Giới Thiệu: TỰ TRUYỆN “HY VỌNG” CỦA CỐ GIÁO HOÀNG FRANCIS
Chương 14.
Vang vọng những rung động sâu thẳm
El noviciado de la Sagrada Familia (Tập viện Thánh Gia) rộng bằng cả một khu phố. Nơi đây được xây dựng gần nửa thế kỷ trước trên vùng đất từng đầy đầm lầy và bãi rác ở phía bắc thành phố, vốn đang không ngừng mở rộng theo mọi hướng khi dân số gia tăng nhanh chóng. Khu vực đó thời ấy được gọi là Pueyrredón, mang tên một nhân vật nổi bật trong phong trào kháng chiến ở Buenos Aires và cuộc đấu tranh giành độc lập của Argentina.
Sáng ngày 11 tháng 3 năm 1958, cha mẹ tôi và tôi đến trước cánh cửa đôi của tòa nhà lớn. Thầy Cirilo Rodriguez, người giữ cửa, xuất hiện và bảo chúng tôi chờ trong phòng kế bên nhà trực, rồi lặng lẽ đi gọi cha giám tập, Cha Gaviña.
Một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi xuất hiện, chào đón chúng tôi bằng một cái bắt tay dứt khoát. Cha đọc cho chúng tôi nghe các quy tắc thăm viếng của tập viện trong hai năm tới: Các cuộc thăm viếng được phép nhưng sẽ rất ngắn, tối đa một giờ. Cha mẹ hoặc anh chị em tôi có thể đến thăm tại phòng tiếp khách, vì sẽ không được vào các khu vực khác của nhà dòng trừ khi có phép đặc biệt. Và, trừ những trường hợp nghiêm trọng hoặc bất thường, tôi sẽ không được phép về Buenos Aires thăm nhà.
Tôi ôm tạm biệt cha mẹ, chúng tôi siết chặt lấy nhau, và khi cánh cửa chính đóng lại, một tập sinh năm hai dẫn tôi đi tham quan toàn bộ tòa nhà, vừa đi vừa giới thiệu ngắn gọn về các thói quen và sinh hoạt ở nơi ở mới này. Nhiệm vụ mà cha giám tập giao cho anh ta được gọi là “Angel”.
Khu phòng ở của các linh mục nằm ở tầng một. Các tập sinh ở một cánh khác. Các phòng ngủ rất rộng và khá lạnh vào mùa đông. Người bạn đồng hành chỉ cho tôi chiếc giường trong căn phòng tôi sẽ chia sẻ với hai “người anh em” khác. Chúng tôi đi qua phòng y tế, hai nhà nguyện, thư viện, giảng đường với hai mươi bàn học, kho chứa đồ; rồi khi ra ngoài, là nhà bếp, phòng ăn lớn với chiếc bàn hình chữ U khổng lồ có thể chứa một trăm người, sân trong, và kế đó là một dãy nhà khác với sân đất để đá bóng, một sân bóng rổ. Ở cuối khuôn viên là nhà thờ lớn của cộng đoàn, cũng có lối vào công cộng. Tuy nhiên, nhà thờ vẫn còn mái tạm thời vì thiếu kinh phí, ngay cả ba mươi năm sau cũng chưa hoàn tất.
Cha Cándido Gaviña, cha giám tập, là một người trầm lặng, kín đáo, tốt bụng và nhạy cảm, nhưng… làm sao để diễn tả nhỉ: chúng tôi không “hợp nhau”. Đến mức một lần, cha còn nói với tôi: “Sao con không nghĩ đến chuyện trở về nhà, lập một gia đình đàng hoàng…” Nhưng đó không phải là điều tôi nghĩ tới. Chúng tôi đơn giản là không hiểu nhau: tôi rất Argentina, rất thẳng thắn; còn cha, người đã được đào tạo và sống nhiều năm tại Colombia, lại mang trong mình lối suy nghĩ rất hình thức, kiểu Colombia. Nó giống như một người Ý miền Bắc đến Sicilia rồi cố gắng áp đặt cách sống và tư duy của mình vậy.
