03/19/2013
Khuất Đẩu : Đọc Kịch Lữ Kiều

 

Lời Giới Thiệu : Trong nỗ lực giới thiệu một mảng văn học miền Nam cũ ( hiểu theo nghĩa một nửa đất nước từ dòng sông Bến Hải đổ vào ) , nhất là những tác phẩm mang đậm dấu ấn thời cuộc, chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết về kịch Lữ Kiều của nhà văn Khuất Đẩu. Như thường lệ, ở cuối bài, chúng tôi có phần phụ lục ngyên văn vở kịch : “Kẻ Phá Cầu “ của Lữ Kiều.

Theo nhà văn Trần Hoài Thư:Vở kịch này được viết sau biến cố năm Mậu Thân và được phổ biến trên tạp chí Ý Thức vào năm 1969 mà tòa soạn “lưu động theo chân người viết” (có nghĩa là tòa soạn không có chỗ nhất định, bởi những người chủ trương hầu hết mang bộ đồng phục tứ tán khắp nơi). Chúng ta sẽ thấy những nhân vật đại diện cho từng thành phần và giai cấp. Từ trí thức, hay kẻ không học. Từ bên này hay bên kia hàng ngũ. Thương binh, phụ nữ, bà cụ, thanh niên…Từ hữu khuynh đến tả khuynh. Tất cả tình cờ tụ họp và gặp nhau vào một đêm trong một căn nhà không phải do chính họ chọn mà lịch sử đã thay họ chọn dùm.(Damau.org)”.

TV&BH

Đọc Kịch Lữ Kiều

Khuất Đẩu

Mở

Kịch là một từ Hán Việt. Theo định nghiã của Đào Duy Anh, là rất mạnh. Như một cơn địa chấn tạo nên những đứt gãy, những hố sâu.

Từ đó, Kịch được dùng để gọi những tuồng hát, những tuồng đời.

Trái đất là một tinh cầu. Mỗi vở kịch là mỗi tiểu tinh cầu. Và tác giả chính là mỗi tiểu thượng đế. Như trong kinh thánh, tác giả tạo ra ánh sáng và bóng tối, tạo ra gió và mưa, tạo ra không khí và sau cùng tạo ra nhân vật. Nhân vật được tác giả cài đặt định mệnh. Những định mệnh nâng đỡ nhau, va đập vào nhau tạo nên những số phận. Tất cả những chuyển động âm thầm ấy làm nên kịch.

Vở kịch được coi là thành công khi tạo được những dư chấn trong hồn người xem sau khi đã cho họ thấy những đứt gãy, những hố thẳm.

Nhưng nếu vở kịch được viết mà chưa lên sân khấu, thì vẫn chỉ là một tinh cầu chưa chuyển động. Chúng nằm im trên giấy như cô công chúa ngủ trong rừng chờ hoàng tử đến thức dậy. Hoàng tử ấy là đạo diẽn. Anh ta dùng bàn tay kỳ ảo của mình như phù thuỷ hô phong hoán võ kêu gọi âm binh, làm chuyển động ánh sáng, bóng tối, gió mưa và những nhân vật. Vở kịch có da có thịt trở nên sống động là nhờ anh.

Hiểu như thế để thấy rằng từ tim óc người viết cho dù là tiểu thượng đế cũng phải cần có nhiều cơ may mới có thể đến được với người xem.

Trên các sân khấu VN, có rất ít cơ may như thế. Thì đành phải “đọc” vậy.

Đọc như thế nào? Đọc một cách ơ hờ như đọc môt thông báo? Hỏng! Đọc như một chút tình bè bạn, cũng hỏng! Phải đọc như một đạo diễn có tài đang dựng kịch. Tức là phải làm cho vở kịch chuyển động, phải đánh thức những con chữ để nó phát ra tiếng nói. Và phải nghe bằng sáu giác quan, trong đó giác quan thứ sáu là vô cùng cần thiết. Như Kim Thánh Thán “nghe” Tây Sương ký. Như Bùi Giáng “nghe” Malentendu, kịch của Albert Camus.

Tôi cũng tin là mình đang “nghe” như thế trước những tiểu tinh cầu của Lữ Kiều.

Thức dậy đi kẻ phá cầu!

Kịch được viết năm 1969, sau Mậu thân đúng một năm. Cứ cho là vào những ngày giỗ đầu của hàng vạn con người đã chết oan để làm nên một tiếng nổ lớn còn hơn bom nguyên tử. Chiếc cầu tuy không gọi tên nhưng ai cũng biết là cầu Trường Tiền. Cây cầu yểu điệu thục nữ đưa những bờ vai “như giấy mới” bắc qua hai bờ sông Hương, con sông như kiếm dựng trời xanh dưới mắt nhìn Cao Bá Quát.

Cây cầu còn là một niềm kiêu hãnh như một nét mày cong vẽ trên tâm hồn Huế.

Vậy mà có kẻ muốn phá, dám phá!

Kẻ ấy là Trung, tổ trưởng đặc công, là người từng lớn lên bên bến sông ấy, từng tắm dưới chân cầu kia. Trung còn là bạn của Miên một thương binh “nguỵ” mù mắt, và đã từng thầm yêu Kim, chị của Miên, từng biết Văn chồng của Kim, từng lui tới đề huề coi mẹ Kim như mẹ. Anh cùng đồng chí chọn đúng ngôi nhà thân quen để làm nơi xuất phát cho cuộc tàn sát một cây cầu.

Khi biết được nhiệm vụ của anh, Kim và Miên ra sức cản ngăn. Nhân danh tình bạn, một thời đã rất lãng mạn cùng ầm ĩ hát bài Chiều vàng dưới nắng vàng để tương tư một người con gái, Miên đã tranh luận với Trung, quyết liệt đến nỗi, ngày mai, khi nghe tin cầu gãy, nếu tôi còn sống, tôi xem như cậu đã chết. Nhưng Trung vẫn khẳng định là cầu phải bị phá huỷ. Đẻ chi vậy? Để ngăn đường tiến quân của địch? Không! Mà chỉ để xác tín bọn họ có mặt ở thành phố này và để cho thế giới biết được sức mạnh của họ. Cuộc chiến ý thức giữa hai người một thời là bạn dữ dội không kém những cuộc đấu kiếm hay đấu súng. Cuối cùng kẻ mù loà nhưng sáng suốt đã thua kẻ sáng mắt có sức mạnh mù quáng.

Cây cầu đã bị giựt sập. Và Trung đã chết cùng với cây cầu.

Gần một phần tư của vở kịch, tác giả để Trung khạc nhổ vào quá khứ, hận thù hiện tại, nhưng lạ một điều là Trung không thuyết giảng về tương lai, một tương lai màu hồng như ta thường nghe thấy từ miệng lưỡi của “những đứa con mang gươm đao về xóm làng”. Từ lời nói, từ cử chỉ, rắn và lạnh như thép súng. Trước mặt người chỉ huy và đồng chí Út, Trung có vẻ sừng sững cao ngạo của một kẻ mà lập trường đã được trui rèn trong lửa đạn. Ở đây ta thấy sức mạnh của nguỵ tín đã thắng áp đảo những mong manh yếu đuối của tâm hồn.

Trung cho thấy dưới mắt nhìn của cả hai phía, tâm hồn anh đã hoá thạch. Một tâm hồn còn chai cứng hơn cả Martha trong Malentendu của Camus.

Nếu Trung còn sống trở về hay bị tử thương vì chất nổ thì toàn bộ những sự kiện, những nhân vật chỉ là vật chứng, người chứng dể tôn vinh là anh hùng của phía bên kia, hay để kết tội là kẻ phá hoại của phía bên này.

Nhưng, qua lời nói hổn hển của người chỉ huy bị thương trở về, chứng nhân cuối cùng của cuộc ám sát, ta bỗng thấy dung nham của sự thật đang trào lên sau tiếng nổ lớn. Như đêm bỗng sang ngày. Như chết bỗng thành sống. Tất cả đã quay ngoắt 180 độ.

Giật mình nhớ lại một phần tư vở kịch, ta thấy Trung đóng kịch. Anh đóng kịch trước Miên, trước Kim, trước đồng đội. Đóng kịch quá giỏi. Không ai có thể moi ra lời nào, cử chỉ nào để xác tín anh là kẻ sẽ chết theo cây cầu. Vậy mà chỉ một lời như trối trăng của người chỉ huy, phía bên kia Không thể tôn vinh anh là anh hùng, phía bên này không thể kết án anh là kẻ phá hoại.

Anh là kẻ tuẩn tiết.

Anh chết theo cây cầu như trước đó anh nói với Miên, tôi còn thân thiết cây cầu hơn cả cậu.Từ một kẻ tâm hồn tưởng chừng hoá thạch, bỗng trở nên nóng ấm vì sự phục sinh của một tâm hồn đắm đuối.

