Thanh Hà: Nén Hương Cho Má/Bông Hồng Cho Ngoại

Ảnh: HKL

Những gì thánh thiện bao la tốt đẹp nhất đều tượng trưng cho tấm lòng người Mẹ. Nói đến Mẹ chúng ta nghĩ ngay đến sự hy sinh tận tuỵ bất khả so sánh.

Tôi kể về Mẹ của tôi, những câu chuyện góp nhặt từ ký ức muộn màng nầy dù nội dung có khác nhưng đều thấp thoáng bóng dáng Tất Cả Các Bà Mẹ của chúng ta, tôi chắc chắn thế .

Hạnh phúc thay cho những ai còn Mẹ để yêu thương và được yêu thương.

Nén hương lòng cho những người con mất Mẹ .

Mất theo nghĩa không tồn tại trên thế gian nhưng Sống mãi trong tim chúng ta.

Chúng tôi sáu chị em tất cả .

Nhưng lúc ba tôi gặp nạn vắng nhà thì chỉ mới có năm chị em. Mấy năm sau ba về sum họp gia đình thì cô em út mới ra đời nên muộn mất bảy năm.

Mất đi trụ cột gia đình, má thay thế ba cùng ông bà ngoại nuôi đàn con thơ dại. Chị hai tuy chỉ 10 tuổi vì là chị lớn nên đã biết gánh vác đỡ đần má lo việc nhà. Má là con một nên ông bà ngoại dồn hết tình yêu thương cho vợ chồng con gái và đàn cháu.

Bà nội chúng tôi mất khi má tôi về làm dâu được 1 hoặc 2 năm, do lính Lê Dương (Légion étrangère, tức lính đánh thuê) gồm chỉ huy người Pháp và lính Cam Bốt đi càn quét cả làng. Hôm ấy đàn ông, thanh niên, phụ nữ, trẻ con… đều chạy ra đồng lánh nạn, chỉ đàn bà lớn tuổi ở lại trông nhà. Tưởng rằng đàn bà thì sẽ được thoát nạn, nào ngờ chúng bắn giết tất cả những ai mà chúng bắt gặp trong làng. Nên hàng năm đến ngày ấy cả làng nhà nhà đều làm giỗ gọi là giỗ hội.

Năm sau chị hai ra đời. Được vài tháng thì ông nội bị Việt Minh bắt treo cổ xử tử với lý do là địa chủ dám cãi lời lén chở lúa ra tỉnh bán cho dân mà không đợi họ cho phép.

Vì thế chị em chúng tôi chỉ được biết và nuôi dưỡng bởi ông bà ngoại. Nên với tôi khái niệm về một gia đình hạnh phúc, mặc nhiên bao gồm ông bà ngoại, ba má, chị em là điều tất yếu.

Tôi khó mà hình dung một gia đình đầy đủ lại thiếu ông bà ngoại.

Thật vậy, đến đời các cháu con của chị tôi lúc chúng còn nhỏ, thời sau năm 75, anh chị chưa có điều kiện ra riêng, các cháu được má tôi chăm sóc nên chúng cũng thấy việc có ông bà ngoại hiện diện trong cuộc đời là điều miễn luận bàn.

Có lần thấy một bé khoảng 6 tuổi cầm tập vé số đi bán, thằng bé con của chị tôi cũng chừng tuổi ấy quan sát hồi lâu, ngây thơ hỏi bà ngoại, tức má tôi:

—Ba mẹ nó đâu mà nó phải đi bán vé số cực khổ vậy hở ngoại? Chắc nó mồ côi ba mẹ tội nghiệp quá. Vậy còn bà ngoại nó đâu hở ngoại?

Trong ý nghĩ của chị em tôi và thế hệ đời sau, một gia đình phải bao gồm ông bà ngoại (hoặc ông bà nội), ba mẹ và các con thì mới gọi là một gia đình hạnh phúc và đầy đủ.

Giờ đây hơn nửa thế kỷ trôi qua, mà ký ức tôi vẫn còn khắc sâu hình ảnh huyền diệu, cảm xúc nồng ấm về má dù lúc ấy tôi chỉ là cô bé 4 hay 5 tuổi. Tôi không đủ chữ để diễn tả, để truyền đạt cho hết tâm tình của mình. Chỉ có thể nói trong cái đêm hè xa xưa ấy, má tôi thật sự là một bà tiên hiện ra mang niềm vui cho chúng tôi.

Tuy ba vắng nhà nhưng bù lại chúng tôi được sự chăm sóc chu đáo của ông bà ngoại và má nên vẫn vô tư vui chơi như bao đứa trẻ trong một gia đình tiêu biểu khác.

