Chữ Nghĩa Làng Văn

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 337)

Những dị biệt trong Truyện Kiều Truyện Kiều có 7 ấn bản khác nhau…Theo Hoàng Xuân Hãn phải biết tiếng Nôm, nhiều khi gặp tiếng địa phương lại khác nữa, như: Dưới cầu nước chẩy trong veo Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha Thướt tha trong nguyên bản là “tha ra”  có ý

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 336)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ Trong mục Sổ tay một tờ báo “văn học” trong nước có câu: “Những nhà văn, sở dĩ là nhà văn, bởi vì họ biết cách trình bầy thế nào để những điều hết sức dễ hiểu thành rất…khó hiểu”. Hồ Gươm Đời Lý, hồ có tên là Lục

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 335)

Chữ và nghĩa Bạt chữ Hán có hai nghĩa: rút lên, nhẩy qua. Cũng có nghĩa là đoạn viết sau một cuốn sách. Giai thoại làng văn Tô Hoài đặc biệt rất chú ý học chữ. Ông chê nhiều người viết văn bây giờ thiếu chữ và dùng chữ rất ẩu. Nhiều chữ họ không

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 334)

Tiếng Nam… Vào đến trong Nam, tuy không nói ngọng phụ âm đầu từ, song họ lại nói trại phụ âm đầu từ. Cũng như đọc trại những mẫu âm, thay dấu làm thay đổi giọng nói, như: “Nè, ăn Hai, tui qua đây là có chiện”. Hay: “Mèng đéc ơi, thằng chả thiệt dô

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 333)

 “m” Nhiều học giả cho rằng phần lớn các âm tiếng Việt biểu thị một cái gì đó. Như phụ âm “m”, hàm ý nghe rất…êm dịu, thỏai mái, như: Mịn màng, mềm mại, mượt mà, man mát, mơn mởn..v..v.. (Nguyễn Triệu Việt – tạp chí Tân Văn) Xạo luận vui về chữ “Tử”  Chết

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 332)

Về bài Hồ Trường Hồ trường, chữ “hồ” thuộc bộ sĩ nghĩa là cái bầu, bình đựng nước hay rượu. Chữ “trường”, Tầu đọc là “thương”, thuộc bộ giác nghĩa là chén đựng rượu. Trong văn học VN đầu thế kỷ hai mươi có một bài thơ đăng trên Nam Phong tạp chí và ngay

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 331)

Đơn vị đo lường Tiếng Việt tuân thủ cách viết SI (tiêu chuẩn quốc tế). Dấu phẩy (,) dùng để phân chia phần số nguyên với phần số lẻ. (thí dụ, “ông ta cao 1,60 m) Dấu chấm (.) dùng để góp từng ba chữ số trong phần số nguyên cho dễ đọc. (thí dụ, “dân số

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 330)

Chữ nghĩa làng văn III Cầm thử bất cứ một cuốn đặc san nào đó xuất bản ở hải ngoại mà xem. Khỏi cần coi kỹ, chỉ cần đọc tựa của mấy bài viết không thôi là cũng đủ thấy ngậm ngùi, xót dạ và buồn rầu quá cỡ: Quê xưa – chốn cũ, thầy

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 329)

Tiếng Việt cổ Một số chữ Việt có âm đầu “ph”, ngày xưa người Việt đọc là “b“. “Phòng” đọc theo âm tiền Hán Việt là “buông”, từ buông là buồng. “Buồng” nay thành “phòng”. “Phiền” (toái) là buồn, “phọc” là buộc..v..v. (Nguyễn Ngọc San – Cơ sở ngữ văn Hán Nôm). Nguồn gốc tiếng

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 328)

A Di Đà Phật Trong thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu có câu: “Thỉnh ông Phật tổ A-Di Đà”. “A” có nghĩa là vô. “Di Đà” có nghĩa là lượng. A Di Đà Phật là tiếng Phạn, là lời niệm mong khi viên tịch được trở về cõi cực lạc (nguyên nghĩa “vô

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 327)

Nguồn gốc tiếng Việt Về nguồn gốc tiếng Việt, có thuyết cho rằng từ ngàn xưa khi còn là rợ Lạc Việt, tổ tiên ta có một thổ âm giống tiếng Thái. Khi di cư đến châu thổ sông Hồng Hà và miền Bắc Trung Việt ngày nay, thổ âm đó biến thái khi tổ

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 326)

Chữ nghĩa làng văn Hôn phu hôn thê: “Hôn” là cưới, “phu” là chồng, “thê” là vợ. Trong chữ “phu” và chữ “thê” đã có nghĩa của chữ “hôn” rồi, cho nên gọi “hôn phu” và “hôn thê” là để chỉ người chồng người vợ là phi lý. Gọi “hôn lễ” (lễ cưới), “hôn phối”

Đọc Thêm »
Search
Lưu Trữ