Cái quyết định bi tráng ấy không phải bỗng dưng mà có. Nó bùng nổ trong tâm hồn Trung khi được biết cây càu sẽ bị phá để gây một tiếng vang lớn trên toàn thế giới sau khi cuộc tổng tấn công đã bị thất bại. Trung được chọn, còn hơn thế, tự nguyện trở về để làm cái việc mà trước khi lên núi anh không hề nghĩ đến. Anh vẫn tưởng làm cách mạng là lau rửa khuôn mặt Huế đã nhớp nhơ, xấu xí vì bàn tay lông lá của ngoại xâm, để giữ cho nét mày cong ấy đẹp hơn, tô điểm cho xứ Huế thêm yêu kiều lộng lẫy.

Cái chết của anh chính là một thức tỉnh sau những đêm dài ngộ nhận. Nó còn là một lời tạ tội với những người thân quen cũ, là sự đoạn tuyệt dứt khoát với những người “bạn” mới, mặc dù dưới mắt họ, trước đó anh là một anh hùng. Cái chết của anh bỗng dưng bi tráng hơn cả Kinh Kha. Vì sao? Vì Kinh Kha còn có cả ba ngàn tân khách tiễn đưa bên bờ sông Dịch, còn tỏ được cái hào khí trên sông lạnh với những câu hát làm tóc trên đầu tân khách dựng ngược. Còn Trung lặng lẽ, âm thầm. Một mình mình biết, một mình mình hay. Khi bơi đến đặt chất nổ vào lòng cầu, trái tim Trung chắc đập dữ dội. Cây cầu bình yên ôm lấy anh như đã ôm anh suốt cả thời thơ ấu. Lúc này anh như một kiếm khách, một tay ôm chặt người yêu, mặt sát mặt, môi sát môi, một tay đâm cây kiếm bén ngót từ phía sau, xuyên qua tim nàng và xuyên qua tim mình !

Từ trong sâu thẳm, nhân vật Trung cho ta thấy vẫn còn chất người. Còn rất nhiều. Một người dám chết với những gì mình dấu yêu còn người hơn một người sống thấp hèn với những gì mà mình căm ghét. Chỉ một cái chết nhưng dưới hai mắt nhìn, một bên cho Trung là kẻ phản bội, một bên có thể gọi Trung là kẻ chung tình.

Còn một nhân vật khác, cô đọng như một giọt máu khô. Đó là mẹ Kim, một người đàn bà câm (hay bỗng dưng bị câm?). Bà chỉ kêu lên A! A!, những tiếng kêu quái dị khi nhìn những xác chết. Bà là hình ảnh tượng trưng của Linh Hồn Huế. Trước nỗi đau sâu dài khiến bà hoá câm, chỉ phát ra những tiếng kêu đứt ruột.

Đọc xong vở kịch, tôi mơ hồ tưởng như mình đang ngồi trước một sân khấu mà ánh sáng và bóng tối được sử dụng bỡi những kỹ sư tài giỏi, một dàn nhạc biết rải vào khoảng lặng những âm thanh nhiều màu sắc, những nhân vật được thể hiện bỡi những nghệ sĩ đích thực, và tất cả được phù phép dưới bàn tay của một đạo diễn bậc thầy. Tôi như trông thấy ngọn lửa của cây cầu đã hoá thân trong đó có máu thịt của Trung. Ngọn lửa ở phía sau và người Mẹ câm ốm yếu, đen đúa ở phía trước. Bà đưa hai tay lên trời kêu A!A! trong khi màn từ từ hạ. Tôi nghe như Trời Đất ơi!

Tiếc rằng đó chỉ là giấc mơ. Cũng như tiếc rằng tác phẩm ai điếu cho một cây cầu này của Lữ Kiều chỉ là những trang bản thảo cho dù đã được bạn in thành sách như một tiếng thở dài.

Con sâu trong mắt

Kịch được viết năm 1972, năm ký kết hiệp định Paris. Ở thời điểm này cuộc chiến tranh đã xuống thang, một số tù binh sẽ được hai bên trao trả. Nhưng trước đó và sau đó, những tù binh ở Phú Quốc vẫn không phải là tù chính trị như ở Côn đảo. Một chừng mực nào đó, người ta vẫn phải tuân theo công ước quốc tế Genève về tù binh. (không có những cai ngục miệng luôn mắng chửi, tay luôn đánh đập). Bên cạnh những giám thị ăn nói khá hoà nhã (gọi tù là các anh) còn có thêm những bác sĩ mặc áo lính. Một trong những bác sĩ ấy là tác giả.

Chứng kiến những người tù đói khát, ốm đau, thương tật, những âm mưu đào thoát, một người đã từng tuyên thệ trước Hypocrate cảm thấy những nỗi đau âm ỉ, khạc chẳng ra nuốt chẳng vào, nên phải viết thành kịch. Viết cho chính mình, trước hết, như một băng bó tạm thời trước khi có một cuộc đại phẩu. Viết, sau đó, những mong để lại trong văn học một nét khắc cho dù không bóng bẩy tài hoa như Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, nhưng vẫn là một vết khắc của lịch sử.

Cái tập thể với hơn 500 con người tạm thời thua một vài trận nhưng vẫn tin ở chiến thắng cuối cùng. Dù bị giam cầm canh giữ nghiêm mật, họ vẫn nung nấu một ý đồ vượt thoát. Kịch phơi bày cái khát vọng tự do dưới hình thức một cuộc tuyệt thực để đấu tranh những đòi hỏi mà họ cho là chính đáng: thả những người bị biệt giam mà họ nghi ngờ là bị thủ tiêu. Trả xác những người đã bị bắn chết khi vượt thoát. Họ không còn vũ khí để chiến đấu. Họ chỉ còn cái quyền từ chối được ăn. Dĩ nhiên là để làm reo. Ta chẳng lạ gì cách đấu tranh của họ. Chỉ lạ là họ ngồi lì giữa trời nắng cháy hay giữa trăng khuya lạnh buốt để che dấu cho một âm mưu táo bạo. Họ âm thầm đào một địa đạo dưới lòng đất dài cả trăm thước, đào bằng cà men, bằng tay không, để đưa cả trăm người tù thoát qua bãi mìn rồi biến mất giữa rừng lau lách. Công cuộc ấy kể ra cũng khá vĩ đại nếu thành công. Đó là công cuộc quật khởi giữa lòng quân thù, là thắng trước mũi giặc, là tiếng nổ lớn vang dội tận hoà đàm Paris.

Nhưng họ không thành công. Cuộc vượt thoát đầy mưu trí và kiêu hãnh ấy bị nhận chìm trong biển máu. 99 con người bị bắn chết ngay khi vừa ló đầu ra khỏi miệng hầm, mũi chưa thở được chút khí trời tự do. Chỉ có một người bị thương may mắn sống sót nhờ giả chết. Người mà số phận bỗng được nuông chiều một cách kỳ lạ ấy bắt đầu một cuộc trả thù. Không phải những kẻ đã vãi những tràng đạn đại liên trên lưng anh em đồng đội, mà là kẻ phản bội đã bán đứng cả trăm con người cho địch.

Kẻ ấy là ai? Là người đàn ông trung niên tên Quyết, người đã bằng đầu óc kỹ sư của mình vẽ ra cái địa đạo tuyệt mật ấy, người đã khước từ cái phần thưởng xứng đáng là được đào thoát, người cao thượng hão, người để lộ cái bản chất tiểu tư sản kiêu bạt khi tuyên bố chỉ ra đi cuối cùng với địa đạo sau cùng. Và nếu có chết thì cũng chết như một thuyền trưởng dày dạn chết theo con tàu của mình sau khi thuỷ thủ đã xuống hết thuyền cứu hộ. Chính cái lãng mạn bi tráng ấy đã bị những người tù còn lại kết án là phản bội, vì sau đó ông ta đã được đưa vào trại giam khác để rồi lặng lẽ biến mất.

Người thanh niên suốt ba năm đi tìm ông ta với một quyết tâm không gì lay chuyển: phải giết ông ta bằng được để giải oan cho những linh hồn của những người đã chết. Đã tìm là phải gặp. Người thanh niên đã gặp ông ta nằm ngủ trước cổng tam quan một ngôi chùa nhỏ cô tịch. Máu kêu trả máu, đầu kêu trả đầu. Anh ta đã giết được người kỹ sư sau khi đã trưng ra những bằng chứng không thể chối cãi của sự bội phản.