Đó là lần má tôi đi xa, đại diện đàng trai, quyền huynh thế phụ để cưới vợ cho chú tôi ở tỉnh khác.–Ông bà nội đã mất, ba tôi là anh trai trưởng– Má đi hơi lâu, chị em tôi chiều nào cũng trông ngóng chuyến xe đò về ngang, xem có ngừng trước cổng, bóng dáng thân yêu của má từ trên xe bước xuống cho chúng tôi chạy ùa ra đón, nhưng chờ hoài mấy ngày rồi mà vẫn chưa thấy má về. Chị em tôi nhớ má ray rứt. Sao hồi nhỏ, mình thấy thời gian trôi lâu quá.

Buổi sáng còn ngái ngủ nằm trên giường, bỗng nghe tiếng ông bà ngoại và má nói chuyện râm ran. A má đã về rồi, mấy chị em lay nhau tốc mùng chạy ra mừng má. Má ôm từng đứa hôn lên hai gò má, tôi cúi mặt để che giấu niềm vui và cảm xúc. Lúc ấy mới thấy trên mỗi cườm tay lấp lánh một chiếc vòng bằng nhựa mềm, chiếc màu hồng ngọc, chiếc màu xanh ngọc lục bảo. Bên trong chiếc vòng chứa thuỷ ngân pha lẫn những hạt kim tuyến nhũ vàng lấp lánh. Khi lắc nhẹ bàn tay thì dòng thuỷ ngân bên trong chiếc vòng lung linh lay động.

Các chị em, người nào cũng có hai chiếc ở hai cườm tay. Mỗi chiếc mỗi màu: vàng, tím, xanh, cam, lục, đỏ…

Tôi say mê nhìn chiếc vòng thuỷ ngân có chứa kim tuyến màu tươi thắm chuyển động theo nhịp lắc của bàn tay, rồi so sánh xem chiếc vòng của ai đẹp nhất. Ủa? Chiếc vòng từ đâu ra vậy nhỉ? Nhìn ngắm đã đời, giờ mới thắc mắc nó từ đâu ra.

Ngoại nói :

—Tối qua có bà tiên hiện ra mang quà cho mấy đứa đó, vì ở nhà ngoan nên được thưởng.

—A, bà tiên cho quà chúng con hả ngoại ? Thoạt đầu tôi tưởng thật.

Ngoại cười chỉ qua má :

—Bà tiên đây nè.

Thảo nào đêm qua mơ màng trong giấc điệp, tôi cảm nhận hơi ấm mùi hương quen thuộc. Cố mở mắt, qua ánh sáng mờ ảo chiếu ra từ chiếc đèn dầu trứng vịt, thoáng thấy có người đang nắm bàn tay tôi thật nhẹ nhàng, tôi chỉ kịp ghi nhận cảnh ấy trong tích tắc, rồi hai mắt nhíp lại tôi chìm ngay vào giấc ngủ mà không biết đó là ai.

Thật mầu nhiệm. Buổi chiều chúng tôi vẫn còn dõi mắt ra đường trông ngóng xe đò về mà má biệt tăm. Ngủ một giấc sáng ra, má ngồi đó, ánh mắt yêu thương âu yếm nhìn vẻ sung sướng của các con với chiếc vòng kim tuyến màu sắc rực rỡ ở cườm tay, lòng mẹ cũng dạt dào niềm hạnh phúc. Má có khác gì bà tiên ban phép lạ cho chúng tôi đâu.

Chúng tôi được nuôi lớn không phải chỉ bằng cơm ăn áo mặc mà còn bằng những câu ca dao điệu hò ru vè, những truyện cổ tích Nàng Út Rẫy Dưa, Tấm Cám, An Tiêm tích bánh dày bánh chưng…của bà ngoại, của má mỗi đêm vừa ru ngủ vừa quạt cho các cháu, dù đã nghe hàng trăm lần thuộc lòng chúng tôi vẫn say mê không biết chán.

Lớn lên một chút thì những truyện thiếu nhi, truyện lịch sử bằng tranh Bạch Tuyết Bảy Chú Lùn, Nàng Tiên Cá, Cô Bé Bán Diêm…mà chị hai nhịn ăn quà học mua về cho các em háo hức ở nhà chờ vào những ngày phát hành sách, chuyền tay nhau đọc say mê thích thú.

Một thế giới của hồn nhiên, thánh thiện, an bình.

Những câu chuyện thần thoại ấy ăn sâu vào trí óc trẻ thơ nên tôi tin có ông bụt, bà tiên luôn theo phù hộ giúp đỡ người hiền lương.

* Vì vậy đến từng nầy tuổi tôi vẫn còn tin vào phép lạ–tất nhiên ông bụt không có chòm râu bạc phất phơ cầm chiếc đũa thần, bà tiên không mặc chiếc áo trắng tha thướt hiền từ với bình nước cam lộ. Mà ông bụt bà tiên xuất hiện dưới nhân dáng là ông bà ngoại, là ba má của chúng tôi.

Khi hoạn nạn cần được cứu giúp thì các người ở đó, bảo bọc chở che, bằng sức mạnh tinh thần, bằng tình yêu thương vô biên vô hạn.