Nhưng đến tháng Bảy, Cha Gaviña được chọn làm Bề trên tỉnh dòng Dòng Tên, thay thế Cha Francisco Zaragozi, người đã đảm nhận vai trò này trước đó và sau đó trở thành cha giám tập mới tại nhà tập lớn ở Córdoba.
Lúc ấy ngài đã năm mươi tư tuổi, và sẽ trở thành như một người cha đối với tôi, đến mức sau này tôi đã chọn ngài làm người đỡ đầu trong lễ truyền chức linh mục của mình.
_________
Có khoảng hai mươi tập sinh. Cuộc sống của chúng tôi rất khắc khổ, với nhịp sinh hoạt nghiêm ngặt, đầy những quy định, bài luyện tập sâu sắc, giờ giấc chặt chẽ và nhất là im lặng.
Im lặng là yếu tố then chốt.
Khí hậu tốt, và tôi cảm thấy hài lòng nơi đây.
Sau hồi chuông báo thức lúc sáu giờ sáng, chúng tôi quỳ gối thiền định đầu tiên ngay trong phòng mình, rồi lặng lẽ đến nhà nguyện để cầu nguyện chung và tham dự Thánh lễ. Sau đó ăn sáng rồi bắt đầu “công việc khiêm nhường” — các việc lao động được giao cho từng tập sinh: quét cầu thang, hành lang, lau nhà vệ sinh, rửa bát nồi hoặc chuẩn bị thức ăn trong nhà bếp. Trong số đó, chúng tôi đã gọt hàng tấn khoai tây.
Kế đó là giờ học: năm đầu học tiếng Latin, năm sau học tiếng Hy Lạp và tu từ học. Giữa buổi có giờ tự xét mình, rồi đến bữa trưa trong phòng ăn lớn. Ở đây cũng có quy định nghiêm ngặt: phải giữ im lặng trừ những ngày lễ.
Sau đó là viếng nhà nguyện ngắn, nghỉ giải lao, nghỉ trưa nửa giờ, rồi đến giờ cầu nguyện với Đức Mẹ và học chiều. Kết thúc buổi học, chúng tôi ăn nhẹ, và ba lần một tuần có giờ thể thao: bóng rổ hoặc bóng đá. Khi chơi thể thao, chúng tôi thay áo dòng bằng quần đen và áo chùng sẫm. Tôi đã hồi phục tốt sau ca phẫu thuật nên có thể chơi bình thường, thường làm thủ môn bóng đá.
Đến giờ, bác gác cổng sẽ gọi: “Đi tắm!” Chúng tôi ùa đến phòng tắm, dù nước mùa đông thường lạnh vì lò đun nước nhỏ. Sau đó là giờ đọc sách thiêng liêng, cầu nguyện buổi tối và ăn tối. Trước khi đi ngủ, chúng tôi có mười lăm phút sinh hoạt tự do rồi xét mình lần hai. Mười giờ tối, tất cả đi ngủ. Cuộc sống tuy khắc nghiệt, nhưng tôi thấy thoải mái và tạ ơn Chúa đã dẫn dắt mình đến đó.
Mỗi thứ Năm, và cả trong mùa hè, chúng tôi ra nông trại Quinta del Niño Dios thuộc sở hữu của Dòng. Chúng tôi nhảy lên xe tải để ra cánh đồng thu hoạch trái cây hoặc trồng cây. Những mầm non ngày ấy giờ đã thành rừng rậm với những cây keo, espinillo, chañar, bạch đàn, thông… Giờ đây, nơi ấy đã trở thành khu bảo tồn thành phố.
Mùa hè, chúng tôi còn đi bộ dài ngày quanh đập San Roque, leo núi, bơi lội ở sông…
Thứ Bảy và Chủ Nhật, chúng tôi dạy giáo lý. Tìm trẻ em trong những khu ổ chuột gần bệnh viện Tránsito Cáceres, thuyết phục cha mẹ, rồi dạy giáo lý ngoài sân hoặc dưới bóng cây, nhóm bảy tám đứa. Thỉnh thoảng có kẹo, nhưng thường thì không vì không có tiền. Sau giờ học, chúng tôi cùng đá bóng.
Tôi còn nhớ những đứa trẻ đó: gia đình người Sicily, ba anh em Napoli, Antonio José, Pedro, và nhà Zanotte, sống ở Avenida Pringles, gần tập viện. Khu vực đó được gọi là “cái hẻm.”