Kẻ phản bội đã phải đền tội nhưng câu chuyện chưa phải đã hết. Vì như thế thì có khác gì những cuộc trả thù nhàm chán trong những phim kiếm hiệp. Cái đáng xem của vở kịch này là mặt trái của câu chuyện, là thấy vậy mà không phải vậy. Cũng như Trung kẻ phá cầu, thực ra là kẻ, bằng cái chết của mình, đã bắc một cây cầu mới nối những tâm hồn đồng điệu.

Ở đây, kịch là một bí mật được gói kín bỡi nhiều dữ kiện. Người xem giống như những nhân vật trong Quán củ hành trong Chiếc trông thiết của G. Grass. Mỗi người được phát cho một củ hành, một con dao. Cứ thế mà bóc vỏ, mà băm vằm cho đến khi nước mắt nước mũi lòng thòng, nổi khùng lên ôm nhau hôn, ôm nhau khóc.

Trong kịch Lữ Kiều, cái lớp vỏ lụa vàng óng bên ngoài là cuộc đối thoại ngắn giữa một chú tiểu vừa mới nhập môn, hãy còn những nét trẻ con ngây ngô của thế tục với một người đàn ông trần tục lại nói ra toàn những lời của nhà Phật. Cái vỏ ấy kêu lạo rạo đôi chút, chẳng có gì là mùi vị hăng nồng đặc trưng của củ hành.

Lớp vỏ thứ hai là cuộc gặp giữa người đàn ông và người thanh niên. Người đàn ông chưa nhận ra người thanh niên, nhưng người thanh niên thì biết ông ta quá rõ. Ông ta tên Quyết, người mà anh ta kiếm tìm để kết thúc cho một mối hận thù. Khi nghe nói đến hận thù ông ta liền nhận ra anh ta đã từng là người tù như ông, những người cùng chí hướng cùng lý tưởng ở trại tù A trên đảo Phú Quốc. Lẽ ra họ đã ôm chầm lấy nhau mừng mừng tủi tủi, nhưng giữa họ đã có một con dao dấu sẵn trong áo của người thanh niên. Đến đây người xem đã chắc một điều rằng, đây chính là củ hành chứ không phải củ khoai tây.

Nhưng vẫn chưa thấy mùi hăng. Phải đến lớp vỏ thứ ba mới thấy. Đó là một lớp vỏ đã ngã màu hư thối, dậy lên một mùi khó chịu, vừa cay vừa chua, mùi của một lớp tuồng đã cũ. Sân khấu chuyển cảnh bằng cách sử dụng nhuần nhuyễn ánh sáng và bóng tối, đưa ta trở lại ba năm trước. Cảnh hàng trăm tù binh tuyệt thực và biểu tình ngồi để đòi trả xác những người bị bắn chết. Người chỉ huy, tên Năm, đưa ra những yêu sách rất cương quyết nhưng cũng rất ôn hoà. Một người cho dù là đã bị tước khí giới, bị nhất thời làm người thua cuộc, vẫn bằng lời nói đĩnh đạc chứng tỏ mình xứng đáng là người chỉ huy, thay mặt cả 500 con người, hiên ngang đứng thẳng, mặt đối mặt với kẻ địch.

Trước một cuộc đấu tranh bất bạo động và được điều khiển bỡi một người có tư cách, ban giám thị cũng đã tỏ ra là những quân nhân có giáo dục. Họ đã trả lời một cách hoà nhã tuy không kém phần cương quyết. Ở nơi tưởng chừng chỉ có gậy sắt bọc cao su, chó berger, những khuôn mặt lầm lì, không ngờ lại được nghe những lời đối đáp khôn ngoan kín kẽ như những nhà ngoại giao trong các cuộc đàm phán lâu dài mỏi mệt. Ta bất ngờ cảm được cái vị ngọt ít ỏi trong cái cay nồng của củ hành.

Lớp vỏ tiếp theo đã bắt đầu làm ta cay mắt. Những người tù đang âm thầm tổ chức cuộc vượt thoát. Cái cảnh sử dụng quyền không muốn ăn của bọn họ chỉ là bức màn làm bằng 500 con người ngồi để che dấu những lớp đất đựng trong thùng phân được chuyển lên từ hố sâu. Một địa đạo dài gần 100 mét sắp hoàn thành. Nhưng nếu mở miệng hầm thì tất cả sẽ phải đi qua một bãi mìn, tức là tự sát.

Một cuộc tranh luận gay gắt giữa anh Năm và người thanh niên, trưởng toán đào hầm. Người thanh niên sôi nổi muốn vượt thoát bằng bất cứ giá nào. Nếu phải hy sinh 50 cũng đã là một chiến thắng. Nhưng anh Năm thì không, một người cũng không. Dù có phải lấp lại hầm để bảo toàn bí mật, lấp vùi luôn bao nhiêu công sức của cả trại A, ông vẫn cứ làm. Sau cùng, theo lời người đàn ông tên Quyết, nếu kéo dài thêm 6 tiếng thì mọi việc sẽ hoàn thành trọn vẹn. Người chỉ huy đã chứng tỏ tài lãnh đạo của mình khi thuyết phục được ban chỉ huy trại tù cho kéo dài thêm 6 giờ để ngồi mặc niệm những người bạn đã hy sinh. Hãy nghe ông nói, chúng tôi xin ngồi đến giờ giới nghiêm của trại. Bỡi vì đêm nay là đêm rằm, đêm rằm tháng bảy, ngày xá tội vong nhân…Chúng tôi sẽ im lặng mặc niệm cho tất cả anh em, bạn cũng như thù đã chết…Một lời thỉnh nguyện có tình như thế làm sao ban chỉ huy từ chối được. Họ đồng ý và địa đạo được đào xong.

Vấn đề đặt ra cấp bách ở đây là ai đi ai ở lại. Anh Năm thưởng công cho người kỹ sư bằng cách bảo đêm nay anh hãy trốn đi. Nhưng người kỹ sư bảo anh Năm phải đi để lãnh đạo những người vượt thoát trốn lên phía bắc. Phần ông, cho dù bị kết tội là anh hùng cá nhân ông vẫn muốn ở lại để đào thêm những địa đạo mới mặc dù biết rằng ở lại là phải chịu đựng những cây gậy sắt bịt cao su quất vào đầu vào lưng.

Lớp vỏ tiếp theo, qua lời kể của người thanh niên trưởng toán đào hầm, tất cả đã bị ba khẩu đại liên dấu trong rừng lau quét sạch trừ anh ta.

Chưa hết bàng hoàng bỡi cái chết của 99 con người đói khát, ta lại đối mặt trước một toà án kỳ dị với một bồi thẩm đoàn 8 người trong đó có người kỹ sư, vừa ở tư thế quan toà vừa ở vai bị cáo. Mỗi đêm, cứ một ai đó khả nghi là kẻ phản bội liền bị đưa ra trước hội đồng. Chỉ cần 5 cánh tay của 5 người trong bọn là kẻ đó liền bị hành quyết ngay giữa hội đồng bằng cách đâm một vật nhọn vào giữa ngục. Cứ thế, mỗi đêm một người mới trước đây là đồng chí phút chôc đã trở thành kẻ phản bội. Mỗi đêm một người chết và sáng ra tất cả tù còn lại phải chịu tra khảo để tìm cho ra ai là kẻ chỉ huy của cuộc thanh trừng.

Cái cảnh những người tù xử với nhau thật kinh hoàng. Còn hơn cửa ngục thứ mười vì ở đó là những con quỷ bảy màu với cái chỉa ba, chứ không phải những người anh em đã cùng sống chết có nhau. Mà bằng chứng tội phạm của những kẻ bội phản là gì? Chỉ là nửa mẫu thuốc lá thừa, một chút cặn trong lon đồ hộp, hay vô ý đánh rơi một miếng giẻ rách dùng làm khăn…Bằng chứng còn là được thân nhân ở bên ngoài tiếp tế mà lại lén lút để ăn riêng…Nếu không có một người trước cái án oan của mình hốt hoảng đặt ra một nghi vấn, anh Quyết ấy sao không đi? Sao không nghi ngờ anh ấy mà lại nghi ngờ em chỉ vì em thèm thuốc quá! Thì mỗi đêm một người cứ phải chết cho dù có phải lần lượt chết đến người thứ gần bốn trăm!

Mọi nghi ngờ dấu kín được trút hết vào người kỹ sư. Ông ta bị đóng đinh câu rút giữa những người anh em mà ông đã yêu từ lúc còn trẻ tuổi. So với người thanh niên, ông là thế hệ đi trước. Ông có bằng kỹ sư. Ông yêu cuộc cách mạng này, ông nguyện hiến cả đời mình cho sự nghiệp ấy. Thế nhưng ông bị buộc tội tổ chức đào cả một đường hầm để đưa cả trăm chiến sĩ vào giữa những họng súng của kẻ địch. Ông bị tội chết là phải lắm. Người thanh niên có nghĩa vụ to lớn và chính đáng giết ông ta.