Má tôi có thời gian làm cô giáo dạy tiểu học ở Tà Kiết. Tôi bắt đầu vào học lớp 5 tức lớp 1 bây giờ, những buổi trưa trời nắng gắt ông ngoại đạp xe đến trường đón. Đám bạn khều móc kêu vói theo:

—Con nhỏ nầy sướng quá, đi học có ngoại đón rước.

Một bữa tôi bị trận mưa lớn nên mắc bịnh cảm, lâu ngày biến chứng qua thương hàn trầm trọng, má xin nghỉ dạy lo săn sóc tôi 24/24. Các bác sĩ ở Rạch Giá ngã nón chào thua, kêu gia đình chuẩn bị tâm lý tiễn tôi sang thế giới khác. Má mang tôi về cho uống thuốc bắc, bịnh vẫn không thuyên giảm. Cùng đường má đem tôi đến ở hẳn trong chùa Ông Địa, do ông chú sáu Mậu chăm quản ở Cầu Ván để tiện việc hốt sắc thuốc nam, và ông Sáu theo dõi mỗi ngày.

Tôi nhớ những đêm trường vắng lặng, nằm trên bộ phản trong căn lán bên chái ngôi chùa mà ông Sáu cất để dành cho những ai đến xin chữa bịnh tá túc. Gió bên hè rung cành dừa ngọn chuối lao xao, xa xa  tiếng chó tru nghe rờn rợn. Trong ánh đèn dầu hiu hắt, hình dáng má cặm cụi vừa dùng chiếc khăn nhúng nước lạnh xoa lên mặt, lên thân mình nóng sốt rảy tôi nằm rên khe khẽ bởi đau nhức hành hạ, vừa thầm thì những lời yêu thương năn nỉ giọng nghẹn ngào, vì tôi ngán uống những ngụm thuốc đắng ngắt triền miên ngày qua ngày:

—Má biết thuốc đắng khó uống nhưng con thương má thì ráng lên để mau khoẻ mạnh về nhà với ông bà ngoại, với mấy chị em. Để mai mốt ba về còn gặp con. Đừng bỏ mọi người, con có mệnh hệ gì là má không sống nổi..

Nghe nói vậy, tôi sợ điếng nín khóc, bưng chén thuốc đắng uống ực cái hết trơn. Từ đó cứ má đưa chén thuốc nào là tôi nhắm mắt nhắm mũi cố nuốt sạch, vì sợ má “không sống nổi” trên đời với chị em tôi.

Nhờ vào những cây lá mọc dại trong dân gian phơi khô, hay nhờ vào sức mạnh câu má năn nỉ, thế mà tôi bình phục cách thần kỳ.

Khỏi bệnh tôi rụng gần hết cả tóc. Cơ thể thiếu dinh dưỡng nên đòi được bù đắp. Tôi chỉ thèm cơm. Mà thời ấy cũng đâu có nhiều loại bánh trái thức ăn tràn lan như bây giờ.

Lớn lên, thỉnh thoảng ngoại, má thường hay nhắc giai đoạn tham ăn của tôi vừa cười âu yếm:

—Sau khi hết bịnh, con Thuý Hà…*

*Tôi còn có tên gọi khác Thuý Hà, bởi ba má đặt tên khai sanh là Thanh Hà thì mới hay trong dòng họ có ông hay bà cóc – tức ba hay má của bà cô của bà ngoại– tên Thanh nên phải sửa chữ lót tôi ra Thuý. Ông bà ngoại vẫn quen gọi tôi là Thuý Hà cho đến cuối đời của hai người.

Trong nhà chỉ có mỗi tôi là rắc rối. Từ nhỏ đã có hai tên lót, đến khi lấy chồng lại đổi họ lần nữa.

Nhưng bác Bách đồng nghiệp của ba lấy tử vi cho chị em tôi lúc còn nhỏ, có tiên đoán tôi cần đổi họ tên thì cuộc đời sẽ được bình an thanh nhàn.

Bác nói cũng đúng nhỉ. Mà lúc ấy có ai nghĩ sao mà phải đổi họ đâu.

Ngoại cười âu yếm nói:

—Con Thuý Hà trưa nào đi học về, sau khi chào ông bà ngoại, ba má  xong là chạy lại mở nắp nồi cơm ra xem. Hể thấy cơm còn nhiều thì thôi, còn thấy ít là nước mắt chảy ràn rụa, cứ đưa tay áo lên chùi lia lịa. Vì nồi cơm to nấu cho cả nhà nên nhìn thấy còn ít chứ có ăn hết đâu, chỉ là đói con mắt thôi. Mà Thuý Hà cũng chỉ cần có cơm với ít thịt hoặc cá chớ không cần thức ăn. Nhìn cách ăn ngon lành mà thấy thương. Biết ý nên ngoại phải luôn nấu thêm cơm cho dư ra.