Tôi rất thích việc dạy giáo lý cho trẻ em, cả sau này nữa, khi tôi đến Chile. Đó là những trải nghiệm đã giúp ích cho việc giảng dạy của tôi suốt phần đời còn lại. Nước Thiên Chúa thuộc về những người như vậy (Mác 10:13–16). Đừng làm tổn thương một ai trong những bé nhỏ này…
Ngay từ khi bắt đầu sứ vụ giáo hoàng, tôi đã cảm thấy mình được kêu gọi phải gánh lấy trách nhiệm đối với tất cả tội lỗi do một số linh mục gây ra, những người tuy nhiều, nhưng vẫn chỉ là một phần nhỏ trong toàn thể hàng ngũ được thánh hiến. Nhưng đó không phải là vấn đề: Dù chỉ một trường hợp lạm dụng duy nhất được phát hiện trong Giáo hội thì cũng đã đủ kinh khủng. Với lòng xấu hổ và ăn năn, Giáo hội phải xin tha thứ vì những tổn hại khủng khiếp mà các giáo sĩ đó đã gây ra bằng hành vi lạm dụng tình dục trẻ em, một tội ác gây nên những vết thương sâu sắc của đau đớn và bất lực, trước hết cho các nạn nhân, rồi đến gia đình họ và cho cả cộng đồng. “Nếu một bộ phận đau khổ, thì tất cả các bộ phận đều cùng đau khổ” (1 Côrintô 12:26). Sau chuyến tông du đến Chile năm 2018, trong những tháng tiếp theo tôi đã biết rõ mức độ nghiêm trọng của nhiều vụ lạm dụng tại Giáo phận Osorno, và tôi đã trục xuất linh mục chịu trách nhiệm, đồng thời chấp nhận đơn từ chức của một số giám mục tại nước này. Không thể chấp nhận bất kỳ sự im lặng hay che giấu nào đối với vấn đề này, dù ở ngoài Giáo hội hay, càng nghiêm trọng hơn, bên trong Giáo hội. Đây là điều không thể tranh luận.
Khi tôi còn là đại diện giám mục tại Flores, vào khoảng năm 1993, tôi nhận được báo cáo về một vụ việc liên quan đến một phó tế được gửi từ nước ngoài đến để đào tạo tiến tới chức linh mục. Người thanh niên này đã tìm cách lạm dụng một cậu bé bị liệt; nhưng cậu bé, dù bị bại liệt, lại không hề cam chịu: Cậu phản ứng mạnh mẽ… và cho tên phó tế kia một bài học xứng đáng. Tôi lập tức can thiệp, triệu tập phó tế đó, yêu cầu anh ta lập tức rời đi, và thông báo cho giám mục nước anh ta biết chuyện đã xảy ra. Những vụ việc như vậy phải được xử lý hết sức nghiêm túc, không do dự và không đánh giá thấp mức độ nghiêm trọng. Đồng thời, cũng cần phải hành động thận trọng để tránh mắc bẫy. Tôi còn nhớ một trường hợp khác, cũng tại Flores, khiến tôi rất đau lòng: Một cáo buộc vu khống, một vụ tống tiền nhắm vào một linh mục rất tốt. Một gia đình đã đe dọa sẽ tố cáo ngài tội lạm dụng để đòi tiền. Chúng tôi đã điều tra, thậm chí cảnh sát còn lắp đặt camera ghi hình, và cuối cùng sự dối trá, sự tống tiền ấy đã bị phơi bày.
Nhiều biện pháp đã được thực hiện trong thời gian tôi làm Giáo hoàng để bãi nhiệm các giáo sĩ khỏi chức vụ, kể cả với các hồng y, như trường hợp tổng giám mục Washington Theodore McCarrick, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Mỗi trường hợp đều phải và sẽ được xem xét với sự nghiêm trọng tối đa. Nỗi đau của các nạn nhân là tiếng than khóc vọng lên tận trời, làm rung động tâm hồn, và suốt một thời gian dài đã bị phớt lờ, che giấu hoặc bịt miệng. Trong cơn thịnh nộ chính đáng của dân chúng, Giáo hội nhìn thấy phản ánh sự phẫn nộ của chính Thiên Chúa, Đấng đã bị phản bội và bôi nhọ bởi những linh mục bất lương đó.