Người kỷ sư tuyệt vọng, không phải vì phải chết mà vì niềm tin đã sụp đổ. Khi một người sống mà không niềm tin nào cả thì chết là một giảo thoát. Ông ta chịu để cho người thanh niên đâm dao vào ngực mình. Cái lớp vỏ cuối cùng của củ hành này tuy có cay nồng thật đấy nhưng chưa làm người bóc vỏ nổi cơn điên gào thét. Phải đến khi người thanh niên chùi máu dính trên con dao vào tay áo mình, cười lớn trước sự ngây thơ ngờ nghệch của người kỹ sư và nói những lời làm cho tóc ta dựng ngược, tôi biết anh vô tội nhưng tôi phải giết anh…tôi là kẻ duy nhất biết ba khẩu đại liên đang chờ những người tù…tôi là kẻ lên sau cùng khi 99 người đã bị giết. Thì lúc ấy khi những lời nói của hắn ta trào ra khỏi miệng như những con rắn độc, ta sững sờ nín lặng, rồi hai tay bịt lấy tai mình mà hét toáng lên. Sao lại có một sự thực tàn nhẫn và lạ lùng đến như vậy. Một sự thực cay xè còn hơn là một củ hành thúi.

Sau cơn cuồng điên vì không thể tin được lại có một kẻ bội phản yêu quái ranh ma như thế, ta rơi xuống vực sâu của sự im lặng. Sự im lặng của thao thức. Sự im lặng của tuyệt vọng. Trong mơ hồ ta thấy những khuôn mặt dị kỳ với những con mắt không phải chỉ có những con sâu mà còn có cả cọp beo rắn rít, những con mắt của bạch cốt tinh chỉ nhìn vào ai là kẻ đó lạnh toát biến thành xác chết.

Ta giật mình nhớ lại những lời nói, tiếng cười của tay thanh niên, trưởng toán đào hầm. Hắn sôi nổi nhiệt tình bao nhiêu càng đáng sợ bấy nhiêu. Hắn sẵn sàng hy sinh cả 50 và như ta thấy đó. Cả 100 nếu tính luôn cái chết sau cùng của người kỹ sư để tạo nên cho mình cuộc vượt thoát hào hùng. Khi người kỹ sư mà hắn xem như cái đuôi quá dài của bọn tiểu tư sản bị giết thì trên đời này còn ai biết được sự thật của hắn. Sự sống sót của hắn đã là một trang anh hùng trong lý lịch của hắn. Giờ lại thêm cái chiến công giết kẻ “phản bội” để trả thù cho anh em, thực ra là để bịt miệng, hắn trở thành kẻ đi đầu trong đoàn quân chiến thắng. Thử tưởng tượng từ đó đến nay, nếu chưa chết, hắn đã leo lên bao nhiêu bậc? Hắn đã giết thêm hại thêm bao nhiêu người vô tội để xây đắp tượng đài cho mình?

Mà đâu phải chỉ có một trại tù như thế ở Phú Quốc mới có những kẻ như hắn. Còn bao nhiêu trại tù trên đất nước chúng ta!

Thôi mệt quá, không hơi sức đâu mà nghĩ tới hắn nữa. Nói một đôi điều ngoài lề với tác giả.

Là như thế này, sao lại để cho hắn nói quá nhiều. Chỉ một vài tiếng là đủ. Chỉ cần “mô Phật” khi chùi xong lưỡi dao vào áo là đã quá cay chua rồi. Cần gì phải để hắn hỏi chú tiểu bé con có thấy trong mắt hắn có con sâu hay không. Ngoài tiếng con người mà hắn không xứng đáng được gọi thì con gì chẳng được, cứ phải là con sâu. Những cảnh không lời của cái hội đồng kỷ luật 8 người đó với một ngọn đèn con khi sáng khi tắt (như lương tâm) và những người bị giết lặng lẽ là tuyệt đỉnh của vở kịch này. Những cảnh đó nói lên biết bao điều tối ám trong lòng hắn. Nếu vở kịch này diễn ra trước cổng tam quan mà không có chú tiểu ở đầu và cuối mà thay vào đó là những tiếng chuông chùa vọng ra từ hậu trường thì đúng là cả một sự im lặng kinh hoàng như cả trái đất này đã biến thành một lỗ đen.

Kết

Kịch của Lữ Kiều là những dấu hỏi lớn, những phân định một cách công bằng về công và tội, về Thiện và Ác, về ánh sáng và bóng tối. Không một sân khấu nào giữa thời buổi này dám dựng. Hãy dựng nên trong đầu ta, mệt thật đấy, đau thật đấy, nhưng chỉ một mình ta cùng sông và cùng chết với kịch, nói như Thánh Thán, không sướng sao?

20/5/09

 

 

Phụ Lục :

Lữ Kiều

Kẻ Phá Cầu

KỊCH MỘT MÀN MỘT CẢNH

 

Các Nhân Vật:

VĂN : Người chồng

KIM : Người vợ

MIÊN : Em người vợ, thương binh mù

TRUNG : Tổ trưởng đặc công

NGƯỜI CHỈ HUY: Đặc công

ÚT : Du kích

DU KÍCH QUÂN : (3-5 người)

BÀ MẸ : Câm, bất thường

 

CẢNH

Bên trong một căn nhà dưới mức trung lưu, trong thời chiến. Cái hầm nổi xây bằng bao cát và gỗ ván chiếm phần bên mặt. Trên cái hầm là khuôn cửa sổ lớn, khép lại, chỉ mở ra để hé thấy hình ảnh chiếc cầu phía sau. Một cánh cửa ở bên trái là cửa chính. Cánh cửa nhỏ hơn, bên cánh gà sân khấu, để ăn thông với nhà sau.

Sự bày biện sơ sài. nghèo nàn.

Kịch xảy ra vào cuối năm 1968.

 

MÀN ĐỘC NHẤT

Mọi người trong gia đình vừa xong buốt cơm tối. Ngọn đèn dầu leo lét trên bàn. Người Mẹ ngồi khuất trong một xó, nhìn về phía khán giả. Văn đọc báo. Kim dọn dẹp. Miên ngồi tựa lưng vào những bao cát, mãi đeo kính đen, hút thuốc. Tiếng chó sủa xa xa.

 

 

VĂN

Em đóng cửa chưa?

KIM

Rồi, anh ạ.

VĂN

Miên, vào hầm trước đi. Vào với mẹ.

MIÊN

Tôi ngồi một lát cho thoáng.

KIM: (Đến bên Miên, dịu dàng)

Hình như mấy hôm nay Miên không được khỏe.

MIÊN

Không sao đâu chị.

KIM: (Ngồi xuống cạnh Miên, mệt mỏi)

Đêm nào cũng phải chui vào hầm. Thật khó chịu. Mẹ và anh Văn hay lo nên tôi đành chìu lòng. Chứ tình thật tôi chỉ thích ngủ thoải mái. Ở ngoài hiên kia!

MIÊN:

(Gượng cười)

Tôi cũng thích như vậy (một lát) Dù sao, chị cũng cần nhiều cố gắng và can đảm nhất trong nhà.

VĂN

Em đã cài then hết cửa rồi chứ?

KIM

Hết cả rồi, thưa anh.

VĂN

Dạo này, em cũng gầy đi nhiều đó.

KIM: (Gượng cười)

Có gì đâu anh. Em vẫn mạnh khỏe! (nói với Miên) Phải không Miên?

MIÊN

Tôi chẳng thấy gì.

KIM: (Chạnh lòng)

Chị quên… (nắm tay Miên bối rối trong lúc Miên cười lặng lẽ)

 

VĂN

Kim, em đưa mẹ vào hầm trước đi. Anh chưa muốn ngủ.

KIM

Em cũng muốn ngồi một lát nữa.

Tiếng phản lực. Tiếng bom dội về. Người Mẹ nãy giờ ngồi ngó ra khán giả, bỗng đứng dậy. Bà cử động như cái bóng lẩn lút, âm thầm. Bà vào trong hầm.

MIÊN

Hồi nãy, tôi nghe chị hát. Chị hát bài gì vậy, chị Kim?

KIM

Bài ca Hòa Bình. (Ngượng nghịu, một lát) Miên còn thích bài Chiều Vàng chứ?

MIÊN (gượng cười)

Còn, chị ạ. Chị nhắc làm tôi nhớ Trung. Chúng tôi đã sống với nhau những ngày ruột thịt. Cả hai đều hát bài Chiều Vàng ầm ỉ và hăng hái, để cùng tương tư một cô gái không có gì đặc sắc hơn các cô gái khác.

KIM

Ừ nhỉ. Vậy mà Trung bỏ đi. Lên núi.