Tôi cười tủm tỉm, “khoái chí” khi nghe “kể xấu” mình. Quả là xấu tính thật. Chắc nhờ ăn nhiều cơm lúc ấy mà khi thành thiếu nữ tôi nhổ giò cao hơn các cô gái ở thế hệ tôi đó chăng ?

Ở từng giai đoạn cuộc đời, má luôn hiện diện, đồng hành cùng chị em chúng tôi.

Nâng dậy khi vấp ngã. An ủi khi thất vọng. Lá chắn để chở che. Hứng lằn tên mũi đạn để bảo vệ. Tri âm tri kỷ để san sẻ nỗi lòng.

Má không chỉ là đấng sanh thành, mà còn là người bạn tâm tình tin cậy nhất cho chúng tôi kể lể chuyện vui buồn yêu đương, chuyện thành công thất bại cuộc đời.

Nếu ví gia đình như con tàu đôi lúc ngất ngư bầm dập theo triều sóng giông bão cuộc đời thì má luôn là người đứng mũi chịu sào hứng chịu đắng cay khổ nạn để con cháu được bình yên.

Hể bất cứ khi nào chị em tôi cần, má luôn bên cạnh như tấm phao cứu sinh. Đến đời con của các chị, má cũng theo gương ông bà ngoại, là chỗ dựa vững chắc, chăm sóc, khuyên răn, dạy dỗ… không thiên vị bỏ sót cháu nào.

Hai chị gái và hai em gái tôi may mắn luôn cận kề ba má cho đến ngày các người rời bỏ cõi trần gian tạm bợ. Chỉ có cậu em trai và tôi là lưu lạc trời xa.

Những ngày chuẩn bị Chồng gần không lấy, lại lấy chồng xa. Lỡ mai Cha yếu Mẹ già. Chén cơm đôi đũa biết nhờ cậy ai. Tôi vừa vui vừa ngậm ngùi khi nghe Má nói :

—Thế là giấc mộng được sống ở quốc gia mà con ao ước từ nhỏ đã thành hiện thực. Má mãn nguyện với chị em con rồi.

Lòng Mẹ bao la như đại dương

Ngan ngát như lúa thơm ruộng đồng

Hiền hoà như dòng sông tĩnh lặng

Ngọt ngào như khoai sắn rẫy nương

.

Chúng mình dù mười hay đã năm mươi

Dù anh, chị, em nay đã vào đời

Công hầu khanh tướng vẫn cần có Mẹ

Mẹ là sông, là đất, là vườn rau tươi… (TH)

Đây chỉ là một góc nhỏ của bức tranh về Má của tôi. Còn hàng trăm, hàng ngàn mẩu chuyện về sự hy sinh của Má đối với đàn con mà tôi chưa nói hết, hay không đủ ngôn từ để lột tả cho chính xác.

Má, bà tiên dịu hiền của con ơi !

Nếu có lai sinh, tôi ước nguyện được đầu thai vào đúng gia đình hiện kiếp. Được là cháu của đúng ông bà ngoại, là con của đúng ba má, là chị, em của đúng các chị em tôi đời này.

Bông Hồng Cho Ngoại

Thành kính tưởng nhớ về Ngoại của con. Th.H

Có hai người phụ nữ mà tôi tôn thờ yêu thương nhớ nhung nhất, đó là bà ngoại và má của tôi.

Tôn thờ bởi sự hy sinh quên mình, tận tuỵ vô bờ cho chồng, con, cháu của hai người. Bởi không cần những hoa ngôn mỹ từ sáo rỗng mà chỉ bằng cách đối nhân xử thế, bằng hành động cử chỉ giản đơn thể hiện đức tính hiền lương cao đẹp của ngoại của má đã là cách dạy-làm-người cho chị em tôi từ khi còn nhỏ dại, là tấm gương soi chiếu dẫn dắt chị em tôi trên con đường đời thăng trầm sướng khổ một cách hữu hiệu hơn các bài học luân lý nào.

Yêu thương nhớ nhung, bởi trên cõi tạm nầy chúng tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại hai người nữa. Tôi đã có dịp nói về má, lần này nhân Mother’s Day tôi thành kính dâng chút hương lòng viết về bà ngoại.

Bà ngoại ra đi đã ba mươi năm.

Ba mươi năm, hơn một phần tư thế kỷ, gần mười một ngàn ngày. Vừa quá dài mà cũng vừa quá ngắn. Quá dài là tính theo thước đo thời gian, nhưng quá ngắn bởi hình ảnh ngoại vẫn còn sống động rõ nét trong tôi mà dòng đời xuôi ngược không thể xoá mờ đi được. Tôi vẫn còn “nghe” văng vẳng bên tai giọng nói nhẹ nhàng của ngoại. Tôi vẫn còn “thấy” từng nếp nhăn trên gương mặt ngoại, mắt mũi miệng thế nào. Thấy dáng lưng còng đi đứng liêu xiêu phải dựa vào cây gậy. Thấy mái tóc lơ thơ bạc trắng được má chải mỗi buổi sáng rồi búi thành búi nho nhỏ gọn gàng (lúc ngoại ngã bịnh không còn tự chăm sóc được nữa).