Tôi đã từng nói rằng tiếng thét câm lặng của những đứa trẻ nhỏ bé đã tìm thấy những kẻ tra tấn mình trong những người cha và người hướng dẫn thiêng liêng sẽ làm rung chuyển những trái tim đã bị gây mê bởi sự đạo đức giả và quyền lực. Dù các thống kê toàn cầu cho thấy rằng phần lớn các vụ lạm dụng xảy ra trong gia đình hoặc môi trường địa phương, và rằng tệ nạn này là một thảm kịch của toàn xã hội, thì điều đó cũng không bao giờ làm giảm nhẹ cam kết và trách nhiệm của riêng chúng ta: Đây là nỗi nhục và nỗi hổ thẹn của chúng ta, như tôi đã tuyên bố trong chuyến viếng thăm Bỉ vào tháng 9 năm 2024, trong khi những người khác cũng cần suy nghĩ về phần trách nhiệm của mình. Khi nhìn lại quá khứ, cho dù có làm gì để xin tha thứ và cố gắng sửa chữa những tổn thương đã gây ra, cũng sẽ không bao giờ đủ. Còn hướng tới tương lai, mọi nỗ lực phải được thực hiện để xây dựng một nền văn hóa ngăn ngừa tái diễn những thảm kịch như vậy, và không cho phép bất kỳ sự bao che nào. Tại Tòa Sứ Thần Tòa Thánh ở Brussels, tôi đã có một cuộc gặp riêng với mười bảy nạn nhân bị giáo sĩ lạm dụng: Trong suốt hai tiếng đồng hồ, tôi đã lắng nghe những câu chuyện về nỗi đau của họ, bày tỏ sự đau buồn vì những gì họ đã phải chịu đựng khi còn là những đứa trẻ, và lòng biết ơn đối với lòng can đảm của họ hôm nay. Tôi nói với họ rằng những tội ác như thế này không thể được miễn trừ chỉ vì thời gian. Những kẻ lạm dụng phải chịu trách nhiệm, nhưng một giám mục biết chuyện mà không hành động cũng phải chịu trách nhiệm. Che giấu là làm chồng chất nỗi nhục lên nỗi nhục.
Các nạn nhân phải biết rằng Giáo hoàng đứng về phía họ. Và về điều này, ngài sẽ không lùi lại dù chỉ một bước.
—
Năm đầu tiên trong thời gian tập viện, chúng tôi thực hiện một tháng linh thao, và năm thứ hai, năm 1959, một tháng hành hương. Ba chúng tôi lên đường trong một tháng, phó mặc cho sự quan phòng, một bài thực hành đã được các tập sinh thực hiện từ thời Thánh Ignatius. Tôi được chọn đi cùng hai người khác. Một người, Pautasso, một tập sinh có gia đình gốc Piedmont, đã rời Dòng chỉ sau vài tháng; người kia, Santiago Frank, thì đã là một linh mục nhưng gia nhập tập viện để trở thành một tu sĩ Dòng Tên. Chúng tôi đi về phía đông nam, vượt hơn 250 dặm từ Córdoba tới Rosario, qua các làng và thị trấn. Chúng tôi đi mà không có tiền trong túi, đi bộ hoặc xin đi nhờ xe, và xin phép được ở lại tại các giáo xứ địa phương, đổi lại bằng việc phục vụ — bất cứ công việc gì, từ quét nhà thờ, quét mồ mả, hay phụ giúp việc tổ chức. Chúng tôi ăn nhờ sự rộng lượng của người khác, và không ai trong chúng tôi chết đói hay chịu rét.
Tại Río Segundo, chúng tôi trú ngụ với cha sở, Cha Marcos David Bustos Zambrano. Ngài sống trong nhà xứ cùng mẹ mình, cha mình — một cụ ông 104 tuổi còn rất khỏe mạnh — và một người chị gái. Cha Bustos Zambrano là một người vĩ đại, một vị cha thực thụ, một nhà lãnh đạo giỏi, tận tâm với từng giáo dân. Và ngài hút thuốc như ống khói.