MIÊN

Đáng buồn. Cả tôi lẫn Trung đều sống quá vội. (Một lát) Chị Kim ạ, bây giờ, trước mắt tôi thỉnh thoảng cũng hiện ra những chiều vàng rực rỡ trên thảm mạ xanh rợn người. Bác sĩ bảo giây thần kinh thị giác của tôi chưa chết hẳn.

 

Văn bị câu chuyện giữa hai chị em làm chú ý. Chàng cảm động nhưng chẳng thể biểu lộ. Sân khấu tối dần lại chỉ chừa hình ảnh Văn loay hoay bứt rứt giữa ghế ngồi, tờ báo; hình ảnh gây ấn tượng một người bị trói buộc bởi nhiều sợi dây căng ra từ những tĩnh vật và tiếng động chung quanh – tiếng phản lực, tiếng chó sủa, tiếng mèo, tiếng đại bác. Trong lúc ấy, câu chuyện giữa hai chị em vẫn trầm trầm, đều đặn.

KIM

Miên ạ, một mai, khi hòa bình, đời sống sẽ khác.

Chúng ta sẽ gặp lại những người thân, sẽ trở về làng cũ, chị sẽ đưa Miên đi.

MIÊN (cười)

Chị vẫn bền lòng hy vọng ư ? Dù sao, chúng ta cũng không được già cỗi để chờ ngày hòa bình trở lại.

KIM

Miên làm chị cảm động. Chị hát Chiều Vàng cho Miên nghe nhé. (Khẽ hát)

MIÊN

(Làm bộ vô tình không nghe, ngắt ngang.)

Anh Văn, hôm nay có tin gì về hòa đàm Ba Lê?

VĂN

Vẫn luận điệu cũ. Chưa tiến triển. Người ta đề nghị rút quân về cả hai phía…

Không khí trong nhà rời rã. Mỗi người như theo dõi tư tưởng của chính mình. Có tiếng còi tàu thật xa. thật rền.

KIM

Chín giờ rồi.

MIÊN

Vẫn tiếng còi tàu ấy.

KIM

Nghe thật buồn, phải không?

MIÊN

Buồn lắm!

Im lặng, một lát. Rồi tiếng chó sủa ở xa gần lại. Tiếng mèo. Tiếng chó rộn rã hơn. Tiếng chân người rào rào. dừng lại. Văn thất sắc đứng dậy.

VĂN (nói nhỏ)

Có người đến. Tất cả mọi người vào hầm. Để mặc tôi.

KIM

Không được. Anh hãy tránh đi. Giờ này đã giới nghiêm rồi. Có lẽ soát gia đình. Để em liệu.

MIÊN

Anh Văn hãy tránh đi một lát. Để tôi và chị Kim.

VĂN (lo sợ)

Họ đông người. Có lẽ họ vào đây. Kim hãy vào hầm với mẹ. Anh và Miền ở đây.

Những tiếng động chợt im. Một lát. Rồi có tiếng gõ cửa.

MIÊN

Hãy nghe lời tôi. Anh Văn tránh vào nhà sau đi. Lát nữa anh ra vẫn chưa muộn. Anh nên nhớ là nhà này ở vùng xôi đậu giữa hai chính quyền.

KIM (năn nỉ)

Anh Văn, hãy nghe em, hãy vào nhà sau tránh đi. Sau tủ áo. Nghe anh. (nắm lấy áo Văn đẩy đi) Cố gắng lên anh. Nghe em.

Văn khuất vào nhà sau. Tiếng gõ cửa rụt rè. Rồi dồn dập. Rồi tiếng một người.

NGƯỜI LẠ

Có ai ở nhà, xin mở cửa.

KIM: (lớn tiếng)

Ai đó?

NGƯỜI LẠ

Xin mở cửa.

KIM

Xin cho biết các ông là ai? Chúng tôi ở đây chỉ có đàn bà.

NGƯỜI LẠ: (Vẫn nhỏ tiếng)

Xin mở cửa. Chúng tôi đây.

Kim tần ngần một lát rồi mở cửa. Những người lạ ùa vào nhà rất nhanh, súng cầm tay. Họ bao vây cái hầm, chắn trước những cánh cửa. Một người mở hé cánh cửa sổ cho nhìn thấy hình ảnh cây cầu phía sau rồi khép lại.

NGƯỜI CHỈ HUY

Xin mọi người đứng yên, (lớn giọng) yêu cầu những người trong hầm hãy ra ngay.

MỘT DU KÍCH

Theo báo cáo nhà có bốn người.

KIM

Thưa ông, chỉ còn má tôi trong hầm. Má tôi lãng tai.

NGƯỜI CHỈ HUY

Tôi hiểu. (Nói với những người du kích quân) Các đồng chí hãy bố trí canh gác vị trí này. Đầy là hậu cứ cho mục tiêu hoạt động đêm này.

NGƯỜI DU KÍCH

Rõ.

NGƯỜI CHỈ HUY

Đồng chí Út!

ÚT

Có mặt.

NGƯỜI CHỈ HUY

Báo cáo với tổ trưởng giai đoạn một đã hoàn tất.

MỘT DU KÍCH

(ngập ngừng)

Còn những người trong hầm?

NGƯỜI CHỈ HUY

Đây là những người quen. Tôi biết. (nói với những người du kích) Các đồng chí hãy y lệnh. Bây giờ, tôi ở đây một mình. Các đồng chí nhớ mật hiệu vào nhà chứ.

NGƯỜI DU KÍCH

Dạ nhớ, thưa đồng chí (rút lui dần).

NGƯỜI CHỈ HUY (cứng rắn)

Thưa bà tôi cho bà một phút để gọi người trong hầm ra. Còn ông kia (gọi Miên) ông hãy ngồi đó, yên lặng. Tôi biết ông mù.

KIM (lo âu gọi lớn)

Má, Má.(Người chỉ huy tiến thêm một bước, chĩa súng vào hầm. Kim gọi thêm) Má! Má!. (Trong lúc này bà mẹ từ từ ra khỏi hầm, nhìn người lạ, không nói năng).

KIM (nhìn mẹ rồi ngập ngừng)

Má ra ngoài này cho người ta xét nhà.

NGƯỜI CHỈ HUY

Còn một người nữa!

KIM

Chồng tôi vắng nhà!

NGƯỜI CHỈ HUY (nạt)

Hừ, vắng nhà, bà nói dối! (một lát, dịu dàng hơn) Thôi được. Trong trường hợp này, tôi được lệnh xử sự đặc biệt (mỉa mai) Dù sao, dù chồng bà có lánh mặt thì cũng chẳng thể làm gì hơn. Bà biết chứ, bà biết chúng tôi là ai. Chúng tôi đã bố trí quanh nhà này, để không ai vào ra được (dịu dàng) Nhưng xin bà đừng sợ, chúng tôi chỉ mượn tạm căn nhà này trong một thời gian ngắn.

Đến ngồi giữa ghế, nhìn mọi người lơ đãng.

KIM

Các ông định làm gì?

NGƯỜI CHỈ HUY

Một công tác mà bà có biết cũng chẳng ích lợi. Nhưng chúng tôi hứa sẽ không làm hại gia đình bà.

Sân khấu tối đần. Kim đứng gần lại Miên đang gục mặt. Người mẹ tiến về xó tối, ngồi xuống, bó gối nhìn khán giả.

KIM (Giọng mất bình tĩnh)

Chúng tôi chỉ có bà mẹ già. Và một người tàn tật.

NGƯỜI CHỈ HUY

Tôi đã hứa không làm hại gia đình bà. Chúng ta là người quen cũ.

KIM

Người quen?

NGƯỜI CHỈ HUY

Vâng. Người quen. Bà không nhận ra tôi đâu, bà Văn ạ. Nhưng tôi thì không thể quên bà. (cười khan) Không hề quên bà.

KIM (Lúng túng)

Xin ông cho biết tên.

NGƯỜI CHỈ HUY

Sá gì một cái tên, thưa bà. Chúng tôi đến, rồi đi. (một lát) Nhưng chốc nữa đây sẽ có một người đến, và bà sẽ nhận ra.

Nhìn về Miên. Ánh sáng hướng về Miên: Miên đang nhíu mặt, đau đớn, bất lực, nghe ngóng. Lúc bấy giờ, tiếng chó sủa. Tiếng chân người. Người chỉ huy đứng bật dậy, rút súng ngắn, lên đạn, đứng nép một bên cửa chính.

NGƯỜI CHỈ HUY

Không ai được lên tiếng!

Tiếng chân dừng lại. Tiếng chó sủa. Rồi tiếng gõ cửa. Hai tiếng ngắn, ngừng lại, ba tiếng rời. Cánh cửa từ từ mở. Một bóng người len vào. Người chỉ huy hạ súng xuống.