Quay ngược thời gian trở về thời ông bà cố ngoại, những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Chúng tôi thường nghe ngoại và má nhắc về ông bà cố với bao trìu mến thương yêu mà nhiều năm rồi tôi vẫn còn mường tượng ra được khung cảnh thanh bình của thời xưa y như trong cổ tích.

Má kể rằng thời má còn con nít, xóm chỉ có khoảng hai chục gia đình toàn bà con với nhau rất đoàn kết gắn bó. Gần như tất cả sống về nghề nông, mỗi năm chỉ cần làm một mùa đã đủ gạo ăn cho mùa tới. Thời ấy chưa có nhà máy xay nên phải giã gạo bằng cối. Ban ngày ai đi đâu làm gì thì làm, nhưng tối đến là cả xóm tụ tập lại nhà ông bà cố.

Tôi chắc rằng ông bà cố tôi là những người hiền từ nhân đức, hiếu khách cởi mở đối với họ hàng nên mọi người mới chọn nhà ông bà cố làm nơi hội họp vui chơi. Và trong nhà thì thương con cháu hết mực nên ba, bốn thế hệ gom tụ thành đại gia đình đề huề. Cách sống đó được lưu truyền cho đời con cháu chúng tôi đến tận bây giờ.

Những đêm trăng sáng mọi người bắt ghế hoặc trải chiếu ra ngoài sân người thì uống trà đàm đạo, chơi cờ tướng, kẻ lo giã gạo, trẻ con chơi trốn tìm hay nhảy nhót lò cò. Đêm không trăng thì vào nhà đốt đèn bằng mỡ heo xúm nhau nghe má đọc truyện Hai Bà Trưng Bà Triệu, truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Tam Quốc Chí ..v..v.. Thời ấy cả xóm số người biết chữ đếm không hết một bàn tay, duy má tôi là con gái cưng độc nhất của ông bà ngoại nên được đến trường. Má tuy là con gái mới suýt soát 9,10 tuổi nhưng rất lanh lợi thông minh. Biết chơi cờ tướng, biết dạy chữ cho các người lớn, là thủ lãnh của bầy con nít trai gái mà theo vai vế phải kêu bằng cậu bằng dì nhưng họ bị má tôi mầy tao mi tớ tuốt luốt. Vì là con nít nên không ai la rầy gì, vài năm sau mới chững chạc gọi theo tôn ti trật tự.

Thời ấy người ta sống bằng tình nghĩa chứ không vì vật chất tiền bạc. Mỗi mùa ruộng hay người nào có lợp nhà, cất nhà thì cả xóm xúm lại tiếp xoay vòng. Đến phiên nhà khác cũng vậy, chỉ thuê mướn một, hai thợ chính. Chỉ khi nào mọi người cùng gieo, cấy, gặt trùng ngày thì mới phải thuê người Cam Bốt ở xóm trên đến phụ.

Ông bà cố có bốn người con gái, bà ngoại tôi là con thứ nhì.

Nghe người cùng thời với ngoại kể rằng lúc còn xuân xanh, ngoại là cô gái xinh xắn siêng năng khoẻ mạnh nhất nhì trong làng kể cả các làng lân cận. Thật vậy, khi tôi bắt đầu biết nhận thức, tôi thấy về mức độ tham công tiếc việc thì không ai qua nổi ngoại. Xong mùa ruộng thì ngoại xách cần câu đi câu cá dọc theo sông hay hái rau muống đem xuống chợ bỏ mối kiếm thêm tiền quà cho đám cháu. Nếu không lặn lội bên ngoài thì ngoại cặm cụi trong bếp làm bánh trái cho cả nhà thưởng thức. Nhờ theo phụ ngoại mà sau nầy tôi học được vài món bánh cổ truyền. Nhưng tài gói bánh tét hay kho cá thì đố ai qua hơn ngoại. Viết tới đây mà tôi còn “ngửi” được mùi thơm của nồi cá rô, cá lòng tong kho tiêu với tỏi hành tóp mỡ…. (ừm.. tôi đang nuốt nước miếng nè).

Nhớ có lần vào mùa lúa chín, thời ấy chưa có máy tuốt lúa. Gặt xong phải bó thành từng bó lớn vừa sức người để đập cho từng hạt rơi ra trên tấm ván dầy 1 tấc, dài 1,2m một đầu dựng trên hai thanh gỗ, đầu kia nghiêng xuống đất 45 độ. Ngoại thuê vài thanh niên người Cam Bốt ở xóm So Đũa đến phụ.