Ngay khi chúng tôi đến, ngài sắp xếp cho chúng tôi ở một căn phòng và giao nhiệm vụ đi ghi chép các bia mộ trong nghĩa trang thị trấn. Quả thật, ngài là một linh mục “tay làm hàm nhai” thực thụ, với khả năng gắn bó và chăm sóc từng con chiên, cả khi còn sống lẫn khi đã qua đời.
Hai mươi năm sau, chỉ vài tháng trước khi qua đời, ngài để lại một bức thư: “Gia đình gọi tôi là David, ở đây thì gọi là Cha; tôi là người Argentina, con của cha mẹ di dân, một linh mục với chữ thường và tôi luôn làm việc ở vùng nông thôn. Tôi đã ở giáo xứ này ba mươi mốt năm, tôi đã già, nhưng chưa bao giờ ngừng học hỏi; tôi mặc áo dòng đen dài… Tôi là một người của đất và trời, mang hòa bình, hoa trái của công lý và yêu thương, và thông điệp trong sáng từ Cha Trên Trời qua Đức Kitô nhập thể.” Linh mục này đã trao ban rất nhiều cho rất nhiều người. Một linh mục đồng nghiệp của ngài, Cha Enrique Visca, đã phục vụ tại giáo xứ lân cận ở Oliva suốt bốn mươi lăm năm, cho đến khi bị giám mục bãi nhiệm vì người ta cho rằng ngài đã “lú lẫn”: Ngài đã muốn xin phong chân phước cho người mẹ quá cố của mình, đại loại như vậy… Linh mục này rất đau lòng vì bị sa thải. Thế là Cha Bustos Zambrano mời ngài về giáo xứ của mình để cầu nguyện tại các lễ an táng, nơi ngài bịa ra tên cho các linh hồn, nhằm cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục. Và tất cả việc đó chỉ để giúp ngài có một ít tiền tiêu dùng, để ngài không cảm thấy bị bỏ rơi.
Cha David là một linh mục tuyệt vời. Với tôi, một tập sinh trẻ tuổi, ngài đã cho những lời khuyên mà tôi vẫn còn nhớ mãi.
_________
Đối với Cha Visca, ngôi làng James Craik, vốn thuộc giáo xứ Oliva, đã bất hòa với vị linh mục mới vì ông ta từ chối dẫn đầu cuộc rước kiệu trong lễ hội hằng năm của làng. Các giáo dân sau đó quyết định tìm lại vị linh mục già, người vẫn còn sống ở Oliva, để nhờ ngài đảm nhận. Cha Visca đồng ý. Ngài đến James Craik, bình thản bắt đầu cuộc rước, rồi chuẩn bị cho bài giảng. Bài giảng mở đầu bằng những lời mà tất cả những người có mặt sẽ không bao giờ quên: “Hỡi bọn con của những kẻ khốn nạn… các người đã đuổi ta đi, giờ thì lại tìm ta về…” và ngài tiếp tục, trách mắng các giáo dân vì đã không bảo vệ ngài khi ngài bị đuổi khỏi nhà thờ, và nói với họ rằng Thiên Chúa đã trừng phạt họ, buộc họ phải quay đầu lại. Ngài dành trọn bài giảng của mình để nhấn mạnh tầm quan trọng của lòng trung thành với các linh mục.
Những câu chuyện như thế đã ở lại với tôi và giúp tôi hiểu được thực tại đời sống của các linh mục, nhất là những người lớn tuổi và gặp khó khăn.
Sau khi rời Río Segundo, chúng tôi tiếp tục hướng tới Impira, một ngôi làng nông thôn trong cùng huyện. Chúng tôi đến nơi đúng vào ngày lễ kính thánh bổn mạng địa phương. Nghi thức dâng kính Đức Trinh Nữ, có lẽ là biểu hiện đầu tiên của lòng đạo đức bình dân mà tôi được chứng kiến bên ngoài Buenos Aires, đã để lại trong tôi một dấu ấn sâu đậm, và đến hôm nay, hơn sáu mươi năm sau, tôi vẫn còn nhớ bài thánh ca mà người dân hát với lòng sùng mộ trong những nghi lễ đó.