TRUNG (khuất vào bóng tối)

Chào đồng chí.

NGƯỜI CHỈ HUY

Chào đồng chí.

Trung di động trong phần tối của sân khấu. Chỉ thấy cái bóng sinh hoạt

TRUNG

Giai đoạn đầu đã hoàn tất?

NGƯỜI CHỈ HUY

Vâng.

TRUNG

Còn những người trong nhà?

NGƯỜI CHỈ HUY

Ông Văn lánh mặt.

TRUNG

Thôi, được rồi. (Trung đến cánh cửa sổ, mở rộng ra, y đứng quay lưng về phía khán giả, bóng người nổi bật trong đêm) Đồng chí còn thắc mắc gì về công tác đêm nay?

NGƯỜI CHỈ HUY

Xin trình bày lại kế hoạch. (Nhìn những người trong nhà, ngập ngừng)

TRUNG: (trầm ngâm)

Đồng chí cứ nói. Những người này không làm hại chúng ta.

NGƯỜI CHỈ HUY

Vâng, mục tiêu đã được nghiên cứu kỹ. Đồng chí Tư và Hào mở đường. Đồng chí Vui giữ đường liên lạc. Tôi và đồng chí là những kẻ mang chất nổ và thực hiện công tác. Căn nhà này là hậu cứ của chúng ta. Đồng chí Út sẽ ở lại đây.

TRUNG

Vâng.

NGƯỜI CHỈ HUY

Vậy, tôi xin rút lui.

TRUNG

Lệnh cuối: Chúng ta không nổ súng. Hẹn đồng chí giờ N.

NGƯỜI CHỈ HUY (ngập ngừng)

Còn điều này, những kẻ ở trong nhà…

TRUNG

Tôi sẽ liệu.

NGƯỜI CHỈ HUY

Còn người đang trốn?

TRUNG (lạnh lùng)

Được rồi. Chúng ta đã hoàn tất giai đoạn một êm đẹp.

NGƯỜI CHỈ HUY

Chào đồng chí (rút lui)

Trung giơ tay phát một cử chỉ mệt mỏi. Ánh sáng chiếu lên cái lưng của Trung đang đứng yên lặng nhìn cây cầu.

Trong lúc đó, Miên, trong một dáng điệu cực kỳ đau đớn, sờ soạng đứng dậy.

MIÊN (run giọng)

Trung đó hả?

TRUNG (quay lại từ từ)

Phải, Trung đây!

KIM (thốt kêu lên, đứng bật dậy).

Trời! Trung!

Mọi người im lặng sững sờ một giây.

TRUNG

Vâng. Tôi từ núi về. (Một lát) Tôi mừng thấy Miên còn sống sót.

MIÊN (Tiến tới, đưa tay ra với Trung.)

Trung thật đó hả? (cảm động) Chúng ta đều còn sống…

TRUNG: (Nén xúc động, thẳng thắn.)

Tôi chỉ còn rất ít thời giờ. Chị Kim, chị hãy gọi anh Văn ra đây. Tôi hứa với chị không để ai làm hại anh ấy.

KIM (yếu đi)

Anh ấy không có nhà.

TRUNG

Chị không còn tin tôi nữa. Thôi được. (ngừng một lát) Tôi chỉ muốn thăm anh ấy.

MIÊN

Trung, cậu về đây làm gì?

TRUNG

Miên biết rồi. (ngồi xuống ghế) Miên hãy ngồi. Chị Kim cho tôi ly nước. Chúng ta còn rất ít thời giờ nói chuyện với nhau. (nhìn người mẹ) Thưa bác, bác vẫn mạnh?

Người mẹ nhìn Trung, khoát tay ra dấu từ chối.

KIM

Chị ra sau lấy nước cho Trung.

TRUNG

Hãy nói với anh Văn: đừng trốn khỏi nhà. Chúng tôi chỉ chọn tạm nơi này làm hậu cứ. Mọi người chỉ cần giữ thái độ không nghe, không biết, không thấy.

KIM

Tôi nghe lời Trung (khuất về sau).

MIÊN

Trung! Bây giờ cậu ra sao?

TRUNG (khinh bạc)

Thế đó!

MIÊN

Tôi không còn nhìn thấy cậu.

TRUNG

Chúng ta đều thay đổi.

MIÊN

Hãy lại gần đây (giơ tay quờ quạng trong lúc Trung bước lại gần)

TRUNG

Ở trên núi, tôi nghe tin cậu đã chết.

MIÊN (nắm lấy tay Trung)

Tôi không thể tưởng tượng ra cậu. Có lúc, tôi cũng nghĩ là cậu đã chết.

TRUNG

Chúng ta đều còn sống. Nhưng không thể còn như xưa.

MIÊN

Tôi không tin. Người như cậu không thể gột bỏ quá khứ.

TRUNG

Tôi học được điều này: chúng ta đã có một tuổi trẻ lãng mạn. Quá khứ ấy phải biết quên đi. Tôi nghĩ đến hiện tại. Cái quá khứ khốn nạn đã đày đọa đời sống chúng ta, đã bắt tôi rời gia đình, xa bạn bè. Cái hiện tại đã dạy cho tôi lao tù tủi nhục, đã cho tôi hiểu thấm thía một thứ tình cảm mạnh hơn tình yêu.

MIÊN

Là gì?

TRUNG

Hận thù.

MIÊN

Thật thế ư?

TRUNG (hăng hái)

Chính hận thù đã đẩy tôi lên núi.

MIÊN

Đó cũng là sức mạnh xui cậu phá cầu?

Im lặng sững sờ. Một lát.

TRUNG (ngập ngừng)

Miên, cậu không hiểu đâu. (thẳng thắn) Phải, tôi sẽ phá cầu. Tôi về đây để phá cầu.

MIÊN

(Kêu lên, lùi xa.)

Trung, cậu không được làm vậy.

TRUNG

Quyết định không phải của tôi. Tôi không đi ngược lại với nghị quyết. Tôi chấp nhận. Vì vậy, tôi tình nguyện về đây, phá cầu.

(Im lặng, nặng nề.)

MIÊN (Cố nén xúc cảm)

Trung, tôi đồng ý chúng ta đã đứng ở hai phía. Nhưng chiếc cầu trung lập. Nó không phải là mục tiêu quân sự của bên này, hay bên kia.

TRUNG

Trong cuộc chiến này, không có nơi nào trung lập. Bên này. Hay bên kia.

MIÊN

Không, chiếc cầu không phải của bên nào cả. Nó là của thành phố chúng ta. Nó là của lịch sử. Chiếc cầu đã có từ khi chúng ta chưa sinh ra. Nó có lịch sử của nó, gắn liền với lịch sử đất nước. Phá cầu là một hành động phá hoại thuần túy.

TRUNG

Phá hoại nào cũng thuần túy cả. Miên ạ, tôi cũng yêu quý cây cầu (mơ màng) Đâu phải dễ dàng quên hết những liên hệ giữa mình và cây cầu kia. Nhưng nó phải bị hủy diệt.

MIÊN

Sự phá hoại kia mang ý nghĩa gì?

TRUNG

Tôi không muốn cắt nghĩa. Nhưng cậu thử nghiệm xem. Giờ là chiến tranh. Sáng mai, thức dậy, cả thành phố này kinh hoàng: chiếc cầu đã gãy. Chiếc cầu huyết mạch của đô thị đã bị phá bởi những người trên núi trở về. Chỉ sự kiện ấy thôi, đủ mang cái ý nghĩa có mặt của chúng tôi.

MIÊN (hằn học)

Sự có mặt của phá hoại.

TRUNG

(chán nản)

Cậu không thể nào hiểu nổi. Con đường tôi Đi dạy cho tôi nhiều điều, trong đó, có sự mù quáng của tình cảm. Phải biết hy sinh tình cảm. Cây cầu có sá gì, so với những bất công, đau khổ, chết chóc kia? Tại sao cậu mù lòa? Sao tôi lên núi? Tại sao hàng vạn thanh niên như cậu như tôi không được sống bình an?

MIÊN

Cậu muốn thuyết phục tôi đó ư?

TRUNG

Tôi không còn thì giờ. Dù sao, chúng ta cũng đã chọn lựa.

MIÊN

Cậu sẽ không hối hận? Sáng mai, khi cầu gãy, những người dân mà cậu muốn giải phóng sẽ oán trách các cậu.

TRUNG

Những người nặng tình với chiếc cầu chỉ là thiểu số. Trong đó có cậu và tôi. Còn bao nhiêu người trên đất nước này chẳng biết chiếc cầu kia ra làm sao. Nhưng sáng mai, hàng triệu người ở đây, ở khắp nước, ở khắp thế giới sẽ biết đến chiếc cầu, chiếc cầu gãy, chiếc cầu bị phá bởi chúng tôi.