Tôi cũng tập tành ra đồng. Công việc của tôi chỉ là giũ rơm để gom những hạt lúa còn sót lại trong bó rơm mà các anh ấy quẳng ra. Thời gian nầy do thời cuộc chị em tôi không được tiếp tục học nữa. Không quen lao động chân tay mà cả ngày cứ đứng lên cúi xuống nhiều lần để nhặt rơm giũ rơm quăng rơm chất thành đống khiến hai cánh tay và lưng tôi mỏi mệt đứ đừ mồ hôi tuôn chảy mặt mũi đỏ au vì nắng táp. Một thanh niên đứng đập lúa bên cạnh có lẽ đã quan sát tôi từ sáng sớm đến gần xế cầm lòng không đậu thốt lên:

—Trời ơi cô ơi, tui thấy cô không làm ruộng được, nên về đi học lại hay kiếm việc văn phòng mà làm đi. Cô làm thua xa bà ngoại của cô rồi, không thể sống bằng nghề nầy vì không ai thuê mướn cô đâu, làm chậm quá chả bù với bà ngoại cô lúc trẻ!!

Rồi anh ấy tiếp tục kể lể là gia đình anh làm công cho gia đình tôi đến phiên anh là ba đời rồi nên anh biết rành lắm. Ông của anh khen bà ngoại tôi là giỏi nhất vùng, có thể vác nổi bao lúa 50 ký nhẹ nhàng không thua gì cánh thanh niên. Vừa giỏi vừa duyên dáng nên trai làng mơ ước mà không ai dám ngỏ lời vì sợ bị từ chối. A, nhờ thế nên ông ngoại tôi là người ở xứ xa mới cưới được bà ngoại tôi đây mà.

Nghe anh nhận xét bằng lời lẽ chất phác như thế khiến tôi vừa hãnh diện và thương ông bà ngoại vô biên. Đồng thời cũng vừa buồn cười lẫn chua xót cho số phận chị em chúng tôi quá. Nói thầm: Anh ơi, giá mà chúng tôi được tiếp tục đến giảng đường nhỉ. Tôi chỉ ra đồng có một buổi mà đã mệt nhoài trong khi ngoại vất vả lam lũ mà không bao giờ nghe than thở kêu ca. Chả lẽ chị em tôi từ đây về sau phải làm nghề nông hết kiếp, ngay cả muốn tìm chân “ở đợ” chắc cũng không ai thuê mướn vì chậm chạp, dở dang quá như lời anh người Cam Bốt ấy nhận xét.

Càng nghĩ càng thương ngoại. Mỗi mùa lúa tôi tiếp ngoại có một, hai ngày mang cơm trưa cho người đến phụ hoặc giũ rơm thế mà đã bở hơi tai trong khi ông bà ngoại quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời mà chả nghe ngoại than mệt gì. Vì ai mà ngoại phải làm quần quật nếu không phải vì sáu chị em tôi?

Nếu như má không phải là con gái cưng độc nhất của ngoại và vì thương con nên thương yêu cưu mang luôn đàn con của con mình.

Nếu như ba tôi đừng phải là một công chức quá đỗi thanh liêm trong sạch thì với vị trí và chức vụ ba đảm nhiệm, đã dư sức bảo bọc cả đại gia đình sống đời dư dả.

Nếu như má tôi là người vợ tham tiền, thích một bước lên xe hai bước kẻ hầu người hạ thì ông bà ngoại cũng thong dong với câu kinh tiếng kệ, nhẩn nha thăm viếng bà con họ hàng chứ đâu đầu tắt mặt tối như vậy.

Nếu lũ con gái chúng tôi đừng nuôi mộng học hành xa nhà tốn kém, chỉ cần có cái bằng tú tài rồi đi làm cô giáo hay tiểu công chức hay “theo chồng về dinh” lúc 17, 18 tuổi thì cuộc sống ngoại đã thảnh thơi an nhàn, sung túc nữa là khác .

Con nhớ ngoại quá ngoại ơi!!

Lúc còn bé những buổi trưa hay tối chúng tôi chơi trốn tìm, thích trốn trong phòng riêng của ngoại nên nhớ rõ chiếc rương bằng da tí hon đựng quần áo mới được đặt trong giường cạnh ngoại. Mặc dù ông bà ngoại chỉ là nông dân nhưng nhờ chịu thương chịu khó tiết kiệm nên nhà ngoại khang trang rộng rãi so với thời ấy khá nhất làng. Chẳng lạ người trong xóm lấy nhà tôi làm tụ điểm vui chơi.

Nhà toàn bằng gỗ tốt dựng sàn nên người ta gọi ông ngoại tôi là Ông Ba Nhà Sàn. Bà ngoại có phòng ngủ riêng thanh lịch, dù bình thường ngoại ăn mặc giản dị, quần áo bà ba đen hoặc trắng đôi khi bạc màu. Trong cái rương nhỏ, ngoại cất giữ vài bộ đồ bằng lãnh Mỹ A láng bóng và hai cái áo dài: một đen một trắng bằng the, cánh tay đăng ten rất đẹp chỉ mặc khi đi xa hay trong dịp đặc biệt. Ngày xưa người phụ nữ miền Nam dù nghèo dù vất vả cỡ nào, nhưng khi lễ hội hay cưới hỏi luôn luôn mặc áo dài. Nhất là những phụ nữ xứ Huế, xứ Quảng… luôn mặc quốc phục trong lúc buôn gánh bán bưng, thật đáng kính nể làm sao .

