tết ở trên: ”Ở ngòai sân thằng Léc cầm Bức tranh Chợ Tết vừà in, xem xong bỏ xuống. Vừa lúc có tên lính đi theo bước vào sân, Léc nháy mắt“, thế là bức tranh biến mất. Còn bản khắc gỗ để in Tranh gà, chạy trời không khỏi nắng từ chuyện: “Bất chợt Léc nhìn thấy bản khắc gỗ khác in Tranh gà bị bỏ đi vì đã cũ, nó dùng để cài then cửa chuồng gà. Léc đưa mắt cho tên thông ngôn….bỏ vào túi dết và đi thẳng ra cổng”.

       Lão lễnh đễnh vậy vì lão vồ được nhiễu sự tấm mộc bản này hiện đang tàng trữ ở bảo tàng Mỹ Thuật Paris. Người làng Đông Hồ tìm cách đòi lại mấy năm nay vẫn chưa được (1). Ấy là chưa kể, nhiều và rất nhiều bản khắc gỗ tranh Đông Hồ (2) người Nhật mang về nước được họ bảo tồn kỹ lưỡng, nhưng trong đó không có bức mộc bản Tranh gà.

       Lão đang ngồi nhà chú ta với nhân sinh quý thích chí qua những khúc mắc mà lão ghép nối hay hớm thế đấy để viết thành truyện Bức tranh Chợ Tếtlàng Hauts de Seine này đây. Thế là lão ngửa cổ nốc cạn ly rượu đỏ. Ngồi đụt ra, lão không biết làm gi hơn là…Là làm hết chai Bordeaux màu lá vang, lão say say đứ đừ như cóc cụ ngậm thuốc lào.

        Lờ đờ ngả người ra ghế, ve ve mắt nhìn lên tàng cây platane như…cây hòe.

        Nắng quái chiều hôm len lỏi qua rặng lá xanh thao thiết, lão chập chờn nghe âm vọng như dư âm của những ngày xeo giấy, in tranh. Không khí sầm uất vào cữ tháng Chạp, chợ tranh được mở tại đình làng để khách các thuyền xứ Đông, xứ Đòai ghé để “vờn” tranh, “ăn” tranh. Được thể lão chống cây gậy trúc khua cua ngược dòng thời gian về tuổi ấu thời ở Hà Nội đi sắm Tết với ông cụ bà cụ. Ấy thế mà lão gặp cụ Vũ Hòang Chương sáng chưa sáng hẳn, tối không đành, gà lợn om sòm rối bức tranh mà lão không hay. Lão thẫn thờ quanh co trên đường làng Bắc Ninh, lúc này lão gặp lại cụ Hòang Cầm eo óc với đì đẹt ngòai sân tràng pháo chuột, om sòm trên vách bức tranh gà, cuối cùng với cuối xóm buồn teo một tiếng gà.

       Đang bơ ngơ về gà vịt, lão bắt gặp chú ta bị em gái lão sai bắt vịt làm tiết canh chiều nay. Ừ thì gia cang nhà lão cũng có phúc nên thửa được chú em rể con cháu họ Mạc ở làng Thổ Khối, phải đổi họ Nguyễn có chữ Đăng. Ấy thế mà nhà văn Mai Thảo Nguyễn Đăng Quý (nguyên quán làng Thổ Khối, Bắc Ninh) phải gọi chú ấy bằng bác. Cụ Nguyễn Đăng Thục (làng Thổ Khối) được xem như đồng vai, đồng vế với chú ta. Oach thế đấy.

       Bạ vào văn học, văn nhân hãi quá thể, lão đành như lòai chuột chui rúc trong cót thóc có ông mèo…O chuột qua nhà văn Tô Hòai: “Ông mèo rất khác. Ông lờ đờ và nghiêm nghị tựa một thầy giáo nhà dòng, trên mình có khoác bộ áo thâm. Lúc nào ông cũng ra vẻ nghĩ ngợi như sắp mưa”. Để rồi lão mơ mơ nghe như có tiếng cóc nhái gọi mưa.

       Lão chìm vào giấc mơ hoang có Chuột vinh quy, Thầy đồ cóc

       

Chui vào đầu lão bức Chuột vinh quy, trước khi đi thi chuột phải điếu đóm ông mèo ít cá, tôm. Tích này sách xưa ghi: “Vua Lê Trung Hưng (1533-1789) vì thiếu tiền, ra lệ đóng ba quan tiền Minh Kinh để nộp quyển đi thi, nên có nạn quan trường thông đồng mua bán”. Với bức Thầy đồ cóc, lão lọ mọ sao không là chuột, bởi: “Bia đá trên nền chùa cổ làng Đông Hồ có hàng chữ Đông Hồ tự bi, khắc thời nhà Mạc (1527-1592), trạm hai con chuột đang giã gạo”. Mà ông đồ cóc nát chữ như trấu trát chỉ dậy ễnh ương, cóc nhái. Võng anh đi trước võng nàng đi sau chỉ thấy…chuột. Lão nghĩ vụng làng nước chú em chả báu gì sất vì nhiều…chuột.

       ***

       Chợt có cơn gió thoảng, lão ho khùng khục như người hen. Chiều tối ập đến, trong nhà đã đỏ đèn. Ngoài góc vườn đâu đó có tiếng cóc cụ ho…

  Thạch trúc gia trang

   Nhâm Thìn 2012  

   Ngộ Không Phi Ngọc Hùng

(chỉnh sửa 2017, 2020, 2024)

(1) Các cụ trong làng kể lại: Hồi Pháp thuộc, người ở viện Bác Cổ thỉnh thoảng lại đánh xe ô tô

về mua tranh, mua cả bản khắc tranh nữa. Nhà cụ Lữ có bản khắc tranh gà rất quý đưa đi đóng

cửa chuồng gà, người Pháp phát hiện ra hỏi mua cụ bán liền. Nghĩ mà tiếc đứt ruột!    

(2) Những bản khắc gỗ hiện lưu trữ tại Nhật

Bài Mới Nhất
Search