MIÊN

Cậu tin ở áp lực phá hoại?

TRUNG

Đó là chiến tranh.

MIÊN

Phá hoại là sức mạnh của kẻ yếu.

TRUNG (riễu cợt)

Cậu lý luận như tên tiểu tư sản lãng mạn.

MIÊN

(bất mãn)

Cậu đã lột xác đến thế ư?

TRUNG

Cậu phải hiểu rằng suy nghĩ bằng hận thù khác hơn suy nghĩ bằng tình ái (cười khan) Nhưng, dù sao tôi cũng chưa thể quên hết. (buồn bã) Tôi không thể bất hòa với đời mình. (thân ái) Miên, cậu không thay đổi. Ở xa, nghĩ tới cậu tôi không tưởng tượng ra được một hình ảnh về cậu mà khác đi. Nhưng còn tôi…

MIÊN (cảm động)

Chúng ta đã khác.

Im lặng bịn rịn. Hai người bạn đứng gần nhau. Miên sờ lên người Trung, rồi dứt khoát.

Trung, tôi phản đối cậu phá cầu. Ngày mai, khi nghe

tin cầu gãy, nếu tôi còn sống, tôi xem như cậu đã chết.

TRUNG

(Bình tĩnh)

Miên ạ, (ngập ngừng) Miên hãy nhớ điều này: Chiếc cầu kia còn thân yêu với tôi hơn với cầu. (dịu giọng) Nhà tôi ở đầu cầu tôi đã lớn lên bên bến sông ấy, xuống tắm dưới chân cầu kia. Nhưng tôi tình nguyện phá. Vì không thể làm khác.

(Rời Miên, đứng quay lưng, nhìn về phía cầu, ngậm ngùi)

Tôi phải đi. Chúng ta là những kẻ bất hạnh. Cậu đã mù nên chẳng trông thấy hòa bình. Còn tôi thì không sống đến ngày ấy.

MIÊN

Trung, tại sao?

TRUNG (xúc động)

Phá cầu, tôi đau đớn lắm. Tôi vẫn là bạn cậu, Miên hãy nhớ thế. (Khinh bạc) Dù là hận thù, dù là tình ái, thì cũng chỉ là tình cảm.

Trung gục mặt trên những song cửa sổ. Miên mò mẫm đứng gần bạn. Hai người quay lưng lại phía khán giả, ánh sáng trên hai phần lưng và chiếc cầu rực rỡ đằng xa. Im lặng, Kim bước vào, mang theo ly nước..

KIM (nhìn hai người một lát)

Trung uống nước.

TRUNG

(Quay lại, gượng cười, vỗ vai Miên, lấy lại bình tĩnh) Cám ơn chị (Cầm ly nước uống một hơi) Chị Kim!

KIM (sợ sệt)

Dạ.

TRUNG

Tôi mừng còn gặp lại chị. Tôi không còn người thân nào. Tôi mãn nguyện lắm, (cứng rắn) chị hãy nhớ đây: giữ thái độ không nghe, không biết, không thấy!

KIM

Tôi nghe lời Trung.

(Tiếng chó sủa rõ dần. Tiếng gõ cửa theo mật hiệu.)

TRUNG

Cứ vào.

NGƯỜI CHỈ HUY

(bước vào)

Đồng chí, đã đến giờ (quay lui) Đồng chí Út!

ÚT

Dạ.

NGƯỜI CHỈ HUY

Đồng chí ở lại đây, canh giữ những người trong nhà, cho đến khi có lệnh.

ÚT

Rõ. Tuân lệnh!

TRUNG

Chúng ta đi.

Trung khép cánh cửa sổ lại, bước đi, lạnh lùng, dứt khoát, không nhìn Miên và Kim. Bổng Trung dừng lại, tiến đến trước mặt người mẹ, đưa tay ra, nhưng bà mẹ lùi lại, ra dấu từ chối.

KIM (gọi)

Trung!

NGƯỜI CHỈ HUY

(bước sau Trung)

Bà Kim, xin bà ngồi yên. Mọi người tạm dưới sự canh gác của người này (chỉ tên Út)

Trung khuất sau cửa. Người cjỉ huy trước khi khép cửa, còn nhìn lui.

KIM (gọi theo)

Trung!

NGƯỜI CHỈ HUY (bình thản, buồn bã)

Bà Kim. Bà vẫn không nhận ra tôi. Xin từ biệt Bà.

Miên đến sau lưng chị, nét mặt đau khổ. Mọi người yên lặng. Út nãy giờ đứng bất động đang dời bước nhìn khắp mọi người. Người mẹ lại tìm xó tối, ngồi xuống, bó gối, nhìn ra khán giả.

ÚT (súng nơi tay, đi lại bứt rứt)

Các người hãy ngồi!

Miên và Kim ngồi xuống hai chiếc ghế đặt gần cửa sổ. Cả hai như chưa thoát ra khỏi những xúc động dồn dập vừa xảy đến. Những tiếng động ở xa vọng về. Không khí trống trải.

ÚT

Này, anh kia?

MIÊN

Ông gọi tôi?

ÚT

Anh tên gì?

MIÊN

Miên.

ÚT

Còn bà kia.

KIM

Tôi tên Kim

ÚT (hằn học)

Hai người ngồi xa nhau ra.

Kim đỡ Miên đến ngồi xuống trước hầm, gần bà mẹ, rồi trở về chỗ cũ. Mọi người im lặng. Một lát.

ÚT (đi lại, khó chịu)

Hừ, rồi các người cũng không tránh được ngày đền tội trước nhân dân!

KIM

Ô hay! Chúng tôi có làm gì?

MIÊN

Chị Kim, xin chị đừng cãi lời ông ta.

ÚT

(Giận dữ, bước tới trước mặt Miên, thẳng tay tát vào má Miên.) Khốn nạn. Bộ tao không đáng nói chuyện với con đàn bà kia hả. Hừ, nếu mày không mù lòa thì tao đã thí cho mày viên đạn.

KIM

(đứng dậy)

Ông không hổ thẹn đánh một người mù?

ÚT

Hắn khiêu khích tôi.

KIM (cố gắng)

Nào chúng tôi có làm gì đâu…

ÚT

Câm miệng. Lải nhải. Khi đứng trên núi cao nhìn xuống thành phố ban đêm, tôi thấy một vùng ánh sáng. Tôi hiểu ra rằng tôi không được sống trong vùng sáng đó vì các người đưa tôi đi. Các người là những đống rác mà chúng tôi phải dọn.

KIM

Ông bất công.

MIÊN

(can ngăn)

Chị Kim. Tôi van chị. Lời nói chẳng đi đến đâu. (nhẫn nhục) Xin ông đừng nóng. Chúng ta là những kẻ thù địch không hiểu nhau được.

KIM

(vẫn bực tức)

Hừ, các ông ghen tỵ. Các ông ganh ghét chúng tôi, các ông ganh ghét luôn với cây cầu. Vì bởi nó còn nguyên lành nên các ông phải phá gãy nó.

ÚT

(đắc chí)

Hà. Hà. Bà rắc rối quá. Về chuyện cây cầu, đó là lệnh. Bà nghe chưa. Là lệnh. (xem đồng hồ) Hà hà, các người ráng chờ. Ráng chờ. Chỉ còn ít phút nữa thôi. Còn ít phút thôi – ừ, đúng vậy – cầu sẽ nổ tung. Hà hà…

KIM

Trời! (bưng mặt khóc)

ÚT

Lại khóc rồi. Sao mà dễ khóc lắm vậy. Nín đi. Bà nghe chưa. Nín!

KIM

Ác độc!

ÚT

Hà! Hà! Giữ nhiệm vụ canh gác các người thật khó chịu. Lải nhải. Khóc lóc. Giữ trâu còn sướng hơn! (một lát) Anh kia!

MIÊN

Ông gọi tôi.

ÚT

Chứ ai nữa. Ở đây chỉ có tôi và anh là đàn ông!

MIÊN

Tôi tên Miên.

ÚT

Biết rồi, các người ưa được gọi tên lắm. Này, sao anh mù vậy?

MIÊN

(bình tĩnh trong lúc Kim uất ức)

Tôi bị thương.

ÚT

À, lính phế thải! Thật ra, cho dù anh có lành lặn, có sáng mắt, thì nhân dân cũng đã phế thải anh rồi. Hiểu chưa?

MIÊN

(bình thản)

Vâng. Tôi hiểu.

Cánh cửa mé bên hé mở. Văn xuất hiện, tay cầm dao, định tiến ra nhưng thụt vào khi thấy Út tiến về phía Kim.