Tôi đã học được rất nhiều trong tháng hành hương ấy, đến nỗi những rung động của châu Mỹ và của người dân nơi đây vẫn còn vang vọng sâu thẳm trong tôi.
—
Ngày 12 tháng 3 năm 1960, vào dịp kỷ niệm ngày Thánh Ignatius được phong thánh, tôi được xét là đã sẵn sàng để tuyên khấn ba lời khấn: khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Tôi đã long trọng thốt lên lời hứa, mà sau này sẽ được hoàn tất với lời khấn trọng, chính thức gia nhập trọn vẹn Dòng Tên, bao gồm cả lời hứa vâng phục và cam kết với Giáo hoàng cũng như với các sứ mạng của Dòng, mà tôi sẽ thực hiện vào tháng Tư, mười ba năm sau đó.
Kết thúc nghi thức tuyên khấn, khi chúng tôi đang dùng bữa trưa trong nhà ăn, Cha Zaragozi tiến đến chỗ tôi: “Hãy chuẩn bị đi, con sẽ sang Chile học chương trình thánh học dành cho tập sinh.” Vài ngày sau đó tôi đã lên đường đến làng của Cha Hurtado, cách thủ đô Santiago chỉ vài dặm. Tôi sẽ ở lại đó suốt mười hai tháng tiếp theo. Alberto Hurtado, một vị thánh hiện đại, đã dành cả cuộc đời mình cho người nghèo và công nhân; một con người cũng từng bị bách hại, cũng từng đối mặt với đau khổ, nhưng không bao giờ đánh mất niềm vui. Ngài yêu thích câu nói rằng tương lai phần lớn tùy thuộc vào khả năng lắng nghe. Ở Chile, tôi đã tự mình khám phá ra điều ấy.
—
Kinh nghiệm của tôi tại Trung tâm Linh đạo Loyola sẽ rất khác với những gì ở Córdoba: Đây chủ yếu là một ngôi trường dạy nhân văn học. Và là nơi vun đắp tình bạn nữa. Người Chile đã giúp tôi trở nên nhân bản hơn — nếu hôm nay tôi có được chút nào sự nhân bản, thì tôi nợ họ.
Và các thầy cô ở đó đều rất xuất sắc. Tôi còn nhớ một giáo viên dạy tiếng Pháp đã giảng bài về Baudelaire: “Tuổi trẻ của tôi chỉ là một cơn bão tăm tối, thỉnh thoảng bị xuyên thủng bởi những tia nắng chói lọi…” (“Ma jeunesse ne fut qu’un ténébreux orage, traversé çà et là par de brillants soleils…”)
Hay về Charles Péguy, nhà thơ và nhà tiểu luận đến từ Orléans, người đã viết những câu như: “Cuộc cách mạng xã hội sẽ phải là một cuộc cách mạng đạo đức, nếu không thì chẳng có cuộc cách mạng nào cả”; hoặc: “Điều khó khăn nhất là hy vọng. Điều dễ dàng nhất là tuyệt vọng, và đó là cám dỗ lớn nhất”; và lại nữa: “Có một điều còn tệ hơn cả việc có một linh hồn xấu xa. Đó là có một linh hồn bị chai sạn vì thói quen.”
Tôi cũng đã nghiên cứu rất nhiều về Virgil, và sau này đã viết một bài luận dài về ông, bài luận ấy hiện vẫn còn ở Buenos Aires. Aeneid có lẽ là một trong những tác phẩm kinh điển mà tôi đã nghiên cứu sâu sắc nhất, đến mức ở lối vào phòng tôi hiện nay vẫn còn tấm thiệp nhỏ ghi câu thơ nổi tiếng dòng 462 trong Sách Một: “Sunt lacrimae rerum et mentem mortalia tangunt.” (“Thế giới này đẫm nước mắt, và những nỗi thống khổ nhân loại làm chấn động tâm trí.”)
Tâm trí tôi không bị rối loạn, mà trái lại, đã được mở ra, được khai phóng đến một tầm mức nhân bản lớn lao.
—
Cuối tuần chúng tôi đến các ngôi làng gần đó để phục vụ người nghèo. Chúng tôi chăm sóc người bệnh, dạy giáo lý; có những đứa trẻ nghèo đến mức không có giày dép; chúng đi học chân trần. Vào mùa đông, các em bị tê cóng vì giá lạnh và luôn trong tình trạng đói khát.