Người ơi, còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm bên ao

Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao….

…. Thời hoàng kim xa quá chìm trong phôi pha …

                             (Hương Xưa, nhạc Cung Tiến)

Có năm nọ đoàn cải lương Dạ Lý Hương về Kiên Giang trình diễn. Hồi nhỏ, cải lương là loại văn nghệ ưa thích của mọi người già trẻ lớn bé (chúng tôi cũng không ngoại lệ, chỉ sau này lớn lên thì chúng tôi mới quay sang  thích tân nhạc). Má mua vé cho ngoại dắt mấy chị em đón xe lam ra rạp Châu Văn xem. Ngoại mặc áo dài the mỏng hai cánh tay bằng ren thêu, chân mang hài, mấy chị em xúng xính đồ bộ mới tinh. Chúng tôi nao nức vì lần đầu tiên được đi xem nghệ sĩ nổi danh trình diễn, hình như là cô Phượng Liên với ai tôi quên rồi. Cô Phượng Liên mặc áo màu trắng kiểu tiên nữ lưng thắt dải lụa tha thướt, đầu trâm cài lược giắt, đeo đôi hoa tai lấp lánh đung đưa mỗi khi cô cử động múa may nhún người. Dưới ánh đèn sân khấu trông cô đẹp như tiên giáng trần khiến tôi ngơ ngẩn rồi mơ ước sau nầy lớn lên mình cũng thướt tha xinh đẹp như hình ảnh người nghệ sĩ ấy!

Khi đi cũng như khi về, ngoại luôn luôn dang hai cánh tay nhỏ nhắn ôm chị em tôi về phía ngoại như sợ có ai đến bắt cóc đàn cháu vậy.

Lại có lần quận Kiên Thành tổ chức văn nghệ ngoài trời, người khắp tỉnh đến tham dự, ngoại cũng dẫn chị em tôi đi xem. Lúc ấy tôi còn là con nít, nhưng chị hai đã thành thiếu nữ, chị ba chớm trổ mã rồi. Mà nơi chốn đông đúc thì có biết bao“cạm bẫy “của các ông lính, các anh học trò, các thanh niên. Tôi và các em mê mẩn xem ca nhạc hay hài kịch duy bà ngoại thì hầu như không xem chút gì, mà cứ đứng dang hai tay ra ôm các chị em không trọn hết vòng, mặt thì nghiêm nghị ngó chừng chung quanh. Hễ có bóng nam nhi nào lảng vảng lại gần là ngoại với con mắt hình viên đạn ngó trừng đến khi họ lỉnh mất mới thôi. Mà ngoại đâu có mạnh mẽ gì cho cam, chỉ cần ai đó xô đẩy nhẹ là đủ ngoại té mất rồi.

Hình ảnh đó khiến tôi liên tưởng đến con gà mái mẹ xù lông xù cánh bảo vệ che chở cho đàn gà con mới nở, thật cảm động làm sao .

Trong mắt của ông bà ba mẹ thì các con dù vóc dáng cao lớn thế nào, dù bao nhiêu tuổi vẫn là trẻ con cần được bảo vệ chăm sóc như hồi thơ dại mà thôi. Ngoại tôi thật sự là hình ảnh của :

Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng nước mắt nỉ non (ca dao)

Quê hương là bà mẹ (ngoại) già*

Nghèo, quê, xấu, vụng…vẫn là mẹ (ngoại) ta

Trái tim mẹ (ngoại) vẫn bao la

Đẹp hơn tất cả bài ca trên đời

                        (Bà Mẹ Quê Hương, thơ Hà Huyền Chi)

*Tôi mạn phép tác giả sửa Mẹ thành Ngoại .

Thuở tôi còn nhỏ có thời gian ba vắng nhà, má thay ba gánh vác việc nuôi con. Một lần theo bạn thử đi buôn chuyến, ngoại thay má chăm sóc chị em tôi. Đêm đêm ngoại kể chuyện cổ tích và hát đồng dao cho chúng tôi nghe. Dù chúng tôi đã thuộc làu những truyện cổ tích, những lời ru …nghe đi nghe lại lần thứ một trăm vẫn thấy thích thú như nghe lần đầu. Truyện Nàng út rẫy dưa, Tấm Cám, Bà Âu Cơ và Ông Lạc Long Quân…, rồi các bài hát:

Dưa hấu là cậu bí ngô

Bí ngô là cô đậu nành   

Đậu nành là anh dưa chuột

Dưa chuột cậu ruột dưa gang

Dưa gang họ hàng dưa hấu

Dưa hấu là cậu bí ngô….