ÚT

Bà kia! Tôi đã nói bà im đi. Sao cứ sụt sùi hoài. Khó chịu lắng (Út lại xem đồng hồ. Tiếng chó sủa) Việc gì mà khóc chứ! Có ai chết đâu!

MIÊN (bình thản)

Có nhiều người chết lắm ông ạ.

ÚT (nhìn quanh)

Đâu ? Đâu ?

MIÊN

Nhìn bằng mắt thì chẳng thấy đâu. Nhưng ông thử nhớ lại xem. Bao nhiêu người bạn của tôi, của ông đã chết!

ÚT

(gật gù)

Ừ. Bao nhiêu người chết. Nhưng ăn chung gì đến bà mà khóc.

Bà mẹ trong xó tối bỗng phát những cử chỉ khích động và òa khóc lớn tiếng – tiếng khóc như của trẻ con.

ÚT: (xao động)

Ô hay! Bà già kia! Các người điên hả, Im! (hét lên) Im!

Sân khấu đột ngột yên lặng. Út cũng sững sờ. Y đi lại, bối rối, mỗi lần y bước gần cánh cửa, Văn lại thụt lùi tránh né. Cuối cùng khi y đến gần, Văn nhảy ra và giơ cao tay đâm vào lưng. Út hét lên. Văn bồi thêm một nhát. Súng nổ. Văn đẩy Út gục xuống.

VĂN (hổn hển)

Kim! Miên! Anh hạ nó rồi. (Nhặt súng cầm tay) Em hãy thoát ra cửa sau, chạy đến vọng gác báo tin. Không thể để họ phá cầu.

KIM

Em sẽ ráng. Anh hãy cẩn thận. (quay lui) Ô kìa, Miên!

MIÊN

(Dựa lưng vào bao cát, tay ôm ngực mặt tái xanh thất sắc nhưng không lộ vẽ đau đớn.)

Tôi bị trúng đạn!

BÀ MẸ

(Đứng bật dậy, kêu lên những tiếng quái dị.)

A! A ! A! A!

(Miên từ từ ngã xuống, kịp lúc Kim và Văn chạy đến đỡ.)

VĂN

Xé áo buộc vết thương cho Miên. (Kim xé ngay áo của mình.)

MIÊN (cố gắng)

Thôi khỏi. Tôi không sống nổi đâu. (Bà Mẹ chạy lại gần, Miên ngã người vào Bà) Con không sống nổi đâu mẹ ạ. (Kim đỡ Miên) Đừng cố gắng làm gì. Rất tiếc. Tôi không còn sống đến ngày hòa bình, chị Kim ạ. (thở dốc)

Tiếng ầm lớn vang dội sân khấu, đẩy cánh cửa sổ mở rộng, cho thấy chiếc cầu đang chìm trong biển lửa từ từ gãy.

KIM

Miên! Miên! (thất thanh) Miên! Tỉnh dậy em. Tỉnh dậy (khóc) Miên!

VĂN

Muộn rồi. (Miên gục đầu qua một bên) Chiếc cầu cũng đã gãy

Kim ôm chầm lấy xác Miên khóc. Bà mẹ qua cơn xúc động ngồi dậy, bắt đầu sờ mó xác Miên – từ hai bàn chân lần mò lên người. Văn đứng sững nhìn chiếc cầu đang cháy. Lúc bấy giờ, những tràng súng lớn, súng nhỏ dội về. Tiếng chó sủa rân. Rồi tiếng trực thăng bay tới. Tiếng trực thăng xạ kích !

VĂN

Hãy tắt đèn. Chúng ta phải trốn.

Tiếng trực thăng bay sát mái nhà. Tiếng oanh kích ầm ầm. Một mảnh trần sập xuống, bụi cát bay tứ tung. Mọi người nằm bẹp xuống!

KIM

Chết rồi, máy bay oanh kích nhà ta. Chạy đâu bây giờ?

VĂN

(Bò đến, kéo bà mẹ và Kim vào hầm.)

Ra ngoài là chết. Vào hầm. Vào hầm đí!

Mọi người chui vào hầm. Đèn phụt tắt. Tiếng xạ kích. Thêm một mảnh trần sụp đổ. Bụi cát. Sân khấu tối đen. Chỉ còn hai cái xác mờ mờ. Tiếng trực thăng bay xa. Bay trở lui, ánh đèn từ trực thăng rọi xuống, qua lỗ thủng trên trần cho thấy hai cái xác. Rồi bay luôn. Lúc bấy giờ tiếng chó sủa vang dội. Một khoảng im lặng. Sân khấu chết. Rồi có tiếng bước chân. Tiếng gõ cửa theo mật hiệu. Văn từ trong hầm bò ra, nhặt lại khẩu súng của Út, đứng nép bên cánh cửa lớn. Tiếng gõ lần thứ hai.

NGƯỜI CHỈ HUY

Còn ai trong nhà không? (Im lặng một lát) Bà Kim. Bà Kim. Bà còn sống không? Tôi bị thương…

Cánh cửa bật mở nhẹ nhàng như thể đã mở từ trước. Người chỉ huy ôm bụng, lảo đảo bước vào.

VĂN (hét lên)

Đứng lại. Giơ tay lên.

NGƯỜI CHỈ HUY

(Cố gắng đưa một tay tên, té tựa vào những bao cát, phều phào.)

Tôi bị thương nặng.

VĂN

(Bước khỏi chỗ núp)

Còn ai rút về nữa không?

NGƯỜI CHỈ HUY (phều phào)

Không. Họ chết rồi. Làm ơn cho tôi nước.

KIM

(Từ trong hầm chui ra đến gần người chỉ huy.)

Ông bị thương ở bụng. Máu ra nhiều. Ông không nên uống nước.

NGƯỜI CHỈ HUY

Bà Kim. Bà còn sống ư? Tên út đâu.

VĂN

Nó không còn nữa.

KIM

Ông cố gắng. Trời sáng sẽ có người đưa ông đến bệnh viện.

NGƯỜI CHỈ HUY

(Gục xuống, tựa lưng vào những bao cát, bên cạnh xác Miên.)

Tôi không chịu nổi… (đụng vào xác Miên) Ông Miên cũng nằm đây sao. . .

KIM

Ông cũng biết Miên nữa sao? Còn Trung đâu?

NGƯỜI CHỈ HUY

Chết rồi.

KIM (Xúc động)

Trung chết rồi? Bị bắn khi rút về?

NGƯỜI CHỈ HUY

Không.

VĂN

Em để cho ông ta nghỉ. Chúng ta chờ sáng.

NGƯỜI CHỈ HUY

Bà Kim, tôi là kẻ bị hạ khi rút lui. Còn Trung thì không vậy. Chúng tôi đã đặt chất nổ phá cầu… (thở khó khăn)

KIM

Rồi sao? Sao Trung chết?

NGƯỜI CHỈ HUY

Chúng tôi cùng bơi tới chân cầu và leo lên gầm. Chúng tôi dùng ngòi nổ chậm để có thì giờ thoát thân. Chính tôi kéo ngòi cho giây cháy. Nhưng khi tôi rút lui thì Trung ở lại.

KIM

(xúc động rõ rệt.)

Trời. Trung ở lại?

NGƯỜI CHỈ HUY

Tôi… không…hiểu… nổi… Trung ở lại để tan xác với cây cầu.

KIM

Trung tan xác với chiếc cầu! Sao vậy. Sao Trung không rút lui. Sao Trung ở lại? Anh Văn, sao vậy?

VĂN (ngậm ngùi)

Trung tự sát.

KIM

Tự sát! Miên chết! Trung chết! Cầu gãy!

VĂN

Bọn họ cùng chết với cây cầu.

KIM (khóc)

Họ chưa đầy ba mươi tuổi.

NGƯỜI CHỈ HUY (rên)

Tôi kiệt sức. Tôi không còn thở nổi. Xin ông thí cho tôi một viên đạn vào đầu.

VĂN (đau khổ)

Ông hãy ráng. Có quá nhiều người chết trong đêm nay rồi.

NGƯỜI CHỈ HUY (rên rỉ)

Bà Kim. Bà Kim. Tôi chẳng thể nào quên bà. (ói máu ra miệng) Bà có nhận ra tôi không?

KIM (khóc lớn tiếng)

Không!

Bà mẹ lúc bấy giờ cũng từ từ ra khỏi hầm, bà nhìn những xác chết rồi kêu lên những tiếng quái dị.

BÀ MẸ:

A! A! A! A!

Văn vứt súng, đến ôm lấy bà mẹ trong lúc bà mẹ càng lúc càng lớn tiếng và càng khích động.

Màn hạ

1969

(Trích Tạp chí Ý Thức số 1 ngày 1 tháng 10 năm 1970)