Đó là một trải nghiệm đã ảnh hưởng sâu sắc đến tôi.
Tôi xúc động đến mức lập tức viết thư cho em gái Maria Elena, khi ấy vẫn còn nhỏ, để kể cho em nghe về điều đó. Cuộc sống của chúng tôi, dù khiêm nhường và giản dị, vẫn dường như quá xa vời so với sự khốn cùng dữ dội mà tôi đã chứng kiến.
—
Trước đó, ở Córdoba, tôi đã trải qua một tháng tại bệnh viện. Chúng tôi giúp đỡ bệnh nhân, tắm rửa, cho họ ăn và cạo râu cho họ.
Chính ở đó, tôi đã chứng kiến dấu hiệu công khai đầu tiên của sự bất trung. Tôi đã có đủ kinh nghiệm, nhưng việc chạm vào vết thương ấy vẫn khiến tôi buồn nôn. Tôi đang chăm sóc một người đàn ông hấp hối, ông ấy có một vết thương lớn ở cổ mà chúng tôi phải liên tục vệ sinh, và chính ngay tại giường bệnh đó, vợ ông — một người phụ nữ hấp dẫn, trẻ hơn ông nhiều, biết nói tiếng Pháp vì họ gốc Trung Đông — đã tán tỉnh bác sĩ.
Mọi chuyện diễn ra quá trắng trợn đến mức tôi khó có thể tin nổi.
—
Thời kỳ tập viện ở Chile của tôi kết thúc, và tôi trở về Argentina vào tháng Ba năm 1961 để bắt đầu khoá học triết học kéo dài ba năm tại Colegio Máximo de San José ở San Miguel, phía tây Gran Buenos Aires, khu vành đai đô thị công nhân rộng lớn bao quanh thủ đô. Các lớp học ở đây còn đông hơn, với khoảng sáu mươi sinh viên đến từ Chile, Mexico, Uruguay, Bolivia và Paraguay, bên cạnh Argentina. Một số bạn cùng lớp gọi tôi là “El Gringo,” có lẽ vì nét mặt tôi không mang đậm nét Nam Mỹ.
Một trong những giáo sư của tôi tại San Miguel là Cha Miguel Ángel Fiorito, một bậc thầy vĩ đại, giáo sư môn siêu hình học đồng thời là người hướng dẫn tinh thần, và là giám đốc tạp chí Stromata, nơi các giáo sư trong khoa đăng tải bài viết. Khả năng trí tuệ và tâm linh của Cha Fiorito khiến ngài trở thành điểm tham chiếu không thể tranh cãi đối với chúng tôi, những sinh viên. Với riêng tôi, ngài là bậc thầy xuất chúng, người hướng dẫn cá nhân trong hành trình biện phân. Những suy tư đầu tiên của tôi về lòng đạo bình dân, về cái nhìn thực tế đối với dân Chúa — một cái nhìn loại bỏ những ý tưởng lãng mạn và chia rẽ — và về thần học của dân tộc, đều bắt nguồn từ ngài. Ngài là người bảo vệ đối thoại và lắng nghe, và ảnh hưởng của ngài đã theo tôi suốt nhiều năm, chắc chắn cũng phản ánh trong nhiều chủ đề mà tôi phát triển trong thời kỳ giáo hoàng của mình.
Với Cha Fiorito (ở giữa), bậc thầy khôn ngoan của tôi (tôi đứng bên phải ngài).
Tôi gặp lại ngài lần cuối cùng chỉ vài ngày trước khi ngài qua đời. Đó là một ngày Chủ Nhật vào cuối tháng Bảy năm 2005, không lâu sau sinh nhật của ngài. Khi ấy, ngài đang ở Bệnh viện Alemán. Ngài đã không còn khả năng nói chuyện trong nhiều năm. Dù mất đi khả năng nói, ngài vẫn có thể giao tiếp — ánh mắt ngài rất mãnh liệt, ngài nói bằng đôi mắt mình. Hai giọt nước mắt lặng lẽ chảy xuống khuôn mặt ngài: đó là món quà mà ngài để lại cho tôi. Ngay cả lời từ biệt ấy cũng là một bài học.