Cứ thế xoay vòng hát hết đêm vẫn chưa chấm dứt bài. Hoặc:

Con mèo mà trèo cây cao

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà

Chú chuột đi chợ đường xa

Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo

Lần nào cũng vậy, tôi chìm vào giấc ngủ theo tiếng hát của ngoại đến khi ngoại đánh thức thì đã là bình minh hôm sau để sửa soạn đến trường.

Rồi khi ba chị em tôi lên Saigon tiếp tục theo đuổi việc học. Thời ấy điện thoại chưa thông dụng, mỗi tuần chúng tôi mỗi viết thư về thăm nhà. Ngược lại chị hai (lúc ấy ra làm công chức cùng với ba) cũng trả lời ngần ấy thư. Thật xúc động biết bao khi một hôm chúng tôi nhận được thư chị hai có kèm theo thư của bà ngoại. Nét chữ cong quẹo từ bàn tay chai sạn chỉ quen với ruộng đồng bếp núc nhưng chứa đựng bao yêu thương trìu mến, dặn dò chị em tôi giữ gìn sức khoẻ và chăm sóc lẫn nhau. Ngoại không viết nhiều, vì ông bà ngoại biết chữ đủ để đọc truyện mà thôi. Chỉ vài dòng ngắn ngủi nhưng thể hiện sự nhớ nhung, tình yêu của ngoại dành cho đàn cháu khiến chị em tôi nghẹn ngào bật khóc muốn chạy ngay về nhà để ôm ngoại, để được nghe tiếng ngoại hát đồng dao ru chị em tôi như thuở bé thơ.

Ngoại tuy thể chất gầy yếu nhưng tinh thần mạnh mẽ, quật cường. Ngoại  không nói những lời văn chương hoa mỹ, lý luận cao siêu vì ngoại chỉ là một người nông dân chân chất. Ngoại không cần nghiên cứu triết lý Phật giáo nhưng khi gia đình gặp hồi nguy biến, ngoại vượt lên trên mọi thử thách, đón nhận tai ương với lòng an nhiên bình thản của một người thấu đạt cái nghĩa vô thường.

 Ông ngoại bình thường thì cứng rắn mạnh mẽ, là đầu tàu ngăn gió che mưa cho đại gia đình nhưng khi chúng tôi bị đuổi ra khỏi nhà một cách oan ức trở thành kẻ vô gia cư thì tinh thần ông bị lay động nhiều nhất. Từ căn chòi cất tạm bợ, ông hay ngồi cạnh cửa sổ hàng giờ nhìn nhóm người quen lẫn lạ ngang nhiên hợm hĩnh ra vào tự do tung hoành trong ngôi nhà thân yêu xây dựng lên từ những chắt chiu nâng niu nửa đời son trẻ. Rồi hai dòng nước mắt chảy dài trên đôi má nhăn nheo khiến lòng con cháu quặn đau vì cảm được sự u uất, tuyệt vọng, bất lực của ông mà không thể làm gì thay đổi được. Khi ta trẻ thì tương lai còn trước mặt, còn cơ hội tạo dựng lại những gì vuột mất, nhưng khi tuổi đã hoàng hôn thì ý chí cũng bị bào mòn.

Lúc đó bà ngoại với má là người đứng ra an ủi vực ông ngoại dậy, chứng tỏ nghị lực phi thường xứng đáng hậu duệ con cháu hai bà Trưng, bà Triệu. Bà can đảm chấp nhận thảm hoạ, không hề tỏ vẻ tiếc nuối tài sản bị cướp trắng trợn, bà hay nói: Mọi sự trên đời đều không trường tồn, của cải vật chất chỉ là phù du, miễn người còn là phúc đức rồi.

Bà ngoại đã ngộ câu kinh Bát Nhã: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” mà không hề đến chùa nghe Sư thuyết giảng bao giờ .

Rồi đến cái ngày bà ngoại ra đi, bỏ ông ngoại ba má chị em tôi lại trần gian. Lúc chuẩn bị làm lễ di quan, ông ngoại bỗng lảo đảo ngã ra suýt ngất. Dù hiểu thấu đáo đời người gói gọn trong bốn chữ: Thành, Trụ, Hoại, Không (hay Sinh, Trụ, Dị , Diệt) nhưng khi có một người thân yêu lìa xa vĩnh viễn ai lại không u buồn sầu não?

Bà ngoại à, bây giờ thì ông ngoại, ba má và em gái thứ năm đã cùng bà yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng. Rồi một ngày nào đó chị em chúng con cũng sẽ lần lượt về chốn ấy. Nếu có lai sinh, con ước nguyện sao cho cả gia đình chúng ta sẽ đoàn tụ hệt như ở kiếp nầy vậy đó ngoại ơi.

Thanh Hà

Bài Mới Nhất
Search